YẾU QUYẾT "ĐÀN CHỈ THẦN CÔNG" (Tư Liệu)

(Thuật Đả Huyệt Thông Kinh Mạch)
  
Hệ thống Kinh Mạch Lạc trong Y lý cổ truyền là một hệ thống "kênh rạch mương máng" dày đặc bố trí ngang dọc như mạng lưới ở khắp châu thân để cho khí huyết lưu thông không ngưng nghỉ không gián đoạn bảo toàn sự sống.
 
Hệ thống này bao gồm 12 Chính Kinh 12 Biệt Kinh 12 Cân Kinh 15 Lạc Mạch và 8 Kỳ Kinh Bát Mạch tất cả được nối với nhau qua 365 huyệt vị.
   
( Thiên Kinh Biệt ghi: "Thập nhị Kinh Mạch là nơi con người dựa vào để sống nơi mà bệnh dựa vào để thành nơi mà con người dựa vào để trị nơi mà bệnh dựa vào để khởi lên. Cái học về y bắt nguồn từ đây sự khéo léo của thầy thuốc phải đạt đến" (LKhu 11 3-6).
   
- Thiên Hải Luận ghi: "Thập nhị Kinh Mạch bên trong thuộc vào Tạng Phủ bên ngoài lạc với tứ chi và cốt tiết..." (LKhu 33 1).

- Điều 23 Nan Kinh ghi: "Kinh Mạch là nơi vận hành của khí huyết là nơi để cho khí Âm Dương thông nhau nhằm làm vinh [tươi nhuận] cho cơ thể" (Nan 23 6).

 Dựa vào điểm khiếm khuyết trên các nhà nghiên cứu về kinh lạc đứng trên quan điểm hệ thống thần kinh đã từ chối hệ thống kinh lạc của YHCT với nhận định rằng hệ thống kinh lạc của YHCT chẳng qua chỉ là 1 hình thức nào đó của hệ thần kinh. R.A. Durinhian trong bài Bàn Về Phương Pháp Luận Và Sinh Lý Học Của Vấn Đề Huyệt Kinh Lạc Và Năng Lượng Trong Phản Xạ Liệu Pháp đăng trong tài liệu Lý Thuyết Và Thực Hành Phản Xạ xuất bản năm 1981 có ghi: "Hiện nay rất nhiều các chuyên gia cả ở Châu Âu lẫn Châu Á có 1 quan điểm là: các kinh tuyến (các đường kinh lạc) là sự quy ước hoàn toàn là 1 khái niệm chức năng giống như 1 quan niệm về hình thái học. Nó không tồn tại và không thể tồn tại vì sự hiện diện của chúng không cần thiết cho 1 cái gì cả...". Giáo sư M. Rouvière giáo sư nổi tiếng về giải phẫu của trường đại học y khoa Paris đã có lần chủ trì để nhà giải phẫu Perreti Della Rocca mổ xác chết để xem các đường kinh có tồn tại thực không. Sau đó Rouvière đã tuyên bố thẳng thừng là hệ kinh lạc là sản phẩm của trí tưởng tượng Đông phương chứ trong thực tế không có trong cơ thể.

- Tykochinkaia Ounsova Novinsk (Liên Xô) và Chu-Liễn (Trung Quốc) cho thấy: đường đi của các kinh mạch cách chung phù hợp với các đường đi của các dây thần kinh và mạch máu lớn...
 
Như vậy các tác giả theo chiều hướng thần kinh học cho rằng không có hệ thống kinh lạc mà kinh lạc chính là hệ thống thần kinh đứng ở 1 góc độ khác.
  
Tuy nhiên đầu năm 1986 tại Pháp bác sĩ Jean Claude Barras và các nhà nghiên cứu viện y học Neker đã chụp được các đường kinh lạc bằng 1 máy điện tử đặc biệt. Các nhà y học tiêm vào 1 số huyệt 1 dung dịch chứa Tecnetic (1 chất hoá học có tính phóng xạ). Máy ảnh bắt được những tia Gamma phát ra từ chất này. Qua đó người ta thấy: sau khi tiêm vào các huyệt dung dịch chứa chất Tecnetic trên đã lan toả theo những kinh phần nào trùng hợp với những đường kinh được mô tả trong các sách châm cứu xưa. Ngược lại nếu tiêm vào 1 điểm (huyệt) khác trên cơ thể thì dung dịch chỉ tụ lại 1 chỗ không hề lan toả. Đáng chú ý là các nhà y học đã xác định được rằng các kinh châm cứu chụp ảnh được hoàn toàn không tương ứng với đường đi của các mạch máu đường gân hoặc đường dây thần kinh. theo các nhà y học này thì đó là các Kinh chức năng chạy theo những đường mà cho đến nay khoa học chưa hề biết.
 
Khám phá trên của các nhà y học Pháp đã tạo nên 1 tiếng vang rất lớn và đã nêu lên được vai trò của kinh lạc 1 hệ thống biệt lập với đầy đủ vai trò và chức năng của nó trong lãnh vực y học.
  
Trên Cơ Sở Nào Người Xưa Có Được Các Kết Luận Về Hệ Kinh Lạc?
 
Chưa có tài liệu nào chắc chắn để biết rõ người xưa đã dựa trên cơ sở nào để tìm ra hệ thống Kinh Huyệt. Tuy nhiên trải qua suốt quá trình hình thành các học thuyết cơ bản của YHCT có thể nhận thấy rằng phương pháp chủ yếu mà người xưa dùng để nhận thức sự vật thường là phương pháp quy nạp tức là dựa trên các sự kiện này sự kiện khác... rồi tổng hợp lại. Như vậy việc hình thành các đường kinh mạch có thể diễn ra như sau:
 
- Quan sát nơi những người được châm kim thấy có những cảm giác được truyền cách này hoặc cách khác trong cơ thể. Dựa theo cảm giác chủ quan hoặc qua sự mô tả của người bệnh từ đó hình thành và đúc kết nên được 1 hệ thống Kinh Lạc.
 
- Dựa theo quan niệm Thiên Nhân Hợp Nhất theo đó con người là bản sao nhỏ của trời đất (tiểu thiên địa) luôn ứng với cơ cấu của Trời và đất. Có thể thấy rõ trong thiên Kinh Biệt như sau: "Hoàng Đế hỏi: Ta nghe rằng con người hợp với thiên đạo bên trong có ngũ tạng để ứng với ngũ âm ngũ sắc ngũ thời ngũ vị bên ngoài có lục phủ để ứng vớilục luật lục luật để kiến nên các kinh Âm Dương để hợp với thập nhị huyệt thập nhị thần thập nhị tiết thập nhị kinh thủy thập nhị thời thập nhị kinh mạch... (LKhu 11 1-3). Như vậy theo ý Hoàng Đế (đại diện cho giới tìm hiểu) thì sở dĩ có 12 (thập nhị) kinh mạch là để ứng với trời đất. Điều này được minh giải rất rõ qua câu trả lời của Bá Cao trong thiên Tà Khách khi Hoàng Đế hỏi: Thiên hình tròn đất hình vuông thì đầu con người cũng tròn chân con người cũng vuông để ứng theo... Địa có 12 kinh thủy con người có 12 kinh mạch ứng theo..." (LKhu 71 16 31). Hoặc thiên Âm Dương Nguyệt Lệnh ghi: " Từ thắt lưng trở lên thuộc về thiên từ thắt lưng trở xuống thuộc về địa. Cho nên thiên thuộc Dương địa thuộc Âm vì vậy 12 kinh mạch của túc ứng với 12 nguyệt..." (LKhu 41 2).
 
Khi chú giải điều I sách Nan Kinh:
 
- Đinh-Đức-Dụng chú: "...Như vậy phàm tả hữu thượng hạ đều có khí của tam âm và tam dương hợp lại thành 12. Vì thế cho nên trong thân thể con người cũng có 12 kinh để chủ về các phần của tả hữu thượng hạ...".
 
- Dương-Huyền-Tháo chú: "Phàm nơi con người hữu thủ và lưỡng túc đều có tam âm mạch và tam dương mạch hợp lại thành 12...".
  
Chú giải Nan thứ 23 Dương-Huyền-Tháo viết: “ Kinh Mạch 12 Lạc Mạch 15 gồm 27 khí nhằm lấy phép ở 3 lần 9: Thiên có 9 tinh Địa có 9 châu Nhân có 9 khiếu”...
  
Như vậy việc hình thành hệ thống kinh mạch của người xưa dựa trên lối tỉ suy luận (suy luận theo cách so sánh) và dựa trên đúc kết các quan sát.
   
Khi nêu lên nhận xét về quá trình hình thành hệ kinh lạc của người xưa R.A Durinhian trong tài liệu Lý Thuyết Và Thực Hành Phản Xạ Liệu Pháp đã nhận định như sau: "Để đánh giá đúng đắn về học thuyết này (tại sao người xưa đề ra hệ thống kinh mạch) cần nhớ lại thời đại lịch sử khi nó ra đời nhớ lại trình độ nhận thức và truyền thống những đặc điểm về chính trị kinh tế triết học của thời đại của nhân dân trong thời kỳ xa xưa đó...Vì vậy tất cả những gì đạt được của lý thuyết châm cứu trong thời đại đó chỉ là những kết quả của những quan sát bên ngoài dựa trên cơ sở những đánh giá chủ quan của người bệnh...Có điều những tư tưởng lý luận để giải thích các phương thức đó không dựa trên bất kỳ 1 cơ sở số liệu khách quan nào ngoài quan sát bên ngoài... Nó nói lên tính chất phiến diện chủ nghĩa của thời đó...".
   
Y học hiện đại đã tìm cách giải thích cơ cấu của hệ kinh lạc dưới nhiều khía cạnh khác nhau ở đây chỉ ghi lại 1 số quan điểm chính có giá trị cao:

+ Từ năm 1960 học viện y học Vũ Hán (Trung Quốc) cho hệ kinh lạc là 1 hệ thông tin của cơ thể trong đó huyệt là nơi thu và phát tin tức. Châm cứu là 1 khâu cung cấp tin chọn huyệt và thủ thuật châm là dạng chất lượng tin đắc khí là dấu hiệu tiếp thu tin tức tốt.
 
- Ngành điều khiển học cho rằng kinh lạc là những đường dẫn truyền tin tức dưới các dạng năng lượng khác nhau. Các thông tin được xử lý trong hộp đen (Black box) từ đó truyền ra các mệnh lệnh thông với các nơi bệnh.
 
- Năm 1972 tại Hội Nghị Châm Cứu Địa Trung Hải Darras (Pháp) cho rằng hệ kinh lạc là những giải nước iôn hoá các đường iôn hoá bao phủ khắp cơ thể đã tạo nên 1 hệ tự điều chỉnh. Vì thế sự can thiệp của thầy thuốc lên huyệt châm cứu có thể có khả năng có tác dụng và hiệu lực hoá khi có 1 rối loạn chức năng xảy ra cho hệ kinh lạc.
 
- Năm 1973 Court Puyen (Pháp) cho rằng mọi kích thích bình thường liên tục tác động trên cơ thể sẽ nhanh chóng tự triệt tiêu khi thông qua sự biến đổi của Ngũ hành cơ thể luôn giữ được thế quân bình trong 1 môi trường sống không ngừng biến đổi. Sự điều chỉnh này không thể thông qua hệ thần kinh vì tốc độ dẫn truyền của hệ thần kinh quá nặng nề và chậm chạp so với yêu cầu về tự điều chỉnh những kích thích luôn tác động lên cơ thể.
 
- Hệ Thống Kinh Lạc Theo Sinh Lý Thần Kinh: R. A. Durinhian dựa vào phản xạ liệu pháp cho rằng sự vận chuyển trong kinh lạc chủ yếu là do hệ thần kinh vận động. Theo ông sự phân bố của các đường kinh bắt đầu ở các chi và kết thúc ở vùng đầu mặt hoặc ngược lại. Tác dụng mạnh nhất của các đường kinh lạc cụ thể là các huyệt lại mạnh nhất ở điểm đầu hoặc điểm cuối. Tại sao có sự kiện trên chính là do sự phân bố dây thần kinh ở các vùng đó nhiều hơn các vùng khác. Các chi ở người các ngón tay bàn tay có nhiều khối lượng tế bào hơn do đó sự nhậy cảm nhiều hơn và vì thế nó điều khiển những hoạt động chính xác hơn so với khối lượng đòi hỏi để điều khiển những hoạt động của các cơ bắp phần thân dù phần thân chiếm diện tích nhiều hơn hàng trăm lần so với ngón tay. Ở bán cầu đại não vùng chức năng của các ngón tay chiếm vị trí lớn hơn so với vùng chức năng của phần thân. Và phần mặt cũng chiếm 1 vị trí đáng kể nhất là vùng chung quanh miệng... Khi kích thích các huyệt ở vùng tay chân đặc biệt ở các vùng riêng biệt hoặc là ở vùng đầu mặt sẽ kích thích 1 khối lượng lớn hơn các tế bào thần kinh hoạt động so với khi kích thích các huyệt ở vùng thân bụng ngực"- Phần này trích dẫn từ nhiều nguồn - TN)
  
Tất cả 12 Chính Kinh 12 Biệt Kinh 15 Lạc Mạch 8 Kỳ Kinh Bát Mạch và 12 Cân Kinh cùng 365 huyệt đều có các biện chứng Y thuật riêng biệt. Như cấu trúc vận hành vị trí và đường luân chuyển. Cũng như có biện chứng về Triệu Chứng và Nguyên Tắc trị liệu riêng biệt cho từng Kinh Lạc Mạch Huyệt Vị.
  
Và hầu như tất cả các nguyên lý riêng biệt cho từng loại KINH LẠC MẠCH đều lấy 12 Chính Kinh làm Cơ cở  để hình thành và phát triển ra nhiều khoa Châm Cứu khác nhau.
 
Trong các nguyên lý cổ truyền về Châm Cứu Học thì CÂN KINH được giới Y Học đặc chú ý. Và từ cơ sở của Cân Kinh đã phát triển thành nhiều Trường Phái Châm Cứu khác nhau.
 
Có rất trường phái Châm Cứu Hiện Đại lấy Cân Kinh làm cơ sở nồng cốt để hình thành nguyên lý đã được ứng dụng rộng rãi ở trên toàn thế giới.
 
Các trường phái lấy Cân Kinh làm cơ sở bao gồm:
 
1- Nhĩ Châm của Pháp (Châm loa tai)
2- Thủ Châm của Đại Hàn (Châm bàn tay)
3- Diện Châm của Việt Nam (Châm mặt)
4- Châm Tê của Việt Nam (Châm gây tê)
5- Bì Phu Châm của Trung Quốc (Châm dưới da)
6- Trường Phái Châm Penzel của Đức (Hoạt kinh mạch bằng đầu bi)
   
Và gần đây một số chuyên gia Châm cứu Châu Âu đã kết hợp giữa Châm Cứu Penzel và Thái âm chân khí liệu pháp để hình thành một trường phái Châm Cứu mới gọi là "Liệu Pháp Sinh Khí".
   
Liệu Pháp Sinh Khí lấy vòng Đại Chu Thiên Chân Khí của 12 CÂN KINH và vòng Thái Âm Chân Khí làm Nguyên Tắc Trị Liệu và ứng dụng Thủ Pháp của thuật Điểm Huyệt cổ truyền cùng Thủ Pháp của Trường phái Penzel để đả thông kinh mạch phòng chống bệnh tật. Đặc biệt là trong thủ pháp Chống Đau Nhức (Schmerzentherapie).
 
(Kỹ thuật Châm Cứu "Liệu Pháp Sinh Khí"  không dùng Kim và không dùng thêm một liệu pháp vật lý nào nữa khác ngoài "Chỉ Lực" của ngón tay. Chỉ có sự trợ giúp thêm của chiết xuất thảo dược bôi lên huyệt và đường kinh và đầu bi kéo ấn lên kinh mạch khi "chỉ lực"  của người Thầy thuốc chưa đủ "công lực" mà thôi.  Nên tôi tạm gọi đây là môn "Đàn Chỉ Thần Công". Vì nó hao hao giống môn võ công thượng thừa của Đảo Chủ Đào Hoa Đảo Hoàng Dược Sư trong pho chuyện nổi tiếng của Kim Dung: Thần Điêu Đại Hiệp)
   
Vậy  CÂN KINH là gì mà nó có một ảnh hưởng rất vượt trội các nguyên lý Châm Cứu khác đến khoa Châm Cứu Học hiện đại. Và tại vì sao Châm Cứu hiện đại dựa vào nó để hình thành các trường phái Châm Cứu mới. Và các trường phái này lại nhanh chống chinh phục được giới Y Học Quốc Tế thậm chí nó còn chiếm độ tin cậy cao hơn Châm Cứu cổ truyền vì thành tựu và kết quả trị liệu của nó.
 
Bây giờ chúng ta hãy tìm hiểu về Cân Kinh một trong những "yếu quyết" cực kỳ quan trọng của thuật "Đàn Chỉ Thần Công"
 
1)  Khái Niệm:

- Gọi là Cân (gân cơ) Kinh “Vì các đường kinh này đi ở gân (cân) thịt ngoài cơ thể vì vậy gọi là ‘Kinh Cân’ (Trung Y Học Khái Luận). Có nghĩa Cân Kinh là đường chuyển vận sinh khí nằm phía ngoài bì phu chạy qua các hốc khớp xương và nơi có các đốt xương cũng như hệ thống gân cơ nối lại với nhau
 
- Kinh Cân là 1 bộ phận của hệ thống kinh lạc mạch nơi mà kinh kinh khí của 12 Kinh mạch giao hội phân tán và liên hệ với cơ khớp. Có thể nói Kinh Cân là hệ gân cơ chủ về sự vận động di chuyển của cơ thể đồng thời là nơi tiếp nhận trực tiếp các dao động và chuyển dịch của tà khí bên ngoài vào tạng phủ (Châm Cứu Học Thượng Hải).
 
- Tên gọi của Kinh Cân cũng giống tên của Kinh Chính chỉ khác là thêm chữ Cân ở bên cạnh chữ Kinh mà thôi. Thí dụ: Thủ Thái Dương Cân Kinh Tiểu Trường Túc Dương Minh Cân Kinh Vị Thủ Thái Âm Cân Kinh Phế. Hoặc là : Cân Kinh Thủ Dương Minh Cân Kinh Túc Quyết Âm. Cũng có khi gọi ngược lại Thủ Quyết Âm Cân Kinh Túc Thái Dương Cân Kinh....
 
- Đặc điểm chủ yếu của kinh Cân đầu tiên là vượt ra ngoài công năng và tổ chức của hệ thống kinh lạc đi phía ngoài cơ thể (Trung Y Học Khái Luận).


2- Vận Hành Của Kinh Cân
- Kinh Cân thông thường vận hành từ tay chân lên thân mình cổ đầu và phân bố chủ yếu tập trung ở chân tay thân khoang bụng và ngực.
 
- Kinh Dương đi ở mặt ngoài kinh Âm đi ở mặt trong chân tay đi vào khoang bụng ngực nhưng không đi vào Tạng Phủ (khác với 12 Kinh Chính thì ở cả trong lẫn ngoài và khác với kinh Biệt là chú trọng ở Tạng Phủ).
 
- Nếu theo đường vận hành của kinh Cân từ chỗ bắt đầu cho đến chỗ chấm dứt thì kinh Cân đa số bắt đầu từ đầu ngón tay ngón chân đi qua những chỗ khớp xương cổ tay khủy tay nách vai mắt cá đầu gối đùi háng rồi sau đó chia ra ở ngực lưng cuối cùng đến đầu và mình (khác hẳn với sự bắt đầu và chấm dứt hoặc lên hoặc xuống của 12 Kinh Chính cũng như khác với kinh Biệt ở chỗ Kinh Biệt bắt đầu từ khủy tay đầu gối trở lên).
 
- Theo thiên ‘Kinh Cân’ - Sách Linh Khu phổ 13 thì:
 
- Kinh Cân của 3 kinh Dương ở chân giao hội ở xương gò má (lưỡng quyền)
 Vùng huyệt Tứ Bạch  huyệt thứ 12 của Kinh Vị
 
- Kinh Cân của 3 kinh Âm ở chân giao hội ở bộ phận sinh dục. Vùng huyệt Khúc Cốt - huyệt thứ 2 của Nhâm Mạch
 
- Kinh Cân của 3 kinh Dương ở tay giao hội ở chỗ nhọn nhô ra hai 2 bên đầu. Vùng huyệt Bản Thần huyệt thứ 13 của Đởm Kinh
 
-  Kinh Cân của 3 kinh Âm ở tay giao hội ở hông ngực. Vùng huyệt Uyên Dịch là huyệt thứ 22 của Đởm kinh
 
Như vậy đường vận hành của kinh Cân khác với: 12 kinh Chính ở chỗ 12 kinh Chính dựa theo sự lưu chuyển của Âm Dương thủ túc mà tạo nên sự tuần hoàn chỉnh thể.
 
Khác 12 kinh Biệt ở chỗ kinh Biệt dựa vào sự ra - vào ly - hợp của 2 kinh Biểu Lý với nhau.

3- Biểu Hiện Bệnh Lý Của Kinh Cân

- Kinh Cân có nhiều nhánh nhỏ gọi là Tôn Lạc ở ngoài da (Sách Tố Vấn 56 9). Khi tà khí từ bên ngoài xâm nhập vào Tôn Lạc rồi vào kinh Cân. Nếu Vệ khí suy thì tà khí sẽ chuyển vào kinh Chính và Tạng Phủ. Tiến trình này không nhất định xảy ra mà còn tùy thuộc vào Vệ khí. Nếu Vệ khí trong kinh Chính mạnh thì tà khí chỉ ở kinh Cân đôi khi chỉ gây rối loạn ở cơ xương chứ không ảnh hưởng đến Tạng Phủ.

- Vì kinh Cân ở phần bên ngoài (vệ) liên hệ nhiều đến gân cơ vì vậy khi tà khí xâm nhập vào kinh Cân thì phần gân cơ chịu ảnh hưởng nhiều nhất gân cơ chủ sự chuyển động do đó biểu hiện bệnh lý cách chung của kinh Cân là gân cơ đau nhức và co rút hoặc mềm nhão (chi tiết bệnh lý: xin xem ở mục Triệu Chứng của từng đường kinh).

4- Tác Dụng Của Kinh Cân
 
Tác dụng của kinh Cân là sắp nối các xương với nhau tham gia duy trì sự liên lạc toàn thân (Châm Cứu Học Thượng Hải).
 
Sách Trung Y Học Khái Luận giải thích: “ ...Có 1 số vùng bệnh vượt khỏi phạm trù của Kinh Chính và kinh Biệt cùng 1 tên mà khác kinh nhưng lại trị được bệnh như nhau. Thí dụ: huyệt Hợp Cốc (kinh Đại trường số 4) Dương Cốc (Kinh Tiểu trường số5) của kinh thủ Dương Minh và Thủ Thái Dương đều có thể trị đầu đau đó là vì kinh Cân thủ Dương Minh và thủ Thái Dương có thể ‘lên góc trán bên trái liên lạc với đầu xuống cằm bên phải”
  
Chứng trạng chủ yếu của Cân Kinh là đau nhức cộng với co rút tê buốt hoặc mềm nhão bại xuội.
  
Đây cũng là yếu tố cơ bản để thủ pháp"Đàn Chỉ Thần Công" (Đả Huyệt Thông Kinh Mạch) có tác dụng rất hiệu quả trong việc chống đau nhức phong-tê thấp cũng như bại liệt

Muốn dụng được thuật Đả Huyệt Thông Kinh Mạch cần phải nắm vững các đường vận hành của 12 Cân Kinh và cơ chế triệu chứng bệnh trong từng Cân Kinh. Các mối liên hệ với các Cân Kinh khác các Giao Hội Huyệt Tôn Lạc cũng như Tiểu Chu Thiên Cân Kinh Đoạn Chu Thiên Cân Kinh. Đặc biệt là cần phải nắm rõ thời điểm nào thì Cân Kinh nào chính vượng thời điểm nào thì suy hư..v..v.. Mời các bạn quan tâm xem những nguyên lý này ở phần tiếp theo.
 
23.03.11
Sưu Tầm và Biên Soạn QN - Lê Thuận Nghĩa

 

Vo Minh

Học hỏi

Thưa Thầy,

Em cảm ơn bài viết của Thầy.

Hiện nay em đang tự tìm hiểu về lĩnh vực này nhưng không biết bắt đầu từ đâu.

Em định đi học khóa y sỹ YHCT ở TP.HCM (ngắn hạn vì công việc của em là văn phòng) nhưng không biết nên học ở đâu, nếu thầy biết có thể chia sẻ cho em được không ạ? (Em có tìm hiểu trên mạng nhưng không biết ở chỗ đó ngta dạy để học viên lấy chứng chỉ hay để biết :) )

Em đọc các bài viết của Thầy thấy rất thú vị nhưng vì em không có căn bản nên không thẩm thấu hết. Thầy có thể chia sẻ cho em một số cuốn sách cho người không biết gì như em tìm hiểu được không ạ? 

p/s: Hôm bữa em có tham gia buổi trà đàm của thầy mà lúc về đông quá không cảm ơn Thầy được . hihi. 

Cảm ơn Thầy nhiều ạ :)

Lotta

Heckuva good job. I

Heckuva good job. I sure apcrapiete it.

Jeannie

Fidinng this post. I

Fidinng this post. It's just a big piece of luck for me.

thuannghia

Trong hoạ pháp Trung Hoa xưa gọi là “Dĩ hình tả thần”. Ngày nay ta tiếp thu học thuyết kinh lạc theo phương pháp nhờ hình của nó để mà tiếp thu cái thần của nó. Không nệ vào hình để rồi phạm phải sai lầm đi tìm cái hình ở trong cái hình.
Trần Minh Tiến | 23/03/2011 23:43
___
Hình như nó còn phụ thuộc vào Ngộ Tánh nữa bởi nhiều khi rất trái khoáy. Có rất nhiều Y thuyết giữa ta và Tàu hoàn toàn trái ngược nhau. Nghe nói sách Y của Tàu bị viết ngược lại rồi đấy.
TN

Trần Minh Tiến

Trên Cơ Sở Nào Người Xưa Có Được Các Kết Luận Về Hệ Kinh Lạc?

Chào LY Thuận Nghĩa!
Em là một người rất yêu thích môn châm cứu sau một thời gian em tìm hiểu & ngộ ra một vài điều mong bác chỉ dậy.
Sự hình thành học thuyết kinh lạc có đường nét trên hình vẽ có đường nét trên tượng người bằng đồng là do người Trung Quốc có truyền thống “tư duy hình tượng” mượn hình vẽ để diễn tả & để dễ tiếp thu tinh thần nội dung. Trong hoạ pháp Trung Hoa xưa gọi là “Dĩ hình tả thần”. Ngày nay ta tiếp thu học thuyết kinh lạc theo phương pháp nhờ hình của nó để mà tiếp thu cái thần của nó. Không nệ vào hình để rồi phạm phải sai lầm đi tìm cái hình ở trong cái hình.