HỎA XA LUẬN (Phần 5- Bàn về Đau Nhức)

By Lê Thuận Nghĩa


Cho dù bất kỳ ở thời gian nào từ nhiều ngàn năm nay bệnh Phong Thấp cũng đều được coi là "căn bệnh của thế kỷ". Cho đến hôm nay là những thập niên đầu của thế kỷ thứ 21 cho dù thế giới Y khoa có nhiều những đột biến vĩ đại trong "công nghệ" bảo vệ sức khoẻ và kéo dài tuổi thọ cho con người nhưng bệnh Phong Thấp vẫn được dự đoán là căn bệnh gây nhiều phiền hà nhất cho đời sống của cư dân trên trái đất. Và người ta đã tiên liệu cho đến cuối thế kỷ này căn bệnh này vẫn chưa có được những đột phá khả quan trong việc chống lại nó. Ngược lại người ta còn dự đoán bệnh Phong Thấp còn trở nên tồi tệ hơn vào những thập niên giữa thế kỷ.
 
Theo dự kiến của Trung Tâm Phòng Chống Dịch Bệnh số người mắc bệnh phong thấp tại Hoa Kỳ sẽ tăng lên tới gần 67 triệu người trước năm 2030 trong số này 25 triệu người sẽ gặp nhiều khó khăn trong sinh hoạt hàng ngày do tình trạng bệnh gây ra. Tổn phí hàng năm của bệnh phong thấp lên tới 128 tỉ đôla. . Nước Đức thì dự đoán có khoảng 55 triệu người Đức bị bệnh này trước năm 2020. Một phúc trình khác nói rằng cứ 100 người thì lại có ít nhất một người bị bệnh phong thấp với tỷ lệ phụ nữ mắc bệnh cao gấp 3 lần nam giới. Tuy chưa rõ nguyên nhân gây bệnh các nhà khoa học tin rằng nó có liên quan tới hệ miễn dịch và do đó đang nghiên cứu hệ thống này để tìm một phương pháp điều trị tốt hơn.

Triệu chứng thường gặp nhất ở người bị phong thấp là đau nhức các khớp từ mắt cá chân đến đầu gối cột sống lưng cổ gáy đến những khớp ngón chân ngón tay có thể viêm sưng nóng đỏ đau hoặc không có thể khu trú ở khớp xương hoặc lan toả tới da thịt gân cơ trong ống xương tuỷ xương khắp cơ thể.
 
Những triệu chứng đầu tiên của bệnh Phong Thấp Ðau Khớp hoặc viêm khớp là cảm thấy cứng ở các đầu khớp xương. Khi bệnh tiến triển thêm nữa chúng ta sẽ cảm thấy đau ở các khớp xương khi phải xử dụng vận động các khớp xương này; nắn chung quanh các khớp xương sẽ thấy đau có khi bị sưng cử động các khớp xương bị hạn chế nhiều khi phát ra tiếng kêu răng rắc trong khớp xương. Thường thì khớp xương nào cũng có thể bị ảnh hưởng nhưng phần lớn bệnh Phong Thấp Ðau Khớp ảnh hưởng tới các khớp xương tay vai đầu gối xương chậu và đặt biệt nhất là trên xương sống. Chụp quang tuyến (X-Ray) sẽ tìm ra khớp xương bị nhỏ hẹp lại sụn ở khớp xương bị ăn mòn (cartilage erosion) hoặc xương bị mọc nhánh (bone spurs).

Nguyên nhân chính đưa đến bệnh Phong Thấp Ðau Khớp là lớp sụn ở khớp xương bị thoái hóa và ăn mòn thiếu chất nhờn ở các khớp xương điều này tạo nên đau nhức khi cử động hoặc vận động. Tình trạng này là do lớn tuổi các tế bào bị suy thoái ảnh hưởng nhất là các tế bào ở đầu khớp xương để tạo chất sụn và chất nhờn ở đầu khớp xương (sụn ở khớp xương được cấu tạo như một lớp đệm giữa hai đầu khớp xương để tránh va chạm khi cử động còn chất nhờn ở trong khớp xương giúp cho trơn trượt dễ dàng khi chúng ta cử động). Lao động nặng về thể chất lúc còn trẻ bị tai nạn như đụng xe ngã té bong gân hoặc thiếu dinh dưỡng cũng dễ đưa tới tình trạng Phong Thấp Ðau Khớp.


 
Có tới hơn 100 loại sưng khớp xương gây ra đau nhức và tàn tật cho hằng trăm triệu người.
   
Trong những loại bệnh sưng khớp này thì bệnh phong thấp Rheumatoid Arthritis (gọi tắt là RA) là bệnh nặng nhất gây ra đau nhức khớp xương rất nhiều và dần dần làm biến dạng các khớp xương này khiến bệnh nhân không sử dụng tay chân được đến nỗi những cử dộng thông thường nhất như mở nắp hộp hay đi đứng cũng rất khó khăn. Có tới hơn hai triệu người Mỹ đang bị phong thấp RA. 7 triệu người Tây Âu cũng có chung số phận như vậy. Bệnh này xẩy ra ở đàn bà nhiều hơn đàn ông và thường bắt đầu vào khoảng tuổi từ 20 tới 50 nhưng cũng có thể xẩy ra ở trẻ nhỏ và người lớn hơn 50.
 
Bệnh phong thấp RA thường xẩy ra ở nhiều khớp xương cùng lúc. Khi mới bị bệnh các khớp xương ở cổ tay bàn tay bàn chân và đầu gối thường bị hơn cả. Theo với thời gian các khớp vai khuỷu tay háng cằm và cổ có thể bị ảnh hưởng. Cả hai bên cơ thể thường bị cùng lúc.
 
Nơi những điểm dễ va chạm nhất (pressure points) của khớp xương ở khuỷu tay bàn tay và bàn chân hay dây gân gót chân Achille có thể nổi lên những cục u nhỏ gọi là cục phong thấp. Các cục u này cũng có thể mọc ở các khớp xương khác ngay cả trong phổi nữa. Những cục u này có thể nhỏ bằng hạt đậu nhưng cũng có thể lớn bằng quả ổi nhỏ nhưng không gây đau đớn gì cả.
 
Bệnh phong thấp RA đặc biệt có thể gây viêm các tuyến nước mắt tuyến nước bọt màng tim và phổi phổi và ngay cả các mạch máu. Đây là một bệnh kinh niên có lúc thuyên giảm có lúc nặng lên. Không có cách chữa cho hết hẳn bệnh này nhưng nếu biết cách dùng thuốc và những phương tiện bảo vệ các khớp bệnh nhân vẫn có thể sống cuộc đời hạnh phúc và lâu dài.
  
Nguyên nhân
Bệnh phong thấp RA gây ra do màng lót các khớp xương bị sưng lên khiến tiết ra một chất đạm làm màng này ngày càng dầy lên. Chất đạm này cũng phá hoại lớp sụn xương gân và dây chằng nơi khớp. Dần dần khớp xương bị dị dạng méo mó và có thể bị phá hủy.
  
Tại sao các màng lót bị sưng lên? Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng nhiễm trùng là nguyên nhân và một số người có những gien di truyền khiến họ dễ bị nhiễm trùng.   
Một số các nhà nghiên cứu khác cho rằng kích thích tố có thể đóng một vai trò trong việc gây ra bệnh phong thấp RA.
 
Những yếu tố khác có thể làm một người dễ mắc bệnh RA là: tuổi già phái nữ hút thuốc lá.

Biến chứng
Bệnh phong thấp RA gây ra cứng đau khớp xương và mệt mỏi. Dần dần bệnh nhân khó có thể làm những việc dù thông thường nhất như cầm cây bút vặn nắm cửa...Bệnh nhân có thể bị trầm cảm do việc này. Bệnh nhân RA cũng dễ mắc bệnh sưng khớp và xương (osteoarthritis một dạng bệnh phong thấp khác) và bệnh tim...
 
Cách chữa
Thuốc:
Làm bớt đau và ngăn sự tiến triển của bệnh. Gồm có: thuốc chống viêm NSAIDs COX 2 inhibitors Steroids DMARDs IL 1 Ra thuốc chống miễn nhiễm TNF blockers thuốc chống trầm cảm...

Tất cả bệnh nhân bị phong thấp cấp cần nằm nghỉ tại giường hoặc nằm bệnh viện để được khám hàng ngày nhằm phát hiện kịp thời các triệu chứng viêm tim xảy ra trong 2 tuần đầu. Khi theo dõi cần chú ý phát hiện diễn tiến ở khớp tim có to thêm không và mạch có nhanh lên không: đó là các triệu chứng bệnh nặng thêm. Tùy theo mức độ của bệnh mà bác sĩ có chỉ định dùng thuốc như:
- Pénicilline
- Erythromycine (nếu dị ứng pénicilline)
- Aspirine
- Corticoid
...
 
Giải phẫu:
Lọc máu: lấy bớt những kháng thể làm viêm và đau khớp.
Giải phẫu thay khớp : khi khớp xương đã bị phá hủy quá nhiều giải phẫu thay khớp có thể tái tạo chức năng của khớp và làm giảm đau.
 
Ngoài những cách chữa bệnh do bác sĩ thực hiện kể trên bệnh nhân cũng cần biết cách tự săn sóc bệnh của mình khiến giúp cho cuộc sống bớt khó khăn cũng như ngăn chặn sự tiến triển của bệnh.

1. Tập thể dục thường xuyên: bệnh nhân cần hỏi bác sĩ hay nhân viên thể lý trị liệu về những thể dục nào thích hợp và cần thiết.
2. Giữ không lên cân nhiều: số cân dư sẽ làm cho các khớp xương phải chịu sức ép nhiều hơn và dễ bị phá hoại hơn.
3. Ăn uống đúng cách: ăn nhiều rau trái cây và ngũ cốc nguyên hạt
4. Tắm nước nóng hay dùng bình nước nóng đặt lên các khớp để giảm đau thư giãn các bắp thịt và tăng máu đến khớp.
5. Dùng sức lạnh khi bệnh tăng lên: lạnh làm cho giảm đau làm tê và giảm co thắt bắp thịt. Nếu bệnh nhân đang bị tê và máu lưu thông không tốt không nên dùng sức lạnh.
Tập những phương pháp thư giãn: thôi miên thở sâu thư giãn bắp thịt.
6. Uống thuốc đầy đủ theo lời dặn của bác sĩ.
7. Giữ thái độ lạc quan: cùng với bác sĩ sắp đặt trước những gì cần làm để chống lại cơn bệnh. Việc này sẽ làm cho bạn lạc quan vì mình chủ động trong việc đối phó với căn bệnh.
8. Dùng những dụng cụ giúp mình vận động: thí dụ như những đồ ràng đầu gối gậy chống ràng bàn tay...Nói chuyện với bác sĩ về những dụng cụ này.
9. Không làm quá sức mình: nghỉ ngơi khi cần
 
Những cách chữa khác
Bệnh nhân phong thấp RA có thể muốn dùng thử những phương cách chữa trị khác như châm cứu thuốc Bắc thuốc dùng thêm như glucosamine chondroitin sulfate... nam châm...Tuy nhiên nên nhớ rằng những phương pháp này không được theo dõi và kiểm chứng đầy đủ. Do đó bệnh nhân phải cẩn thận tìm cho đúng thầy đúng thuốc không nên dùng bừa bãi.
  
Một số phát hiện mới:
Một loạt các yếu tố đã được thẩm định như có nguy cơ gây bệnh phong thấp gồm có: tiếp xúc với một số hormone vi khuẩn thói quen hút thuốc và các yếu tố có liên quan tới chế độ ăn uống vv... nhưng cho tới nay các yếu tố này chưa được xác định một cách chắc chắn.
 
Trong các yếu tố môi trường đã được xem xét bằng cớ rõ rệt nhất có lẽ là tương quan giữa hút thuốc và bệnh phong thấp đa số các cuộc nghiên cứu về yếu tố rủi ro này đều liên kết thói quen hút thuốc với thời điểm phát bệnh.
 
Các kết quả nghiên cứu sơ khởi cũng phát hiện rằng nguy cơ mắc bệnh phong thấp giảm nơi những phụ nữ uống thuốc ngừa thai nhưng nhiều cuộc nghiên cứu chi tiết hơn sẽ phải được thực hiện trước khi xác định kết quả nghiên cứu này. Ngoài ra các phụ nữ chưa hề sinh con có nguy cơ mắc bệnh cao hơn đôi chút so với các phụ nữ có con.
 
Và các cuộc nghiên cứu mới thực hiện cho rằng bệnh phong thấp ít xảy ra hơn nơi các phụ nữ cho con bú sữa mẹ tương phản hẳn với kết luận của các cuộc nghiên cứu trước đây nói rằng các phụ nữ cho con bú sữa mẹ có nguy cơ mắc bệnh phong thấp cao hơn.
 
Mới đây có dấu hiệu cho thấy một loại thuốc có triển vọng chận đứng sự tiến triển của bệnh hoặc ngay cả đảo ngược các hệ quả của bệnh phong thấp.
 
Các nhà nghiên cứu giải thích rằng hệ miễn dịch gồm những tế bào có chức năng bảo vệ cơ thể chống vi khuẩn và các tác nhân gây nhiễm khác dường như lại tấn công chính cơ thể của bệnh nhân.
 
Ông Harris Perlman là Giáo sư giảng dạy tại Trường Y khoa Feinberg thuộc Đại học Northwestern của bang Illinois. Giáo sư Perlman giải thích về mối tương quan giữa hệ thống miễn nhiễm và bệnh phong thấp:
 
"Điều xảy ra là phản ứng của hệ thống miễn nhiễm bị rối loạn khiến cơ thể tự tấn công chính mình."

Giáo sư Perlman nói một protein trong một hệ thống miễn dịch hoạt động tốt giúp tế bào tự hủy sau khi đã tấn công các mầm bệnh hay vi khuẩn. Nhưng trong trường hợp bệnh không có protein ấy trong hệ miễn dịch. Thay vào đó protein tồn đọng trong các khớp xương rồi tấn công chất sụn và xương.
 
Cuộc nghiên cứu có sự tham gia của Giáo sư Perlman của Đại học Northwestern đã thành công trong việc khóa lại hệ miễn dịch nơi các con chuột mắc bệnh phong thấp. Nhà nghiên cứu này phát triển một phân tử mà ông gọi là "phân tử tự sát" có chức năng tương tự như protein đã khiến cho các tế bào tự hủy.
 
Giáo sư Perlman giải thích rằng "phân tử tự sát" có thể chận đứng và đôi khi giảm bớt chứng phong thấp trong 75% số chuột thử nghiệm. Ông tin rằng phương pháp chữa trị dùng phân tử này có thể hữu hiệu nơi con người.
 
Các cách chữa trị bệnh phong thấp đang được dùng hiện nay có thể giảm bớt mức độ đau nhức nhưng không hữu hiệu nơi tất cả các bệnh nhân. Bệnh nhân phải uống thuốc liên tục trong khi thuốc có những hậu chứng đi kèm như tăng nguy cơ nhiễm trùng.
 
Giáo sư Harris Perlman nói khía cạnh tốt nhất của phương pháp chữa trị mới là nó không đi kèm với hậu chứng nào đáng kể. 
 

Theo Đông y phong thấp hay tý chứng là do cơ thể yếu đuối bị "Phong" "Hàn" "Thấp" "Nhiệt" thừa cơ xâm nhập kinh lộ cơ nhục khớp xương làm tổn thương huyết mạch và tâm đưa đến sưng đỏ đau nhức nặng nề tê bại trong cơ thể các khớp xương chân tay vv... bệnh nhân cảm thấy hàn nhiệt biểu chứng.

Trong cơ thể kinh lạc đưa khí huyết đi khắp nơi khi bị ngoại tà xâm nhập là bế tắc kinh lạc sẽ gây đau mỏi các khớp trời lạnh mưa ẩm thấp đau tăng hoặc tái phát. Cho nên tất cả các bệnh đau thần kinh xương khớp đều có thể qui vể Tý chứng. Đông y gọi là chứng Tý tý là bế tắc không thông dân gian thường gọi là bệnh phong thấp. Đông y qua nhiều đời phân ra rất nhiều loại như Hành tý Thống tý trước tý Nhiệt tý Huyết tý ....
Ví dụ:
1. Hành tý (còn gọi là Phong tý Phong)
Triệu chứng: Đau di chuyển các khớp đau nhiều khớp sợ gió rêu lưỡi trắng mạch phù
Liệu pháp: khu phong là chính tán hàn trừ thấp là phụ hoạt huyết hành khí
Toa:Phòng phong 12g Khương hoạt 12g Tần giao 8g Quế chi 8g Bạch linh 8g Bạch thược 12g Đương qui 12g Cam thảo 6g Ma hoàng 8g Thổ phục linh 16g Thương nhĩ tử 16g Hi thiêm 16g Uy linh tiên 12g Ý dĩ 12g Bạch chỉ 8g Tỳ giải 12g
 
Châm cứu: thiên ứng lân cận hợp cốc phong môn phong trì huyết hải túc tam lí cách du
  
 2. hàn tý hay thống tý
Triệu chứng: Đau dữ dội ở một khớp trời lạnh đau tăng chườm nóng thì đỡ tay chân lạnh sợ lạnh rêu lưỡi trắng mạch huyền khẩn hoặc nhu hoãn

Liệu pháp: Tán hàn là chính khu phong trừ thấp là phụ hành khí hoạt huyết

Toa: Quế chi 8g Can khương 8g Thiên niên kiện 8g Uy linh tiên 8g Ý dĩ 12g Xương truật 8g Xuyên khung 8g Ngưu tất 8g Thương nhĩ tử 12g Ma hoàng 8g Bạch thược 8g Hoàng kì 8g Bạch linh 8g
 
Châm cứu: Thiên ứng Lân cận Hợp cốc Phong môn Phong trì Huyết hải Túc tam lí Cách du


3. thấp tý hay trước tý

Triệu chứng: Các khớp nhức mỏi đau một chỗ tê bì đau các cơ vận động khó miệng nhạt rêu lưỡi trắng dính mạch nhu hoãn

Liệu pháp: Trừ thấp là chính tán hàn khu phong là phụ hành khí hoạt huyết 
  
Toa: Ý dĩ 16g Xương truật 12g Ma hoàng 8g Quế chi 8g Khương hoạt 8g Độc hoạt 8g Phòng phong 8g Ô dược 8g Hoàng kỳ 12g Cam thảo 6g Đẳng sâm 12g Xuyên khung 8g Ngưu tất 8g Bạch chỉ 12g Đan sâm 12g Ngũ gia bì 12g
 
...
Vài ví dụ khác:
* - Mỗi khi thời tiết thay đổi các khớp đau nhức âm ỉ người bệnh ít ngủ trằn trọc đi lại khó khăn dùng một trong các bài thuốc sau:
 
Bài 1: xương bồ 12g thổ phục linh 16g nam tục đoạn 20g tang chi 12g rễ cỏ xước 12g rễ bưởi bung 16g quế 10g cam thảo 12g. Đổ 1.000ml nước sắc lọc bỏ bã lấy 350ml chia 2 lần uống trong ngày.
 
Bài 2: ngải diệp 16g kinh giới 16g ngũ gia bì 12g cẩu tích 12g trinh nữ 16g thổ phục linh 20g quế chi 10g thiên niên kiện 10g nước 1.000ml sắc lọc bỏ bã lấy 350ml chia 2 lần uống trong ngày.
 
*-  Khớp gối đau mỏi chân tay lạnh có biểu hiện cứng khớp cơ thể suy nhược đi đứng chậm chạp (thể hàn thấp) dùng một trong các bài thuốc sau:
Bài 1: phòng phong 10g kinh giới 16g tế tân 12g xuyên khung 12g huyết đằng 16g nam tục đoạn 16g cà gai leo 12g bưởi bung 16g quế chi 10g thiên niên kiện 10g cẩu tích 12g chích thảo 12g. Đổ 1.000ml nước sắc lọc bỏ bã lấy 400ml chia 2 - 3 lần uống trong ngày.
 
Bài 2: hà thủ ô (chế) 12g rễ cúc tần 12g tục đoạn 12g thổ phục linh 16g xấu hổ 20g cỏ xước 20g độc hoạt 16g quế chi 10g  
thiên niên kiện 10g đơn hoa 16g. Đổ 1.000ml nước sắc lọc bỏ bã lấy 400ml chia 2 - 3 lần uống trong ngày.
 
*-  Đau khớp nhưng lại chạy từ khớp này đến khớp kia có thể có sốt đau tức ngực khó thở toàn thân mệt mỏi (thể phong thấp). Dùng một trong các bài thuốc sau:
Bài 1: xuyên khung 12g đan sâm 12g phòng phong 12g kinh giới 16g ngải diệp 16g ngưu tất 12g thục địa 10g bạch thược 12g đương quy 12g thổ phục linh 16g độc hoạt 16g huyết đằng 16g. Ngày uống 1 thang sắc 3 lần uống 3 lần.
Bài 2: hoài sơn 16g liên nhục 12g cẩu tích 12g hà thủ ô (chế) 12g ngũ gia bì 16g nam tục đoạn 16g đơn hoa 12g độc hoạt 16g hy thiêm 12g phòng phong 10g kinh giới 16g. Uống ngày 1 thang sắc 3 lần uống 3 lần.
 
*- Đau vai cổ đau lan xuống một bên cánh tay. Đầu khó cử động có cảm giác tê bì. Dùng một trong các bài thuốc sau:
Bài 1: ngưu tất 16g thiên niên kiện 12g quế chi 10g trần bì 10g cố chỉ 10g ngải diệp 16g tế tân 10g kinh giới 16g đương quy 12g xương bồ 12g. Sắc uống ngày 1 thang uống nóng.
Bài 2: thổ phục linh 20g ngải diệp 16g hà thủ ô (chế) 12g tục đoạn 12g lá lốt 12g rễ cỏ xước 16g rễ bưởi bung 16g rễ cúc tần 12g cà gai leo 12g quế chi 10g thiên niên kiện 10g chích thảo 12g. Sắc uống ngày 1 thang uống nóng.
..v..v..
 
Một đặc điểm tích cực của các loại thuốc hóa dược của Tây y là có thể có tác dụng chung cho nhiều người khi có cùng một triệu chứng bệnh cho dù thuốc hóa dược chữa trị phong thấp có phản ứng phụ nguy hiểm nhưng tính phổ cập cao và dễ sử dụng. Còn thuốc thảo dược và các phương pháp khác của Đông y tuy rằng có tính khả thi đào thải được mầm bệnh nhưng lại khó sử dụng thế yếu của Đông y là hiệu quả của phương toa hoàn toàn phụ thuộc vào tài năng của người Lương Y.
 
Vì cơ sở chẩn trị của Đông y chỉ dựa vào Vọng-Văn-Vấn-Thiết cho nên việc chẩn trị đúng bệnh lý thuộc loại nào là hàn nhiệt hay phong thấp...là Thống tý hay Hành Tý là Trước tý hay Nhiệt tý...để dụng toa thích hợp đều dựa vào kinh nghiệm tài năng và lương tâm của người Thầy thuốc.
 
Mặt khác các loại thảo dược tự nhiên không phải đối với tất cả bệnh nhân có cùng một triệu chứng đều có tác dụng mà còn tùy thuộc vào thể trạng của bệnh nhân có hợp thuốc hay không.
 
Chính những yếu tố đó mà liệu pháp của Đông y tuy có khả quan với bệnh Phong thấp nhưng tính phổ cập không cao khó ứng dụng đại trà.
 
Việc tìm ra một phương toa một liệu pháp có tác dụng tốt an toàn lại có tính chất dùng chung cho nhiều người cùng một triệu chứng phong thấp là một vấn đề rất khó. Đó là mơ ước của hầu như tất cả các Lương y có lương tâm nghề nghiệp.
 
Trong quá trình hành nghề và sử dụng máy đo sinh khí Prognos tôi phát hiện ra một biểu đồ rất đáng phải kinh ngạc. Đó là tất cả các bệnh nhân bị bệnh phong thấp bệnh nhân ung thư đã qua hóa xạ trị bệnh nhân mắc chứng suy giảm miễn dịch..đều có một biểu đồ sinh khí rất giống nhau. Biểu đồ này có chỉ số sinh khí ở các kinh Âm đều dưới mức bình thường. Chỉ số này còn có nghĩa là các Tạng Âm đều bị suy hư. Mà chủ yếu là Tỳ Tâm Phế Tiểu trường và Thận. Ngược lại các Phủ Dương thì lại có chỉ số sinh khí trên mức bình thường cũng có nghĩa là khí huyết bị bị bế tắc mà chủ yếu là các Phủ Vị Bàng Quang và Can.
 
Do thấy các biểu đồ sinh khí của tất cả những người bị bệnh Phong thấp đều có kết cấu hình dạng vận động giống nhau đặc biệt là chỉ số sinh khí trong các Tạng Âm cực thấp. Tôi nảy sinh ra ý tưởng có phải nguyên nhân sâu xa để đưa đến bệnh phong thấp là do các tạng Âm bị suy hư hay không. Hay là ngược lại bị nhiễm bệnh phong thấp thì hậu quả sẽ đưa đến các Tạng Âm bị suy hư khí huyết.
 
Để lý giải cho câu hỏi này tôi liền thử nghiệm điều trị qua sự kiểm tra của máy Prognos. Liệu pháp là không cần biết bệnh nhân do Phong thấp thuộc thể gì cứ có tạng Âm nào bị suy hư thì tôi bồi bổ khí huyết cho tạng đó để có được chỉ số sinh khí trong khung bình thường.
 
Khi điều trị bằng tất cả các phương pháp có thể để đưa chỉ số sinh khí của Tạng Âm bị suy lên mức bình thường. Thì cơn đau nhức Phong thấp của bệnh nhân biến mất ngay. Nói tóm lại tôi không cần biết bệnh nhân bị phong thấp thể gì cứ đưa được tất cả chỉ số sinh khí trong các Tạng Âm bị suy hư lên mức bình thường là bệnh nhân hết bệnh.
 
Kết quả này cho tôi một ý tưởng. Bệnh phong thấp có liên quan đến nguyên nhân khí huyết bị hư trong các tạng Âm (Tim Gan Tỳ Phế Thận). Việc khí huyết ở các Phủ Dương bị bế tắc cũng sẽ biến mất khi các Tạng Âm được phục hồi sinh khí. Vì vậy đây có thể là một "Mẫu số chung" cho liệu pháp phổ cập chống lại đau nhức phong thấp.
 
Nhưng việc cùng một lúc phục hồi sinh khí cho tạng Âm không phải là dễ. Châm cứu cũng không làm được chuyện này vì sau khi châm xong đo sinh khí ngay thì đạt yêu cầu nhưng sang ngày khác thì chỉ số lại tụt về như cũ.
 
Nghiên cứu các toa thuốc Bổ Âm cổ truyền để ứng dụng thì tác dụng rất chậm và khó được như ý muốn.
 
Một duyên tình cờ khác khi đo sinh khí cho tất người bệnh dù là đang mắc bệnh hiểm nghèo hiện đang trì luyện môn khí công Thái Âm Công (Một pho khí công gia truyền của dòng họ Chu ở Đài Loan). Thì tôi thấy biểu đồ sinh khí của họ có chỉ số rất lý tưởng ở các tạng Âm. Phát hiện này bắt buộc tôi phải nghĩ đến có sự hoạt khí rất mạnh ở tạng Âm trong những người trì luyện Thái Âm Công.
 
Từ suy nghĩ này tôi cho bệnh nhân bị bệnh phong thấp luyện tập Thái Âm Công song song với việc dùng thuốc bổ Âm. Những người theo phương toa này có đột biến rất khả quan bệnh phong thấp hoàn toàn biến mất trong một thời gian ngắn như mơ ước.
 
Khổ nỗi Thái Âm Công rất khó luyện tập và không phải ai cũng căn cơ và điều kiện luyện tập. Vì vậy tôi chọn trong hàng chục pho khí công mà mình biết có cách thâu liễm hô hấp và phương pháp chuyển động thân thể gần giống với Thái Âm Công đem ra cho bệnh nhân ứng dụng. Kết quả cũng thật bất ngờ bệnh nhân luyện tập bộ Thiên Lý Tiêu Dao và bộ Ngũ Hành Mê Tông Bộ đều đạt được kết quả chân khí trong tạng Âm gần giống với người luyện tập Thái Âm Công.
 
Có được kết quả này tôi bắt đầu nảy ra ý tưởng nghiên cứu về vòng chân khí luân chuyễn trong những môn khí công có tác dụng Bổ Âm. Vậy là từ đó tôi đưa hết tâm huyết hiểu biết thời gian và kể cả tiền bạc để dâng hiến cho vòng luân chuyễn của khí huyết trong tạng Âm của cơ thể mà tôi gọi đó là "Vòng Thái Âm Chân Khí"..
 
(Còn Nữa)
 
____
Phụ lục:
Nhân tiện nói về Phong Thấp tôi xin hiến tặng bà con ai có bệnh hoặc có người nhà mắc bệnh Phong Thấp 2 phương toa dân gian mà tôi sưu tầm được. Hai phương pháp này có hiệu quả rất khả quan với bệnh đau nhức của phong thấp cách sử dụng an toàn dễ làm và rẽ tiền. Cái đặc biệt là khả năng thích ứng với đại đa số bệnh nhân Phong thấp.
 
Phương toa 1:
Toa Thuốc Gia Truyền Trị Bệnh Tê Bại Toàn Thân Bán Thân Đau Nhức Cột Xương Sống Thấp Khớp Nhức Mỏi.
 
1/ Trạch lan...............................4 chỉ
2/ Cam Kỷ Tử............................3 chỉ
3/ Xuyên Khung.......................2 chỉ
4/ Độc Hoạt...............................2 chỉ
5/ Hổ Cốt hay Cẩu Tích..........4 chỉ
6/ Sinh Địa ...........................4 chỉ
7/ Ngưu Tất.............................3 chỉ
8/ Nhãn Nhục.......................... 5 chỉ
9/ Quế.......................................2 chỉ
10/ Đương Quy........................3 chỉ
11/ Thục Địa........................... 2 chỉ
12/ Cam Thảo................... .....2 chỉ
13/ Đỗ Trọng......................... 4 chỉ

Ngâm với 1 lít rượu trắng 37 độ 1 lít nước suối không có gas ( hoặc 2 lít rượu vang nếu không muốn pha rượu với nước suối) 200 gr đường phèn. Ngâm độ 2 tuần hay lâu hơn càng tốt. Khi uống nhớ quậy đều lên uống sau bữa ăn trưa và tối mỗi lần một liquer nhỏ (ly uống sec). Uống mấy thang cũng được khi nào hết hẳn bệnh hãy ngưng hay uống tiếp tục càng lâu càng tốt. Nếu không uống được rượu thì nấu 4 chén còn lại 1 chén.
 
Toa thuốc này rất tốt để bổ máu và lưu thông máu huyết cho người lớn tuổi hoặc người bệnh do thiếu máu hay máu huyết ứ trệ. Đa số những người bị tê bại nhức mỏi là do máu huyết không thông đều dùng được. Chỉ cần lưu ý:
Những người có đàm thấp nhiều ví dụ có rêu lưỡi đóng trắng dầy thì uống lâu hiệu quả hơn cần phải uống thuốc trục đàm như Nhị Trần thang cho sạch đàm rồi uống mới có công hiệu nhanh. Toa thuốc này có vị Hổ Cốt rất khó tìm.
 
Toa này hiện đang được đồng bào Việt Nam ở hải ngoại tâm đắc ứng dụng nhất là ở Mỹ Pháp và Úc châu
 
Phương 2:
Bó nơi đau nhức sưng viêm bằng bắp cải.

1- Chọn một bắp cải lá to loại bắp cải lá quăn thì tốt hơn. Một ít băng gạc và một cái chai hay là cây cán bột.
 
 
2- Trải lá bắp cải lên thớt hoặc lên bàn trên tấp băng gạc
  
 
3- Lấy cái chai hoặc cây lăn bột lăn đi lăn lại chi lá bắp cải bầm dập ra
 

4- Rồi bó lên vùng sưng đau ngày bó một lần bó trước lúc đi ngủ là tốt nhất. Cũng có thể bó lưng bó vai được nhưng việc bó lá cần đòi hỏi tốn kém hơn.
 
20.01.11
QN-TN Sưu tầm và Biên soạn

More...

HỎA XA LUẬN (Phần 4 - Bàn về Đau Nhức)

By Lê Thuận Nghĩa

Tiếp theo phần 3
 
(THỐNG TÝ LUẬN)
 
Có những cơ sở lý luận khoa học đã được kiểm chứng qua nhiều lần thực nghiệm và đã được khẳng định như chân lý nhưng khi đem ứng dụng vào thực tiễn cuộc sống thì không đem lại kết quả như ý muốn. Nhất là trong lĩnh vực nghiên cứu về cơ thể học. Khi đem vận dụng những kết quả nghiên cứu về cấu tạo vật chất cơ chế sinh lý   cơ chế hóa sinh .v..v...của cơ thể học vào trong lĩnh vực sức khoẻ và đời sống thì đôi khi lại gặp những tương tác phản tác dụng.
 
Điều đó cũng không có gì là khó hiểu vì đời sống và sự sinh tồn của con người không chỉ đơn thuần là cấu tạo vật chất. Đời sống trong đó bao gồm cả vấn đề sức khỏe và tuổi thọ ngoài những cấu tạo vật chất ra còn có yếu tố tinh thần nữa.
 
Tư duy và ý chí của con người có những ảnh hưởng có tính chất quyết định đến qui luật vận động vật chất trong cơ thể. Bởi vì vậy chỉ nắm vững những cấu tạo về hóa lý sinh lý..hiểu rõ những cơ chế hoạt động và chức năng của các cơ quan trong cơ thể vẫn chưa thể nói rằng đã đầy đủ các yếu tố cần thiết để đưa ra những liệu pháp có tác dụng hữu hiệu khi những cấu tạo vật chất và cơ chế sinh lý có sự "trục trặc". Trạng thái của tinh thần khả năng tư duy sự cảm thụ từ ý thức...cũng có tác dụng quyết định đến chất lượng của đời sống. Không những thế nó còn có thể đưa cơ thể của con người ra ngoài ranh giới những qui luật vận động tất yếu của vật chất. Chính vì thế mà cơ thể của con người vẫn còn luôn luôn là một "thế giới" đầy bí hiểm cho khoa học thực nghiệm. Cũng chính vì vậy mà sự vận động của vật chất trong cơ thể con người trở nên rất huyền bí và siêu nhiên.
 
Để tránh những luận cứ có thể bị qui nạp về phạm trù duy tâm huyền bí tôi xin đưa ra những ví dụ rất thực tế trong lĩnh vực bảo vệ sức khoẻ có liên quan đến vấn đề này.
 
Ví dụ về những vết bầm dập của cơ thể do áp lực va chạm đưa lại Tây y dựa vào cơ sở lý luận về vật lý hóa học ..để đưa ra phương pháp trị liệu bằng cách chườm lạnh để điều trị. Họ cho đó là phương pháp tất yếu có thể co kết khối bầm lại và chống lại được con đau do bị tổn thương. Đông y thì xử lý hoàn toàn ngược lại dựa vào cơ chế vận khí và hoạt huyết (một cơ chế không có trong hệ nhận thức của khoa học thực nghiệm). Đông y xử lý hiện tượng tổn thương này bằng cách chườm nóng. Nếu bạn là một Đông y sĩ làm việc trong một ê kíp Bác sĩ tây y đưa ra phương pháp chườm nóng như lăn trứng gà luộc chườm muối hoặc xoa dầu nóng vào vùng lân cận mắt khi bị bầm đen do va chạm thì bạn sẽ bị đồng nghiệp Tây y phán bạn là "đồ điên" "đồ ngu xuẩn" ngay. Với họ phương pháp xử lý gần như tất nhiên là chườm nước đá. Về kết quả phương pháp chườm đá lạnh có tác dụng cắt cơn đau tạm thời các khối bầm không lan rộng ra nhiều và có xu hướng co kết lại nhờ vào hơi lạnh nhưng khi hết chườm lạnh thì cơn đau lại tại phát lại và vết bầm có thể sẽ rất lâu tan hết.  Kết quả của phương pháp chườm nóng thì không tạm thời cắt được cơn đau đôi khi lại còn đau thêm nữa nhưng khi thôi chườm nóng thì cơn đau lại giảm dần và vết bầm tan đi rất nhanh do sức nóng có thể kích thích sự sự hoạt huyết và vận khí mạnh của cơ thể để đánh tan vết bầm. Đây là một ví dụ rất đơn giản nhưng thực ra đã khái quát lên được điểm khác biệt về liệu pháp giữa Đông y và Tây y.
 
Một ví dụ khác tương tự như trên là hiện tượng bị trặc gân trẹo gân do vận động sai mà hiện tượng thường gặp nhất là trặc khuỷu chân mắt cá trẹo đầu gối hay khớp bàn tay .... Tây y thì cứ phải chườm đá lạnh liên tục hoặc xử lý với các loại bình xịt hơi  làm tê lạnh cục bộ kết quả sau khi chườm lạnh có thể tạm thời vận động được dễ dàng ngay lúc đó nhưng sự đau nhức có thể bị kéo dài thành nhiều tháng và nhiều khi có thể trở thành kinh niên đau nhức khi thời tiết thay đổi. Cũng hiện tượng này Đông y lại xử trí bằng cách làm nóng bằng cách bó loại dược thảo có tính chất cực nhiệt xoa bóp bằng dầu nóng bằng rượu mạnh như rựợu ngâm mã tiền rượu mật gấu...(xử lý hiện tượng này không có liệu pháp nào của Tây y có thể sánh bằng các phương pháp bó lá lưỡi hổ hoặc xoa rượu mã tiền của các thầy trật đả nhà ta cả- Lá lưỡi hổ xào với muối bó vào chổ trẹo gân nóng có khi còn bỏng rộp cả da rượu ngâm mã tiền rượu mật gấu là các loại cực nóng). Kết quả của phương pháp trật đã không những gân cơ hồi phục nhanh mà cơn đau cũng chấm dứt vĩnh viễn.
 
Tây y lý luận rằng lúc bị trật trẹo gân chằng có thể bị trượt giãn ra hoặc bị rạn đứt vì vậy cần phải chườm lạnh để cho gân cơ co lại (nóng nở ra lạnh co lại của qui luật vật lý). Kết quả hồi phục chậm cơn đau dai dẳng. Đông y cho rằng chườm nóng để hoạt huyết vận khí tích cực để đưa nhanh cách chất bồi bổ và khí lực đến để trị liệu. Kết quả đương nhiên tích cực hơn.
 
Một hiện tượng bệnh lý khác Tây y dựa vào các kết quả nghiên cứu về cấu tạo hệ thần kinh và cơ chế hoạt động của nó để xác định đó là bệnh Suy nhược thần kinh (depression). Khi bệnh nhân có hiện tượng mất ngủ thường xuyên tình thần bạc nhược uể oải tâm trạng lo âu sợ hãi chán chường không có hứng thú với cuộc sống trầm cảm chán ghét giao tiếp lảm nhảm cằn hằn tính tình khó chịu hồi hộp bồn chồn đôi khi còn có đau đầu chóng mặt đêm nằm ác mộng la hét thất kinh....Họ cho rằng nguyên nhân do Thần kinh bị tổn thương bị suy yếu..bệnh thuộc về tâm lý (Physioloie). Xác định nguyên nhân bệnh như vậy nghe ra quá khoa học quá hợp lý còn gì nữa. Vậy là liệu pháp tối ưu nhất của Tây y là các loại hóa dược an thần thuốc ngủ thuốc xoa dịu thần kinh thuốc kích thích.. v..v..kết quả là liều lượng thuốc uống ngày càng cao uống mãi cho đến trở thành con nghiện..kết quả là bệnh nhân trở thành con bệnh tâm thần kinh niên và đôi khi trở thành nạn nhân của việc tự sát do bị trầm cảm hay là lên cơn nghiện thuốc.
 
Đông y xác định nguyên nhân bệnh này hoàn toàn khác với Tây y khác đến nổi Tây y không thể nào chấp nhận được những cơ sở lý luận "phi khoa học" như thế. Nhưng kết quả của những phương toa trị liệu chứng này của Đông y thì lại làm cho Tây y coi đó là "phép mầu nhiệm của Thượng Đế".
 
Đông y không coi bệnh này thuộc về tâm lý hay bệnh về thần kinh mà họ xác định đó là chứng Tâm Thận bất giao hay còn gọi là chứng Thủy hỏa vị tế có nghĩa là chứng bệnh khí huyết giữa Thận và Tim không lưu thông giao hòa với nhau. Theo y lý á đông thì Tim thuộc về Hỏa khí (Lửa) Thận thuộc về Thủy khí (Nước). Thủy Hỏa tuy khắc chế lẫn nhau nhưng chúng cần có nhau giao lưu với nhau để điều tiết và cân bằng lẫn nhau. Nếu do nguyên nhân gì đó thận khí không giao lưu được với tâm khí thì dẫn đến thủy hỏa rời nhau không khống chế được nhau cho nên gọi là Thủy Hỏa vị tế. Do khí Thận thủy không bốc lên cao để kiềm chế Tâm hỏa cho nên khí hỏa mới vượng loạn hại Tâm (tim) cho nên mới sinh ra chứng bồn chồn lo âu mất ngủ hoảng loan sợ sệt...đau đầu huyễn tượng vân..vân... Nguyên nhân của chứng này đa số là do Thận dương suy kế đến Tâm hư và có thể là do khí huyết của kinh Tam tiêu bị bế tắc. Liệu pháp là tùy chứng mà ra toa bổ thận hay bổ tâm hoặc đả thông Tam tiêu là được. Các toa cường dương tráng thận toa Thiện vương bổ tâm...đều có kết quả rất hữu hiệu cho chứng này.
 
Có một căn bệnh do Tây y quá lệ thuộc vào các cơ sở của thực nghiệm cho nên đến bây giờ Tây y vẫn chưa tìm ra được nguyên nhân và cơ chế gây bệnh vì vậy bệnh này trở thành một chứng nan y đối với Tây y. Nhưng đối với Đông y thì bệnh này xử lý rất đơn giản bằng những cơ sở lý luận mà Tây y cho rằng cũng không có cơ sở khoa học. Tuy vậy trong tất cả các liệu pháp đưa ra để chống lại hội chứng này ở trong các tài liệu y khoa hiện đại người ta đều trân trọng chấp nhận các liệu pháp châm cứu khí công và thảo dược của Đông y là tối ưu nhất. Đó là hội chứng đau nhức thần kinh gân cơ (Nhục Thống Tý) mà từ Y học gọi là bệnh Fibromyalgie (Faser-Muskel-Schmerz). Tây y định nghĩa bệnh này là "một chứng bệnh kinh niên không rõ nguyên nhân và không có khả năng điều trị.."( Tiếng Đức trong từ điển y khoa: Die Fibromyalgie (Faser-Muskel-Schmerz) ist eine schwere chronische unklar Usache nicht heilbare Erkrankung )
 
Quá trình nghiên cứu về bệnh này của Tây y trải qua rất nhiều thời kỳ và khái niệm về bệnh lý bị thay đổi liên tục qua khi là nó là cái này khi nó là cái kia và hiện nay đã đưa đến kết luận khá mơ hồ và đành phải chấp nhận phương pháp trị liệu bị động dùng các hoá dược để tạm thời dập tắt triệu chứng.
 
Bệnh Fibromyalgie đã được giới y học Tây phương nghiên cứu từ thế kỷ thứ 18 dưới nhiều tên gọi khác nhau như bệnh phong thấp cơ hay bệnh viêm xơ (sợi thần kinh) (rhumatisme musculaire ou fibrositis) thường gặp ở phụ nữ có bệnh tâm thần phân liệt nó được coi là bệnh tâm thần lẫn trầm cảm ở thập niên 70-80

Năm 1981 Bác Sĩ Muhammad B. Yunus là người đầu tiên thử nghiệm kiểm soát các triệu chứng của bệnh qua xét nghiệm máu.

Thuật ngữ đặt tên cho bệnh này là: Hội chứng đau nhức tự phát lan tỏa khắp cơ thể (diffuse idiopathic syndrome polyalgique=SPID) do Giáo Sư Kahn đề xướng nhưng trong Kỳ Đại Hội Y Tế Thế Giới năm 1976 đã chọn thuật ngữ Anglo-Saxon Fibromyalgie để có thể mô tả các triệu chứng đúng hơn (theo tiếng Latin và Hy Lạp fibra là chất xơ sợi thần kinh myo là bắp thịt algos là đau đớn)

Nguyên nhân gây ra bệnh này chưa được thống nhất ủy ban chuyên khoa của Đại Học Chuyên Khoa Thấp Khớp Hoa Kỳ đưa ra một lý thuyết để xác định tiêu chuẩn bệnh dựa trên một rối loạn gây ra bởi xáo trộn hormon trong hệ thần kinh giao cảm trung ương trong khi đó Tổ Chức Y Tế Thế Giới năm 1992 công nhận nó là bệnh Thấp Khớp mà trước đó các bác sĩ coi là bệnh Tâm Thần (maladie psychiatrique) rất hiếm chỉ xảy ra ở các bệnh nhân nữ giới.

Từ năm 1995 bệnh loại này càng thấy nhiều đặc biệt vào năm 2000 có nhiều người trẻ dưới 30 tuổi và trong nam giới cũng có người mắc phải. Trước kia bệnh fibromyalgie được phân loại bệnh theo tiêu chuẩn quốc tế (classification internationale des maladies =CIM) dưới mã số M.70.0 là loại bệnh thấp khớp không rõ ràng. Năm 2006 nhiều nghiên cứu so sánh kết qủa của MRI cho thấy hoạt động của não khác nhau giữa những người bị bệnh và người không bị bệnh do đó nguyên nhân của bệnh này được gọi là bệnh tâm thần hay bệnh thuộc tâm lý thần kinh cũng đã bị loại trừ nên mã số của bệnh đổi lại là M 79.7

Trung bình từ 2-10% dân số toàn cầu của các nước công nghiệp bị bệnh này riêng tại Gia Nã Đại được thống kê năm 2008 có khoảng 900.000 người mắc bệnh ở Hoa Kỳ 2% dân mắc bệnh này đa số là nữ giới nam giới chiếm 0 5%

Từ năm 1990 trường đại học chuyên khoa thấp khớp Hoa Kỳ đã nghiên cứu tìm được 18 điểm đau đặc biệt của bệnh này. Tuy nhiên cũng rất khó chính xác nếu thiếu sót những thử nghiệm khác của phòng xét nghiệm y khoa vì những điểm đau ấy cũng có mặt trong các bệnh khác như viêm khớp loãng xương....vì thế trường đại học chuyên khoa thấp khớp Hoa Kỳ (ACR) đã xếp thành tiêu chuẩn định bệnh (tiêu chuẩn "ACR 1990") căn cứ vào những dấu hiệu triệu chứng lâm sàng theo thống kê 18 điểm đau
 
-Một quá trình cơn đau lan ra toàn thân trong thời gian hơn 3 tháng ảnh hưởng đến tứ chi
 
-Trong 18 điểm đau này các bác sĩ phải ấn đè vào một lực (từ 39 Newtons) bệnh nhân sẽ cảm nhận được có bao nhiêu điểm đau trong 18 điểm đau nếu có hơn 11 điểm đau mới xác định là có bệnh Fibromyalgie

-Các hình thức đau mãn tính có cảm giác ở chỗ đau như bầm máu cháy phỏng đứt đè nặng...thường xuyên ở tứ chi và lưng. Dấu hiệu này kéo dài suốt cả ngày cả tuần cả tháng cả năm

-Đau cơ bắp đau xương khớp đau nóng gan bàn chân bàn tay đau gân mệt thể xác và tinh thần tâm trạng trống rỗng nhìn không đâu mất kiên nhẫn dễ nổi cáu khi bị va chạm do căng thẳng do tiếng động ồn ào do ánh sáng do sự hiện diện của người khác do mùi hôi mùi thức ăn...

-Bị trầm cảm có ý nghĩ chán đời muốn tự tử cơ thể thiếu chất bột (glucid carbohydrates) nên hay ưa ăn bánh ngọt bánh mì khoai tây chiên... mắt khô nóng như phỏng rối loạn trí nhớ rối loạn tiêu hóa (đánh rắm tiêu chảy) khó ngủ không tập trung nặng hơn khi bị đói hay thiếu đường chân tay run yếu sức cảm giác đau nhức toàn thân.

Những rối loạn trên thường kết hợp với bệnh thuộc tiêu hóa trường vị làm đau đầu

Những xét nghiệm y khoa thấy có sự bất thường của chất não tủy ở bệnh nhân mức độ chất P một chất dẫn truyền thần kinh có liên quan đến nhận thức của sự đau đớn sự hiện diện của chất chuyển hóa để tạo ra chất giảm đau như monoamines serotonine noradrénaline dopamine bị giảm trong khi đó nồng độ tập trung chất nội sinh như chất á phiện (endorphine enképhaline) gần như cao hơn bình thường như vậy yếu tố tăng trưởng thần kinh đã được chứng minh tạo ra chất tham gia vào các cấu trúc liên quan đến não tủy giữa não và cột sống tủy và cả sự gia tăng acide amine trong chất lỏng não tủy chứng minh rằng có sự liên hệ mức độ chuyển hóa của glutamate và oxyde nitrique và những cảm giác đau. Xem hình ảnh của những phản ứng của chức năng não thấy giảm lưu lượng máu ở đồi não ở những hạch dưới đáy não và giữa não.

Rất nhiều nghiên cứu thử nghiệm thấy rằng bệnh fibromyalgie càng gia tăng cái đau khi bị tăng áp lực tăng nhiệt nóng qúa hay lạnh qúa hoặc nhạy cảm với điện hay hóa chất. Những thử nghiệm khác nhau trên hệ thống thần kinh điều chỉnh giảm cơn đau của hệ thần kinh ức chế cho thấy những phản ứng có thay đổi được lập đi lập lại và làm giảm đi hay mất đi phản ứng giảm đau dẫn từ sự gắng sức của thể lực những bằng chứng này cho thấy sự xáo trộn của hệ thống thần kinh trung ương.

Nghiên cứu đến như vậy nhưng hiện nay bệnh fribromyalgie Tây y vẫn chưa có hướng điều trị tận gốc tạm thời chữa vào triệu chứng là những hậu qủa tất yếu của bệnh qua những thử nghiệm đang nghiên cứu để tìm nguyên nhân gây bệnh.
 
Về phía Đông y thì xác định bệnh chứng này khá đơn giản. Đông y cho rằng đây là chứng đau nhức thần kinh gân cơ (Nhục thống tý) nguyên nhân do Khí hư Huyết trệ phương pháp điều trị là tùy chứng mà bổ huyết thông khí ở chỗ nào là được. Đơn giản vậy thôi.
 
Giới Khí công của Đông y thì đây là một chứng Tinh sai Khí thiếu Thần hư (Tinh-Khí-Thần). Liệu pháp là luyện tập dưỡng sinh để điều tinh hoạt khí và tụ thần là xong. Quá đơn giản!!!
 
Tôi dài dòng đưa ra những ví dụ đơn giản trên để minh chứng cho luận cứ mà tôi đã nêu ra ở phần trước rằng phải đến lúc cần phải xem xét lại những lý luận sai lầm về cơ bản cho liệu pháp trị liệu đau nhức của Tây y.
  
Đưa ra những ví dụ đó để chứng minh lập luận của tôi có cơ sở chứ không phải vì hoang tưởng loạn ngôn để phê phán sự sai lầm của một nền khoa học hiện đại có nền tảng nghiên cứu của những khối óc trác tuyệt từ hàng ngàn năm nay. Đối với hội chứng đau nhức Y học hiện đại (Tây Y) đến nay vẫn chỉ dừng lại ở những hiểu biết như đối với bệnh Fibromyalgie nói trên mà thôi
 
Đối với đau nhức Tây y và Khoa học đã giãi mã được cơ chế gây nên  sự cảm thụ đâu nhức bằng những nghiên cứu về cấu tạo của hệ thần kinh và cơ chế của cơn đau. Nhưng khi xác định liệu pháp điều trị họ lại chỉ dựa vào cơ chế của cơn đau để tìm cách phá bỏ hoặc cắt đứt cái cơ chế gây đau đó (Đó là dập tắt triệu chứng). Chứ họ không loại bỏ nguyên nhân gây ra hiện tượng bắt buộc cơ thể phải có cảm thụ đau thái quá. Muốn không có cơ chế đau xảy ra liên tục triền miên thì phải loại bỏ nguyên nhân gây nên kích thích cảm thụ đau chứ không phải chỉ cần cắt cơn đau là được. Có lẽ từ sai lầm   lầm tưởng Triệu chứng (biểu hiện của cơ chế cảm thụ đau) là Nguyên nhân nên Tây y mới phải luẩn quẩn hàng ngàn năm nay mà vẫn không tìm ra liệu pháp hữu hiệu chống đau nhức chăng?
 
Bây giờ chúng ta hãy tìm hiểu khái niệm về đau nhức của Tây y và Đông y như thế nào thì khi đó chúng ta mới thấu rõ được tại vì sao cơ sở Lý luận của Đông Y mà Tây y khó chấp nhận vì cho là mơ hồ "thiếu khoa học" lại có được những kết quả tích cực mà Tây y phải chấp nhận như những "phép mầu".
 
A- Quan niệm về đau nhức của Y học hiện đại (Tây Y)
  

Đau được định nghĩa là cảm giác tạo ra bởi hệ thống thần kinh khi có tác động tại các thụ cảm thể nhận cảm giác đau (tiếng Anh: nociceptor). Đau nhức thuộc về phạm trù cảm giác của từng cá nhân
 
Đau là một yếu tố quan trọng của sự sinh tồn. Nhờ biết đau mà con vật có phản ứng theo phản xạ hay kinh nghiệm tránh để không tiếp tục bị chấn thương.
 
Cơ sở của cảm giác đau bao gồm 2 cơ sở chính: Cơ sở sinh học Cơ sở tâm lý
1) Cơ sở sinh học:
  
Cơ sở sinh học của cảm giác đau bao gồm cơ sở giải phẫu sinh lý sinh hóa nó là lý luận cơ bản để cho phép giải mã được tính chất thời gian cường độ và vị trí của cảm giác đau. Cảm giác đau xuất hiện tại vị trí tổn thương là một phản xạ tích cực để cơ thể phản xạ đáp ứng lại nhằm loại trừ tác nhân gây đau.
 
Cơ chế nhận cảm đau là: Cảm thụ thể => Sự dẫn truyền cảm giác đau từ ngoại vi vào tủy sống => Sự dẫn truyền cảm giác đau từ tủy sống lên não => Trung tâm nhận cảm đau
 
a) Thụ cảm thể
: bắt đầu từ các thụ cảm thể phân bố khắp nơi trong cơ thể gồm các loại thụ cảm thể nhận cảm đau thuộc cơ học hóa học nhiệt và áp lực.
 
Các chất trung gian hóa học: Cơ chế nhận cảm đau của các thụ cảm thể chưa được biết rõ ràng. Có thể các tác nhân gây đau đã kích thích các tế bào tại chỗ giải phóng ra các chất trung gian hóa học như các kinin (bradykinin serotonin histamin) một số prostaglandin chất P... Các chất trung gian này sẽ tác động lên thụ cảm thể nhận cảm đau làm khử cực các thụ cảm thể này và gây ra cảm giác lan truyền đau.
 
b) Sự dẫn truyền cảm giác đau từ ngoại vi vào tủy sống
Sự dẫn truyền cảm giác từ ngoại vi vào tủy sống do thân tế bào neuron thứ nhất nằm ở hạch gai rễ sau đảm nhiệm. Các sợi thần kinh dẫn truyền cảm giác (hướng tâm) gồm các loại có kích thước và tốc độ dẫn truyền khác nhau như sau:
  
Các sợi Aα và Aβ (týp I và II) là những sợi to có bao myelin tốc độ dẫn truyền nhanh chủ yếu dẫn truyền cảm giác bản thể (cảm giác sâu xúc giác tinh).
  
Các sợi Aδ (týp III) và C là những sợi nhỏ và chủ yếu dẫn truyền cảm giác đau nhiệt và xúc giác thô. Sợi Aδ có bao myelin mỏng nên dẫn truyền cảm giác đau nhanh hơn sợi C không có bao myelin. Vì vậy người ta gọi sợi Aδ là sợi dẫn truyền cảm giác đau nhanh còn sợi C là sợi dẫn truyền cảm giác đau chậm.
    
c) Sự dẫn truyền cảm giác đau từ tủy sống lên não
Đường dẫn truyền cảm giác đau nhiệt và xúc giác thô (sợi Aδ và C) đi từ rễ sau vào sừng sau tủy sống ở đó các axon của neurone thứ nhất hay neurone ngoại vi kết thúc và tiếp xúc với neurone thứ hai trong sừng sau tủy sống theo các lớp khác nhau (lớp Rexed). Các sợi Aδ tiếp nối synapse đầu tiên trong lớp I (viền Waldeyer) và lớp V trong khi sợi C tiếp nối synapse đầu tiên trong lớp II (còn gọi là chất keo Rolando)
 
Các sợi trục của neurone thứ hai này chạy qua mép xám trước và bắt chéo sang cột bên phía đối diện rồi đi lên đồi thị tạo thành bó gai thị.
 
Bó tân gai thị: dẫn truyền lên các nhân đặc hiệu nằm ở phía sau đồi thị cho cảm giác và vị trí.
 
Bó cựu gai thị: dẫn truyền lên các nhân không đặc hiệu và lên vỏ não một cách phân tán.
 
Bó gai lưới thị: bó này có các nhánh qua thể lưới rồi từ thể lưới lên các nhân không đặc hiệu ở đồi thị có vai trò hoạt hóa vỏ não
 
d) Trung tâm nhận cảm đau
Đồi thị (thalamus) là trung tâm nhận cảm đau trung ương có các tế bào thuộc neurone cảm giác thứ ba. Khi có tổn thương đồi thị xuất hiện cảm giác đau đồi thị rất đặc biệt ở nửa người bên đối diện (hội chứng thalamic): cảm giác lạnh hoặc nóng bỏng rất khó chịu hành hạ mà bệnh nhân khó có thể mô tả và khu trú được; đau thường lan tỏa và lan xiên; không đáp ứng với các thuốc giảm đau thông thường; đôi khi lúc ngủ lại đau nhiều hơn vận động thì giảm. Khám cảm giác nửa người bên đối diện với tổn thương thấy hiện tượng loạn cảm đau (hyperpathic).

Từ neurone thứ ba ở đồi thị cho các sợi họp thành bó thị vỏ đi qua 1/3 sau của đùi sau bao trong qua vành tia tới vỏ não hồi sau trung tâm (hồi đỉnh lên vùng SI và SII) và thùy đỉnh để phân tích và ra quyết định đáp ứng:

Vùng SI phân tích đau ở mức độ tinh vi.
Vùng SII phân biệt về vị trí cường độ tần số kích thích (gây hiệu ứng vỏ não).
  
2 Cơ sở tâm lý: bao gồm có Yếu tố cảm xúc Yếu tố nhận thức Yếu tố hành vi thái độ
a)Yếu tố cảm xúc
Cảm xúc có tác dụng trực tiếp lên cảm giác đau làm đau có thể tăng lên hay giảm đi. Nếu cảm xúc vui vẻ thoải mái có thể làm đau giảm đi ngược lại nếu cảm xúc khó chịu bực dọc buồn chán... có thể làm đau tăng thêm. Thậm chí trong một số trường hợp yếu tố cảm xúc còn được xác định là một nguyên nhân gây đau ví dụ ở người bị bệnh mạch vành nếu bị cảm xúc mạnh có thể dẫn đến bị lên cơn đau thắt ngực cấp tính. Ngược lại đau lại có tác động trở lại cảm xúc nó gây nên trạng thái lo lắng hoảng hốt cáu gắt...
 
b) Yếu tố nhận thức
Nhận thức đóng vai trò quan trọng ảnh hưởng lên quá trình tiếp nhận cảm giác nói chung và cảm giác đau nói riêng. Từ những quan sát cổ điển của Beecher người ta biết ảnh hưởng của sự biểu hiện mức độ đau tương ứng với bệnh lý: Nghiên cứu so sánh hai nhóm người bị thương là nhóm quân nhân và nhóm dân sự với những tổn thương giống nhau Beecher quan sát thấy nhóm quân nhân ít kêu đau hơn và đòi hỏi ít thuốc giảm đau hơn. Giải thích sự khác nhau này giữa hai nhóm là do chấn thương đã mang lại những ý nghĩa hoàn toàn khác nhau: biểu hiện tích cực ở nhóm quân nhân (được cứu sống kết thúc việc chiến đấu được xã hội quý trọng...) còn ở nhóm dân sự thì có biểu hiện tiêu cực (mất việc làm mất thu nhập mất đi sự hòa nhập với xã hội...).


c) Yếu tố hành vi thái độ
Bao gồm toàn bộ những biểu hiện bằng lời nói và không bằng lời nói có thể quan sát được ở bệnh nhân đau như than phiền điệu bộ tư thế giảm đau mất khả năng duy trì hành vi bình thường. Những biểu hiện này có thể xuất hiện như phản ứng với tình trạng đau cảm nhận được chúng tạo nên những dấu hiệu phản ánh tầm quan trọng của vấn đề đau và cũng đảm bảo chức năng giao tiếp với những người xung quanh. Những biểu hiện này phụ thuộc vào môi trường gia đình và văn hóa dân tộc chuẩn mực xã hội tuổi và giới của cá thể. Những phản ứng của người xung quanh có thể ảnh hưởng đến nhân cách ứng xử của bệnh nhân đau và góp phần vào tình trạng duy trì đau của họ.
 

3) Các loại đau nhức được phân loại: Phân loại theo cơ chế gây đau Phân loại theo thời gian và tính chất đau Phân loại đau theo khu trú.
a) Phân loại theo cơ chế gây đau bao gồm:
- Đau do cảm thụ thần kinh (nociceptive pain)[2].
- Đau do nguyên nhân thần kinh (neuropathic pain)[2].
- Đau do căn nguyên tâm lý (psychogenic pain)[3].
  
-  Đau do cảm thụ thần kinh (nociceptive pain)
Đau do cảm thụ thần kinh là đau do thái quá về sự kích thích nhận cảm đau tổn thương mà bắt đầu từ các thụ cảm thể nhận cảm đau tổn thương rồi dẫn truyền hướng tâm về thần kinh trung ương; là cơ chế thường gặp nhất trong phần lớn các chứng đau cấp tính (chấn thương nhiễm trùng thoái hóa...). ở giai đoạn mạn tính người ta nhận thấy cơ chế này có trong những bệnh lý tổn thương dai dẳng ví dụ như trong các bệnh lý khớp mạn hay trong ung thư.
Đau do cảm thụ thần kinh thường nhạy cảm với các thuốc giảm đau ngoại vi hay trung ương và các phương pháp phong bế vô cảm.
 
- Đau do nguyên nhân thần kinh (neuropathic pain)
Một số trường hợp đau xảy ra trong bệnh cảnh di chứng tổn thương hay cắt đoạn thần kinh ngoại vi (như trong hiện tượng chi ma zona đau dây V cắt đoạn thần kinh liệt hai chân...). Hiện tượng này được giải thích bằng cơ chế lạc đường dẫn truyền vào như sau:
Sau tổn thương hay cắt đoạn các đường hướng tâm ngoại vi các neurone ở sừng sau tủy sống hay trên tủy có thể trở nên tăng nhạy cảm do những cơ chế còn chưa biết rõ. Có thể là: do suy giảm sự ức chế do bộc lộ các đường kích thích tăng nhạy cảm của những đầu thần kinh bị cắt đoạn sự dẫn truyền qua lại giữa các sợi kề nhau từ sợi này qua sợi khác mọc chồi thần kinh giao cảm... Tính chất đặc biệt của các hiện tượng đau là do yếu tố giao cảm bị lôi cuốn vào quá trình bệnh lý (đau giao cảm). Theo M.I Axtvatxaturop đau cháy là kết quả của kích thích quá mức đồi thị. Đây là một điển hình về cơ chế đau trung ương đối lập với đau do thái quá nhận cảm đau tổn thương do kích thích ngoại vi.

Tuy nhiên thực tế tính phức tạp của cơ chế là vừa trung ương vừa ngoại vi nên người ta thường dùng thuật ngữ đau do nguyên nhân thần kinh (neuropathic) hay đau do bệnh lý thần kinh mà không nghiêng về phần ngoại vi hay trung ương của chứng đau.
Ngoài ra trong lâm sàng còn thường gặp chứng đau hỗn hợp (mixed pain) bao gồm cả cơ chế đau nhận cảm và đau thần kinh.
 
- Đau do căn nguyên tâm lý (psychogenic pain)
Đau do căn nguyên tâm lý có đặc điểm: là những cảm giác bản thể hay nội tạng ám ảnh nhiều hơn là đau thực thụ với sự mô tả phong phú không rõ ràng hoặc luôn thay đổi và thường lan tỏa triệu chứng học không điển hình. Đau chỉ mất khi người bệnh tập trung chú ý một vấn đề gì đó thuốc chống đau không có tác dụng với loại đau này. Thường gặp trong các trường hợp như: bệnh hysteri bệnh rối loạn cảm xúc (trầm cảm) tự kỷ ám thị về bệnh tật bệnh tâm thần phân liệt... Khi phát hiện ra những trường hợp đau do căn nguyên tâm lý cần gửi bệnh nhân đến với các thầy thuốc chuyên khoa tâm lý hay tâm thần để điều trị.
 
- Đau trong bệnh trầm cảm (depression)
là hội chứng rất hay gặp. Nhiều trường hợp trầm cảm là hậu quả của một bệnh đau thực thể có trước sau đó chính trầm cảm quay trở lại làm bệnh lý đau ngày càng tồi tệ hơn tạo nên một vòng xoắn bệnh lý. Bệnh nhân có thể có triệu chứng đau rất đa dạng không phù hợp với tổn thương thực thể sẵn có kèm theo mệt mỏi lo bệnh mất ngủ giảm khả năng làm việc điều trị nhiều nơi không có kết quả. Điều trị các kiểu đau này cần dùng thuốc chống trầm cảm kết hợp với tâm lý liệu pháp.
  
b) Phân loại theo thời gian và tính chất đau.
- Đau cấp tính:
Đau cấp tính (acute pain) là đau mới xuất hiện có cường độ mạnh mẽ có thể được coi là một dấu hiệu báo động hữu ích. Đau cấp giúp việc chẩn đoán cần thiết nhằm xác định chứng đau có nguồn gốc thực thể hay không.
Đau cấp tính bao gồm:
Đau sau phẫu thuật (post operative pain).
Đau sau chấn thương (pain following trauma).
Đau sau bỏng (pain following burn).
Đau sản khoa (obstetric pain).
Đau mạn tính.

- Ngược lại với đau cấp tính đau mạn tính (chronic pain) là chứng đau dai dẳng tái đi tái lại nhiều lần. Nó làm cho cơ thể bị phá hủy về thể lực và cả về tâm lý và xã hội. Bệnh nhân đau mạn tính thường đi điều trị nhiều nơi với nhiều thầy thuốc và các phương pháp điều trị khác nhau nhưng cuối cùng chứng đau vẫn không khỏi hoặc không thuyên giảm. Điều đó làm cho bệnh nhân lo lắng và mất niềm tin và làm cho bệnh tình ngày càng trầm trọng hơn.
Đau mạn tính bao gồm:
Đau lưng và cổ (back and neck pain).
Đau cơ (muscular pain).
Đau sẹo (scar pain).
Đau mặt (facial pain).
Đau khung chậu mạn tính (chronic pelvic pain).
Đau do nguyên nhân thần kinh (neuropathic pain)...
Theo quy ước cổ điển người ta ấn định giới hạn phân cách đau cấp và mạn tính là giữa 3 và 6 tháng. Có thể so sánh đau cấp và đau mạn như sau:
  
Đau cấp:
Mục đích sinh học: Có ích - Bảo vệ Vô ích
Cơ chế gây đau:  Đơn yếu tố
Phản ứng của cơ thể: Phản ứng lại
Yếu tố cảm xúc: Lo lắng
Hành vi thái độ: Phản ứng
Kiểu mẫu Y học kinh điển: Đa chiều thực thể
Mục đích điều trị: Chữa khỏi
  
Đau mạn:
Mục đích sinh học: Bảo vệ Vô ích
Cơ chế gây đau: Đa yếu tố
Phản ứng của cơ thể: Thích nghi dần
Yếu tố cảm xúc : Trầm cảm
Hành vi thái độ: Tìm hiểu
Kiểu mẫu Y học kinh điển: Tâm lý - xã hội
Mục đích điều trị: Tái thích ứng

- Đau ung thư và HIV.
 
*Đau ung thư:
Có thể là đau mạn tính hoặc cấp tính do sự xâm lấn và đè ép của tế bào ung thư vào mô lành gây tổn thương mô và kích thích thụ cảm thể thân thể và nội tạng. Đau có tính chất đau nhức đập nẩy dao đâm chật chội day dứt...
Có thể như chứng đau thần kinh (trung ương hoặc ngoại vi): đau bỏng rát ù tai hoặc tê liệt đau xé đau điện giật...
*Đau do bệnh HIV:
Hệ tiêu hóa: đau miệng họng nấm miệng loét miệng đau và khó nuốt đi lỏng...
Hệ thần kinh: đau đầu đau thần kinh ngoại vi không đối xứng đau đa dây thần kinh.
Hệ cơ xương: viêm khớp đau khớp và cơ do nhiều nguyên nhân khác...


c) Phân loại đau theo khu trú.
- Đau cục bộ (local pain).
Là khi khu trú đau cảm thấy trùng với khu trú quá trình bệnh lý. Chẳng hạn trong viêm dây thần kinh đau cảm thấy suốt dọc dây thần kinh tương ứng đúng với vị trí giải phẫu của dây thần kinh đó.
 
- Đau xuất chiếu (referred pain).
Là khu trú đau không trùng với khu trú của kích thích tại chỗ trong hệ cảm giác. Ví dụ trong chấn thương hoặc u ở vùng đầu gần trung tâm của thân thần kinh cảm giác đau lại xuất hiện ở vùng phân bố của đầu ngoại vi xa trung tâm của dây thần kinh đó.
Như trong chấn thương thần kinh trụ ở vùng khớp khuỷu lại thấy đau ở ngón tay IV và V; kích thích các rễ sau cảm giác của tủy sống gây đau xuất chiếu (đau bắn tia) ở các chi hoặc vành đai quanh thân mà rễ thần kinh đó chi phối.

Một ví dụ nữa về đau kiểu này là hiện tượng đau "chi ma" ở người bị cắt cụt chi thể sự kích thích những dây thần kinh bị cắt đứt ở mỏm cụt gây một cảm giác ảo đau ở bộ phận ngoại vi của chi mà thực tế không còn nữa.
 
-Đau lan xiên.
Là cảm giác đau gây ra do sự lan tỏa từ một nhánh dây thần kinh này sang một nhánh thần kinh khác. Ví dụ khi kích thích đau ở một trong ba nhánh của dây thần kinh sinh ba (dây V) có thể đau lan sang vùng phân bố của hai nhánh kia; một trong những triệu chứng ung thư thanh quản có thể là đau tai do kích thích dây thần kinh thanh quản trên (là một nhánh của dây X cảm giác của thanh quản) đau lan sang vùng nhánh tai cũng của dây X phân bố cho phần sau của ống tai ngoài.

- Đau phản chiếu (reflected pain).
Cũng là một kiểu đau lan xiên nhưng ở đây kích thích đau xuất phát từ nội tạng được lan xiên đến một vùng da nào đó. Hiện tượng này được giải thích bằng thuyết phản chiếu (còn gọi là cơ chế phản xạ đốt đoạn): Tại lớp V sừng sau tủy sống có những neurone đau không đặc hiệu gọi là neurone hội tụ tại đây sẽ hội tụ những đường cảm giác đau hướng tâm xuất phát từ da cơ xương và vùng nội tạng làm cho não khi tiếp nhận thông tin từ dưới lên sẽ không phân biệt được đau có nguồn gốc ở đâu và thường được hiểu nhầm là đau xuất phát từ vùng da tương ứng. Kiểu đau này mang tên hiện tượng cảm giác - nội tạng còn khu vực da xuất hiện đau gọi là vùng Zakharin Head.
  

B) Quan niệm đau nhức của Y học cổ truyền Á đông (Đông Y)
 
Đau nhức Đông y gọi là chứng Thống Tý (Đau tê) chứng đau nhức theo lý luận của Đông Y  chỉ xác định như chứng đau nhức của Phong Thấp. Được chia làm các thể sau:
1.Hành thống (đau di chuyển khắp nơi)
2.Tý thống ( đau buốt tê)
3.Trước thống (đau bại xuội)
4.Nhiệt thống (đau do uất kết phát nhiệt)
 
Nguyên nhân là do chính khí bị suy hư tà khí lộng hành gây nên khí hư huyết uất trệ khí huyết không lưu thông bị bế tắc trong huyết mạch mà gây nên đau nhức và tê buốt. Chủ yếu là do bốn loại tà khí "Phong" "Hàn" "Thấp" "Nhiệt" (Gió Lạnh Ẩm Nóng) thừa cơ xâm nhập kinh lộ cơ nhục khớp xương làm tổn thương huyết mạch và kinh mạch mà gây nên. Biện pháp trị liệu là hoạt huyết đả thông kinh mạch khu trục các loại tà khí Phong- Hàn -Thấp-  Nhiệt ra khỏi cơ thể là hết bệnh
 
Một quan niệm khác của Khí công dưỡng sinh cho rằng đau nhức là do nguyên nhân âm dương không điều hòa làm cho dòng sinh lực Huyết sinh Tinh Tinh sinh Khí Khí sinh Thần bị gián đoạn hay sai lệch bế tắc ở một khâu nào đó mà sinh ra chứng đau nhức ví dụ như Huyết trệ (uất kết nhiễm độc) hay Tinh sai (ăn uống và thu nạp chất không tinh khiết)   hay Khí thiếu (Chính khí suy sức đề kháng yếu) và Thần hư mà gây nên. Biện pháp trị liệu là điều hòa lại khâu bị rối loạn sai lệch trong dòng sinh lực (chân khí) là hết bệnh.
 
Như vậy qua hai khái niệm về đau nhức của Tây Y và Đông y chúng ta thấy Đông Y có quan niệm về của đau nhức khác hẳn Tây y. Những cơ sở bệnh lý của đau nhức mà Tây y có biện pháp dập tắt (bằng hóa dược chất an thần xoa dịu thần kinh....) thì Đông y chỉ coi đó là những biểu hiện hậu quả của những nguyên nhân như Huyết trệ khí hư Kinh mạch không lưu thông....cho nên biện pháp trị liệu không chỉ dừng lại ở chổ tạm thời xóa bỏ những hậu quả bởi vì có xóa bỏ dập tất được biểu hiện của triệu chứng (hành thống tý thống trước thống nhiệt thống...) nhưng nguyên nhân là gốc bệnh như tà khí Phong Hàn Thấp Nhiệt vẫn đang hành hại trong kinh mạch vẫn còn làm cho khí huyết bị bế tắc thì cơn đau vẫn sẽ tái hiện lại mà thôi. Bởi vì có lý luận "khác thường" nhưng "chân lý" đó cho nên Đông Y mới có phương pháp trị liệu đau nhức có hiệu quả hơn Tây y là vậy.
 
Để thấu rõ thực tế hơn chúng ta có lẽ phải tìm hiểu thêm về hai phương pháp trị bệnh Phong Thấp của hai nền y học thì mới vỡ lẽ ra được về luận cứ này. Bởi vì bệnh Phong Thấp cũng là một hội chứng đau nhức mà hiện này Tây y vẫn đang còn chập choạng trong con đường nghiên cứu. Trong khi Đông y đã có những liệu pháp dứt điểm được bệnh này....
 
(Còn nữa)
 
20.01.11
QN-TN

More...

BẪY MUỖI - Thơ Ăn Cắp (đạo) Ý Tưởng

By Lê Thuận Nghĩa

Mấy bữa ni bận quá ít vào mạng đang định làm tiếp cái "Hỏa Xa Luận" nhưng khi lướt một vòng đọc bài bạn bè bắt gặp bài viết "siêu tưởng chân tả" của nữ sĩ Thanh Chung một cây bút hiểm hóc của nhóm Thiền Viện nên có cảm xúc viết nên một bài thơ. Thơ là ưu tiên số 1 vì vậy post trước hỏa xa luận post sau.
  
Bài thơ này cho dù là bài thơ có ý tưởng "đạo" ra từ bài "Dụ Muỗi" của Thanh Chung nhưng đây cũng là một trong những bài thơ tâm đắc từ "nghiệp đọc" của tôi
Dụ Muỗi đọc ở đây:
http://guihuongchogio.vnweblogs.com/post/4523/275356     
    
BẪY MUỖI
 

con muỗi lao vào cái bẫy dụ muỗi
bép
nổ banh xác
anh lao vào môi em
bốp
anh không chết
(chỉ sưng)
và sau đó nổ tung những cuộc tìm
 
có thể anh sẽ chết
ở một cái bẫy khác
cái bẫy của lòng tin
và có thể lần này
thực sự mới banh xác.
 
19.01.11
TN

More...

HỎA XA LUẬN (Phần 3- Bàn về Đau Nhức)

By Lê Thuận Nghĩa

Phần 3: Bàn vê đau nhức
(THỐNG TÝ LUẬN)
  
Đau nhức là một phần của sự sống nó tồn tại và có chức năng cần thiết như những cơ quan cảm thụ khác để bảo đảm cho sự sinh tồn. Da cảm giác được nóng lạnh tai nghe được âm thanh mắt nhìn được ánh sáng và màu sắc mũi có thể ngửi được mùi hương lưỡi cảm giác được mùi vị...và cơ thể cảm giác được sự đau nhức của áp lực va chạm v..v...
  
Mắt mù tai điếc mũi tịt..tuy sự tồn tại sinh tồn gặp rất nhiều khó khăn nhưng không đến nổi nguy hiểm đến tính mạng. Nhưng nếu như da thịt cơ thể không cảm gác được nóng lạnh và đau nhức thì sự sinh tồn có nguy cơ bị đe dọa rất cao. Có cảm giác nóng lạnh đau nhức chính là tín hiệu thông báo sự nguy hiểm đang đe dọa sự sống. Chính vì vậy mà chức năng cảm thụ được đau nhức của cơ thể còn cần thiết hơn cả các chức năng khác như nhìn nghe và khứu giác vị giác..
  

Nhưng nếu như cảm giác đau nhức thái quá kéo dài và lặp đi lặp lại nhiều lần mà cơ thể không có khả năng thích nghi thì lại trở thành một hội chứng làm cho chất lượng cuộc sống khả năng sinh tồn suy giảm đi rất nhiều.  
  
Hội chứng đau nhức (bệnh) tuy không nguy hiểm đến tính mạng như những căn bệnh hiểm nghèo khác nhưng sự tồn tại của nó có nguy cơ "tàn hại" tuổi thọ "khủng bố" sinh lực xáo trộn đời sống tâm sinh sinh lý về hướng tiêu cực nó "bào mòn" và công phá hệ thần kinh dữ dội tạo cho đời sống một áp lực nặng nề khó chịu..
 
Cảm giác đau nhức là một phần của sự sống vì vậy mọi sinh linh vừa sinh ra đời đã có chức năng này nhưng hội chứng đau nhức thì lại phát sinh ra trong quá trình sinh tồn do cơ thể bị rối loạn chức năng bị tổn thương hoặc do áp lực của ngoại cảnh.
   
Từ thuở sơ khai loài người đã biết đến những phương pháp để trị liệu và khống chế cơn đau. Hàng chục ngàn năm về trước người tiền sử đã biết dùng những viên đá nhọn những cành cây dí ấn vào những chỗ đau nhức trên da thịt để làm giảm cơn đau theo giả thuyết của Y lý Á đông thì đó chính là khởi nguồn của bộ môn châm cứu sau này.
  
Hàng ngàn năm trước công nguyên người Hy lạp đã biết dùng đến nước ép vỏ cây liễu để uống chống đau (Asperin). Người Ai Cập và người Trung Quốc cổ đại đã biết dùng đến hổ phách và nhựa của loài cây Boswalle (Weinrauch) để chống bệnh phong thấp.
  
Câu chuyện Hoa Đà mổ nạo xương chống đau cánh tay cho Quan Công trong thời Tam Quốc trước công nguyên chuyện những ngự y thời nữ hoàng Cleopatra đã biết dùng mũi khoan khoan hộp xương sọ để làm thoát máu bầm chống bệnh đau đầu...Chứng tỏ tiền thân của khoa chống đau nhức trong Y khoa đã có từ nhiều ngàn năm trước.
  
Ngày nay khoa học phát triển như vũ bão nhờ công nghệ tin học. Y khoa cũng có những đột phá vĩ đại trong công việc kéo dài tuổi thọ cũng như bảo vệ sức khoẻ chống lại bệnh tật. Công nghệ Gen công nghệ tế bào gốc công nghệ Nano...là những đột phá trong Y khoa mà giới khoa học tự hào cho là có thể "thay thế bàn tay của thượng đế".
   
Người ta còn có thể tạo ra con người từ trong ống nghiệm và còn có thể dùng kỹ thuật bắn phá hạt hạ nguyên tử để đưa con người trở lại thời quá khứ hàng trăm năm hàng ngàn năm về trước... Thế nhưng cho đến thế kỷ 21 này người ta vẫn chưa tìm ra được một biện pháp hữu hiệu có tính chất quyết định dứt điểm để chống lại những căn bệnh tạo nên hội chứng đau nhức. Thậm chí có những căn bệnh đau nhức cho đến ngày nay khoa học y tế vẫn chưa lý giải được nguyên nhân và mầm bệnh.
  
Ta có thể đặt một câu hỏi tại vì sao chuyên khoa chống đau nhức của Y học đã có từ hàng ngàn năm về trước và phát triển rầm rộ cho đến nay mà vẫn đành "thúc thủ bó tay" chỉ dừng lại ở chỗ tạm thời dập tắt triệu chứng. Và biện pháp mà Y học hiện đại cho là tối ưu nhất hiện nay vẫn là thuốc hóa dược những chất độc chỉ có hiệu quả tạm thời cắt cơn đau và có tác dụng phụ rất nguy hiểm. Người chết vì đau nhức hầu như không có nhưng chết vì thuốc chống đau nhức thì vô số!!!.
 
Ngày nay ở các nước phát triển chuyên khoa chống đau nhức (Schmerztherapie) chiếm một vị trí rất rộng lớn trong Y tế. Chỉ riêng thuốc hóa dược chống đau nhức hàng năm người ta ước tính phải phí tổn đến gần 1000 tỷ Đô la. Trong đó phí tổn dành riêng cho bệnh đau nhức của phong thấp hết 128 tỷ Đô la (Theo thống kê của Trung tâm Phòng chống Dịch Bệnh Hoa Kỳ)
   

Một điều cần lưu ý nữa là hiện nay trong các bệnh viện chuyên khoa đau nhức và các trung tâm trị liệu đau nhức (Schmerztherapie) ở phương Tây người ta đã bắt đầu rời xa các hóa dược để quan tâm đến phương pháp tự nhiên trong đó vận động tích cực và vật lý trị liệu được chú ý đến rất nhiều. Đặc biệt là những phương pháp trị liệu của Y học cổ truyền Á đông hầu như chiếm hơn 50% trong các phương pháp trị liệu tại các trung tâm chuyên khoa này trong đó Châm cứu Thảo dược và Khí công được coi là những biện pháp có khả quan và an toàn nhất.
 
Từ những luận cứ đã trình bày trên đã đến lúc chúng ta phải nhìn nhận lại sai lầm căn bản của Y học hiện đại khi đưa ra những khái niệm cơ sở để khám phá cơ chế của đau nhức.
 
Sai lầm cơ bản đó có thể nói là Y học hiện đại đã nhầm lẫn giữa Nguyên NhânTriệu Chứng. Hết 70 - 80 % cái mà Y học hiện đại cho rằng đó là nguyên nhân dẫn đến hội chứng đau nhức thì Y học cổ truyền Á đông cho đó là triệu chứng.
 
Sự nhầm lẫn triệu chứng là nguyên nhân dẫn đến liệu pháp trị liệu chỉ dừng lại ở chỗ dập tắt triệu chứng tạm thời cắt cơn đau chứ không thể nào đào thải và dập tắt được mầm bệnh vĩnh viễn  
đ không cho tái phát trở lại.
  

Vì Y học cổ truyền Á đông xem các nguyên nhân đau nhức của Y học hiện đại là triệu chứng là hậu quả còn mầm bệnh nguyên nhân gây nên đau nhức lại ở một phương diện khác vì vậy YHCTAĐ (y học cổ truyền á đông) có khả quan hơn trong việc chấm dứt vĩnh viễn đau nhức khi đào thải đúng gốc rễ của bệnh lý
  
Ví dụ:
 Bệnh đau dạ dày chẳng hạn. Y học hiện đại cho rằng nguyên nhân chủ yếu gây nên hiện tượng đau dạ dày là vì bị viêm loét do vi khuẩn hoặc là do dịch vị tiết ra quá nhiều axít. Biện pháp trị liệu cơ bản là dùng thuốc kháng sinh hoặc thuốc hóa dược để dung hòa axít gây men chua ở dạ dày. Gần đây Y học hiện đại cũng đã thừa nhận việc viêm loét dạ dày rất dễ xảy ra với những người bị áp lực thần kinh qua lớn như lo nghĩ sợ sệt quá độ hay uất ức nóng giận quá độ mà gây nên. Nhưng khi lý giải vì sao áp lực thần kinh quá độ thì gây nên viêm loét dạ dày thì họ bế tắc không lý giải được.
 
Tất cả các vấn đề mà Y học hiện đại cho là nguyên nhân gây nên "sự cố" đau dạ dày ấy thì YHCTAĐ cho đó chỉ là triệu chứng mà cơn đau chỉ là hậu quả biểu hiện
 
YHCTAĐ gọi chứng đau dạ dày là Vị Thống hay là chứng Can Mộc Phạm Vị. Nguyên nhân dẫn đến viêm ung dạ dày là do từ Gan đưa đến.
 
Vì lo nghĩ quá độ kinh sợ hay uất ức quá độ mà làm tổn thương đến Gan. Theo Y lý á đông Gan thuộc về hành Mộc. Do Gan bị tổn thương nên khí hóa không lưu thông. Khí  mộc của Gan bị uất kết lại tại đó. Cũng theo y lý á đông Vị (dạ dày) thuộc hành Thổ. Theo qui luật sinh khắc của ngũ hành thì hành Mộc khắc chế hành Thổ. Do Can mộc bị uất kết quá độ nên tràn sang hành khắc Vị thổ nên làm cho chính khí của Vị (dạ dày) bị hao tổn mà sinh ra ung tấy viêm loét. Chứng này gọi là chứng Can Mộc Phạm Vị (Khí mộc của Gan hành hại khí thổ của Vị).  Liệu pháp điều trị liệu rất đơn giản là trục tả khí mộc uất kết ở Gan bằng thủ pháp Bình Can Hạ Hỏa (toa Long đởm tả can thang chẳng hạn). Trong đó hạn chế ăn uống các chất cay nóng như bia rượu tiêu ớt để hạn chế duyên uất kết tại gan cũng như thư giãn thả lỏng thân thể và tâm lý để loại bỏ mầm bệnh uất kết tại Gan.
  
Một ví dụ rất điển hình khác là chứng nhiễm phong hàn ở kinh Tam tiêu. Chứng này Tây y cho là bị viêm dây thần kinh tam thoa. Triệu chứng bệnh nhân bị méo mặt méo miệng mắt không nhắm được đau nhức và tê buốt nhiều ngày di chứng nhiều khi để lại liệt méo mặt mắt trố vĩnh viễn. Tây y cho rằng nguyên nhân là do viêm nhiễm vi khuẩn nên biện pháp chủ yếu là cho uống thuốc kháng sinh. Thật là một liệu pháp trị bệnh thật vô lý hậu quả hầu hết bệnh nhân bị chứng này chữa trị bằng kháng sinh đều để lại di chứng tê liệt nữa mặt.
  

Y lý cổ truyền cho đây là chứng nhiễm phong hàn do gió độc hoặc gió lạnh nhiễm vào hình hại ở kinh Tam tiêu. Liệu pháp là khu trục phong hàn ở kinh tam tiêu là được. Biện pháp là cứu gừng hoặc cứu tỏi trên các huyệt ở kinh Tam tiêu đánh gió và làm nóng vòng cổ gáy đề xua đuổi hàn tà. Lưu xuyên kim qua đêm từ huyệt Địa thương đến Giáp xa bệnh tất khỏi ngay.
  
Bệnh mới bị vài ngày có thể 3 đến 5 lần dụng y là khỏi. Bệnh nhiễm từ 3 tuần trở lên thì phải kết hợp với uống thuốc khu trục phong hàn. (Ở phương Tây khí hậu lạnh thời tiết hanh khô nên có nhiều gió độc người Việt mình bị chứng này rất nhiều trong quá trình hành nghề bên này ít nhất tôi từng trị trên cả trăm bênh nhân người Việt bị chứng này rồi)
   
Nói tóm lại có thể vì Y học hiện đại đã nhầm lẫn từ khái niệm cơ bản coi triệu chứng của đau nhức là nguyên nhân chính cho nên mặc dù đã có "thâm niên" hàng ngàn năm nhưng đến nay khoa điều trị đau nhức vẫn không có những thành tựu đáng kể trong việc chống lại hội chứng này.
 
Để hiểu rõ thêm về luận cứ này có lẽ chúng ta phải tìm hiểu khái niệm về đau nhức của Y học hiện đại và Y học cổ truyền (Á đông) như thế nào khi đó chúng ta mới phân biệt để tìm ra cốt lõi của vấn đề được....
 

(Xem tiếp phần 4)
 
(Các bạn đừng ngạc nhiên khi tôi "vòng vo tam quốc" chuyện nhức chuyện tê khi  định trình bày về vòng Thái âm chân khí. Thực ra việc phát hiện được vòng Thái âm chân khí và ảnh hưởng diệu dụng của nó trong việc chống bệnh Phong thấp và phòng chống các bệnh suy giảm chức năng miễn dịch và các bệnh nan y khác là hệ quả của quá trình đi tìm "mẫu số chung" cho một liệu pháp chống đau nhức có tính chất phổ cập hiệu quả và an toàn. Vì vậy khi trình bày về Thái âm chân khí tôi phải điểm qua bước khởi đầu của việc tìm ra vòng Thái âm chân khí là bước có liên quan đến hội chứng đau nhức)
   
13.01.11
QN-TN

More...

HỎA XA LUẬN Phần 2

By Lê Thuận Nghĩa

HỎA XA LUẬN - phần 2
 
(Tiếp theo phần 1)
 
...Con tàu vẫn cứ xoành xoạch lao đi trong đất trời trắng xóa tuyết phủ. Trong tiềm thức tôi vẫn cứ u u tiếng vọng của hai tiếng Nhân Duyên....
  
Đúng vậy tất cả mọi thứ trên thế gian này đều từ chữ Duyên mà nên. Duyên khởi thì hiện hữu Duyên còn thì tồn tại Duyên tận thì hết thì chuyển hóa. Kể cả trái đất này cả vũ trụ bao la với hằng hằng các Thiên hà khác cũng vậy. Là do Duyên kết mà tạo thành. Rồi một ngày nào đó Duyên tận Trái này Thiên hà kia cũng sẽ bổng chốc tan biến đi như khi chưa từng có nó mà thôi.
  
Cả cái Vũ trụ vô cùng vô tận này cũng không thể nào thoát ra khỏi sự tạo tác của chữ Duyên thì thử hỏi một đời người một số phận làm sao mà đi ra ngoài khỏi cảnh giới của chữ Duyên được.
 
..
Mấy ngày trước tôi gọi điện thoại cho hắn kẽ "oan gia" của tôi. Tôi nói với hắn "Tao sẽ đến dự buổi khánh thành trung tâm trị liệu của mày đấy". Hắn trả lời rất tự đắc "Đương nhiên mày phải đến rồi tao biết điều đó chứ nhưng khi đi mày nhớ mang theo tất cả dữ liệu về Thái âm chân khí đấy nhé". Tôi hỏi gần như  quát lên "Để làm gì". Hắn lại hềnh hệch "Thì để làm quà tặng ngày khai trương chứ sao".  Tôi gào hét lên tưởng chừng như vỡ tung luôn cái điện thoại di động "Mày đừng có hòng... mày nằm mơ à". Hắn cũng hét trả lại "Chính mày mới nằm mơ đấy mày đừng có hoang tưởng đem cái thứ dở hơi ấy mà hồi hương bọn mày không phù hợp cho những thứ đó đâu chỉ có bọn tao mới biết ngậm ngải tìm trầm còn bọn mày chỉ biết chụp giật thôi bọn mày không hiểu được thành quả của sự chờ đợi là gì đâu bọn mày chỉ biết bán đi cái tinh túy để mua về cái rã rượi bản chất của nhược tiểu là vậy mà". Tôi điên tiết "Mày câm cái mõm chó của mày lại thằng kẽ cắp kia". Hắn khà khà "Sao lại nóng thế công phu hàm dưỡng của mày đâu rồi". Tôi quặc lại "Hàm dưỡng gì với cái loại đốn mạt mày cho nó phí". Hắn lại hềnh hệch "Nhớ đấy nhé mày không còn con đường khác để chọn đâu mày muốn nó trở thành hiện thực thì chỉ có một con đường duy nhất là đến với bọn tao thôi hãy quên cái mộng tưởng hảo huyền châu về Hợp Phố của mày đi nhé cứ đến xem chúng tao làm như thế nào rồi làm thuê cho tụi tao luôn thể". Tôi cong môi lên xí một phát rõ to "Cho dù tao có chết đói bọn mày có đem kiệu đến võng tao tao cũng đếch thèm làm việc cho tụi mày đâu". Hắn hạ giọng "Vấn đề không phải là đói hay no mà vấn đề ở chỗ chỉ có bọn tao mới có khả năng biến sự điên rồ của mày thành hữu dụng được mà thôi ở trong chăn mới biết chăn có rận tao biết tỏng tòng tong là mày muốn gì nên mày không còn con đường nào khác đâu".
 
Người ta nói đúng chính kẽ thù khôn ngoan mới là người thầy tốt nhất của chúng ta. Có được kẽ thù khôn ngoan thì ta mới có thể trưởng thành và mạnh mẽ được. Tôi cảm thấy hắn đúng là "người thầy"  thoát thai ra từ kẽ thù của đời mình. Và có lẽ cái chữ Duyên đã ràng buộc tôi phải luôn luôn "gắn bó"  với hắn.
 
Tôi cứ đinh ninh mình sẽ không bao giờ ngu xuẩn đến mức đem tâm huyết cả đời mình dâng hiến cho hắn. Nhưng rồi không biết vì một mãnh lực gì đến giờ chót lúc ra ga để đáp chuyến tàu xuyên lục địa đến chỗ hắn tôi lại vội vã nhét toàn bộ tập tài liệu về Thái âm chân khí vào va ly.
 
Con tàu vẫn cứ xoành xoạch lao về phía trước
 
Tôi mở va ly lôi tập tài tiệu để lên bàn mắt tôi trân trân nhìn vào nó hình như tôi có một linh cảm gì đó không tốt bồn chồn bất an giống như trạng thái trước một cuộc chia tay.
 
Nó nằm đó đấy nó là sự "hãnh diện" là niềm hy vọng của tôi đấy. Theo dự định trước tết âm lịch này tôi sẽ cùng Giáo sư M. Ghori ôm nó về miền Trung quê tôi nơi có khí hậu và thổ nhưỡng thích hợp cho những loại thảo dược kích hoạt vòng Thái âm chân khí. Giáo sư M. Ghori đã đồng ý với với tôi như một "hợp đồng" nghề nghiệp. Ông sẽ cùng với tôi về Việt Nam để cùng tôi báo cáo tính khả thi của dự án nuôi trồng thảo dược kích hoạt vòng Thái âm chân khí. Đổi lại tôi cũng sẽ cùng ông đến quê hương của ông để khoách trương Mito- Medizin (Y học Ty Thể) và Bio- Energie Therapie (Liệu pháp Sinh Khí). 
 
   
Giáo sư M.Ghori và Giáo sư Tiến sĩ Y khoa Polajkov
 

 
 Giáo sư Polajkov vừa là Tiến sĩ Y khoa vừa là nhà du hành vũ trụ Nga ông là chủ đề tài nghiên cứu khoa học về học thuyết kinh mạch huyệt của Y lý Á đông đồng thời là cha đẻ của mày Prognos Giáo sư đang đo đạc thử nghiệm trên tàu vũ trụ Mir.
  

Ông bay về Ả rập Xê út hôm 29 tháng 12 để khai trương bệnh viện Mito- Medizin của Ông và đã quay trở lại Đức vào ngày 9 tháng 1 năm nay. Ông nói ông quay trở lại sớm để bảo đảm hợp đồng về miền Trung với tôi.
Nhưng tiếc thay!
 
Cách đây mấy hôm người bạn là doanh nghiệp công nghệ thông tin và cũng là một nhà đầu tư trong ngành thiết bị Y tế ở miền Trung người chịu trách nhiệm chính và cũng là chủ đầu tư cho dự án của chúng tôi gọi điện thoại báo rằng đã mua đứt 25 héc ta rừng đồi cách phía tây thành phố Đồng Hới 20 km. Ông bạn nói rằng mua đứt đất rồi từ từ muốn làm gì thì làm. Chứ để báo cáo xin dự án thì còn khuya mới được thủ tục rất rườm ra phức tạp nếu muốn khởi động được dự án thì cũng phải mất vài năm nữa.
 
Ông bạn tôi không hiểu mục đích của dự án hay tôi không hiểu về tình hình xã hội Việt Nam. Dự án có liên quan đến thảo dược thuộc về lĩnh vực Y tế sản phẩm của dự án liên quan đến lĩnh vực sức khoẻ vì vậy dự án cần phải thông qua hội đồng khoa học của các cơ quan chức năng liên quan đến Y tế. Bạn tôi nghĩ như thế nào mà lại coi dự án như việc mở một trang trại trồng trọt thế mới buồn chứ.
 
Tôi gọi điện thoại từ trên tàu về cho Giáo sư M. Ghori tạm thời hủy bỏ kế hoạch về miền Trung trong dịp Tết. Ông ta mừng rơn nói tôi về gấp để bay sang Ả rập Xê út cùng Ông.  
  
 
Giáo sư M. Ghori đang thảo luận về vòng Thái âm chân khí qua kết quả kiểm nghiệm trên máy Prognos
  
Giáo sư M.Ghori là chủ của tôi bây giờ ông chính là người sáng lập nên Institut für Traditionelle Chinesische Akupunktur (Viện Châm Cứu cổ truyền Trung Y) mà trước đây tôi làm việc ở đó. Giáo sư năm nay đã 75 tuổi đã có hơn 40 năm lăn lộn với nghề Y. Ông đã từng 3 lần phá sản và đã 3 lần bắt đầu từ con số không để gây dựng nên sự nghiệp mà ông đeo đuổi. Hoài bảo của cuộc đời ông là "Y khoa không hóa chất". Hiện nay ông có 2 Trung tâm Y tế nếu kể cả Viện châm cứu đang bị đóng cửa nữa là 3. Và bệnh viện tư nhân mới mở ở Ả rập Xê út nữa là 4. Kể luôn cả những cơ sở bị phá sản trước đây thì bảng hiệu ở bất kỳ một cơ sở nào hay ngay trong cạc vi sít của ông cũng vậy cứ phải luôn luôn có một câu in đậm mở đầu "Therapie Ohne Chemie" (Điều Trị Không Hóa Chất).
  
 
Giáo sư cũng là một "tín đồ" của khí công
 
Phải nói ông ông là người tiên phong trong khoa  Bio- Energie Therapie (Liệu Pháp Năng Lượng Sinh Học hiểu nôm na là Chẩn trị bằng Sinh khí) và cũng là "tín đồ" của Kosmosmedizin (Y học Vũ trụ). Ông cũng như tôi rất "sùng bái" máy đo sinh khí Prognos. Là chiếc máy đánh dấu một bước ngoặt hoành tráng trong  việc giao lưu hai nền y khoa Đông và Tây. Ông là một trong những người đầu tiên sau khi nước Nga Xô Viết sụp đổ đã có công đưa máy Prognos (trước đây chỉ dùng để kiểm tra sức khoẻ cho giới Du hành vũ trụ và giới chính khách cao cấp) sang Tây Âu để ứng dụng phổ cập đại trà.
 
    
  Nói về chiết xuất thảo dược kích hoạt vòng Thái âm chân khí

Trước đây tôi không hiểu vì sao với một người tài ba và đam mê nghề nghiệp như ông lại bị phá sản mấy lần (Hầu như tất cả bệnh viện và các trung tâm trị liệu ở Đức đều thuộc về doanh nghiệp tư nhân).
 
Sau này về làm việc dưới trướng của Ông tôi mới biết ông không bị phá sản mới là chuyện lạ. Ông có thể bỏ ra hàng chục ngàn Euro để mua một thiết bị Y tế mà ông cảm thấy có tác dụng trị một bệnh nào đó cho dù hiệu quả kinh tế của nó gần như bằng 0.
   
 Ví dụ có một cái giường điều trị bằng cát nung chạy bằng điện Ông mua nó với giá 12.000 Euro đến nay đã 3 năm chỉ mới thu vào được đâu 80 Euro. Năm rồi ông mới mua một cái máy châm cứu laser 5 màu giá cả thuế là 62.000 Euro. Hiệu quả trị bệnh của nó không bằng tôi búng mấy cái kim đắc khí. Vì vậy rất ít khi tôi sử dụng tới trừ trường hợp bệnh nhân quá nhạy cảm với kim hoặc châm cho trẻ con. Máy mua về đã hơn 1 năm nhưng tiền thu vào có lẽ chưa được 1000 Euro.
  
Các bạn nên biết rằng bất kỳ cơ sở Y tế nào của Phương Tây cũng đều là những cơ sở kinh doanh. Vì vậy lương tâm nghề nghiệp bao giờ cũng gắn bó chặt chẽ với lợi nhuận nếu có sự mất cân đối anh tiêu tùng ngay. 
  
 
 
Đừng tưởng đây là những cây cảnh trang trí cho vườn hướng dẫn luyện tập khí công nhé những cây trùm chăn này là cây Weichrauch một loại cây đặc thù của vùng Châu Phi và Ấn độ cây này cho một loại nhựa có thể chữa khỏi bệnh Phong Thấp đấy.  Ông Ghori đã đặt mua và chuyên chở từ châu Phi về. Cái vuờn cây trên sân tập Khí công này ông ta tốn ít nhất là hai chục ngàn Euro không phá sản mới là chuyện lạ....!!!
 
 
 
Giáo sư Ghori mấy lần phá sản có lẽ vì ông bị bệnh nghiền máy móc thiết bị y tế. Trong kho lưu trữ của ông có những thiết bị mua về đã hàng chục năm vẫn còn nguyên đai nguyên kiện chưa sử dụng lần nào trong đó có những thiết bị cực đắt như thiết bị điều trị Ozon thiết bị xoá nếp nhăn máy đánh tan mỡ bụng v..v...
 
Đam mê đi tìm liệu pháp tối ưu để trị bệnh phong thấp những thành tựu trong việc phát hiện ra vòng Thái âm chân khí và những thử nghiệm lâm sàng trong việc chiết xuất thảo dược phòng chống ung thư của tôi nếu như không có cái bệnh nghiền thiết bị máy móc y tế của Ông chắc có lẽ tôi sẽ không bao giờ dám mơ tưởng tới.
  
Con tàu vẫn xoành xạch lao đi về phía trước chồng tài liệu về vòng Thái âm chân khí vẫn ở trước mắt nhìn nó tôi chợt mĩm cười không biết có vì nó mà tôi có thể sẽ góp phần làm cho Giáo sư Ghori phá sản thêm một lần nữa không. Nhưng biết làm thế nào được âu đó cũng là từ chữ Duyên mà ra.
  
Và cũng có lẽ vì chưa tới Duyên cho nên giấc mơ hồi hương của tôi vẫn còn là ảo tưởng. Vì chưa tới Duyên nên vòng Thái âm chân khí vẫn chưa "hội ngộ" được với khúc ruột miền Trung quê tôi. Nhưng biết đâu với kẽ oan gia của tôi người đồng nghiệp có nguồn gốc Đại Hán mà tôi căm ghét ấy vòng Thái âm chân khí lại khởi duyên cũng nên.
  
Chuyện đời đâu biết được sẽ đi về đâu. Có lẽ ngồi vô vị trên con tàu xuyên lục địa này cũng là cái duyên để tôi viết lại entry Hỏa Xa Phiếm Luận này. Biết đâu khi tôi tung lên mạng có ai đó là đồng nghiệp đồng cảm với vòng Thái âm chân khí và khởi Duyên cho nó trở thành hiện thực trên quê hương cội nguồn của tôi.
  
Và nếu như nó vẫn còn vô duyên thì cũng coi như đây là một phiếm luận để cười chơi một ý đồ hoang tưởng của một kẽ ba hoa khoác lác vậy...
 
(Còn nữa)
13.01.11
QN-TN

More...

HỎA XA LUẬN (Luận Cứ Y Khoa Từ Chuyến Tàu Xuyên Lục Địa)

By Lê Thuận Nghĩa

Tôi với hắn bằng tuổi nhau. Hắn và tôi cả hai đều tự hào mình là "chính thống". Hắn người Trung Quốc tôi người Việt Nam. Hắn cho rằng hắn chính thống là người xuất xứ từ cái nôi văn hóa Á Đông chính thống. Tôi khẳng định rằng cái nôi văn hóa Á Đông có xuất xứ từ văn hóa lúa nước mà văn hóa lúa nước thì khảo cổ học thế giới đã khẳng định là xuất xứ từ Phong Châu (Phú Thọ) cho nên tôi mới là chính thống.
  
Hắn cho rằng nền tảng của Y lý cổ truyền Á đông là Kinh Dịch là Âm Dưong Ngũ hành mà Kinh Dịch có nguồn gốc từ Trung Quốc nên hắn là chính thống. Tôi nói thầy dạy cho Văn Vương nhà Chu là người Họ Hùng nước Sở mà họ Hùng có nguồn gốc ở Phong Châu cho nên Kinh Dịch thuộc về Phong Châu vì vậy tôi là chính thống.
   
Hắn nói Hoàng Đế Nội Kinh là có từ vua Hoàng Đế của Trung Quốc vì vậy hắn là chính thống. Tôi nói Hoàng Đế có sau Thần Nông Thần Nông là Si-Vưu Si Vưu là thủy tổ của tộc Bách Việt vì vậy tôi là chính thống.
  
Rồi hắn nói hắn học trường lớp khoa bảng từ Học Viện Trung Y Thượng Hải nên hắn là chính thống. Tôi nói y học cổ truyền Á đông vốn là nghề gia truyền mà tôi là hậu duệ truyền thừa của Y gia cho nên tôi là chính thống.
  

Rồi hắn lại nói Đông Y là Chinesische Medizin là Y học của Trung Quốc hắn là người của Trung Quốc cho nên hắn là chính thống. Tôi nói các Y thư cổ truyền của Trung Y đã bị Tần Thủy Hoàng đốt hết rồi cuối đời nhà Thanh vì sợ phương Tây và Nhật Bản cướp mất tàng thư chính thống nên các quan lại và Ngự y người Trung Hoa đã chép giả Y thư viết ngược Y thư và truyền bá vào nhân gian vì vậy hầu hết lý luận căn bản của Y học Á đông đang lưu hành của Trung Hoa là đồ đểu. Chính vì vậy mà các giáo trình căn bản nhất hiện nay của khoa Đông Y đang giảng dạy trong các học viện Trung Y ở Trung Quốc đều lấy Hải Thượng Lãn Ông Y Tông Lĩnh của Danh y Việt Nam làm cơ sở vì vậy tôi là chính thống
  
Tôi và hắn không ai chịu ai về vấn đề này. Cho dù tôi và hắn có cái họ phát âm theo ngôn ngữ phương Tây đều giống nhau. Hắn họ Lý người phương tây gọi hắn là Dr. Lee.  Tôi họ Lê và h gọi tôi là Meister. Le. Cả tôi và hắn đều không ưa nhau có nhiều khi coi nhau như kẻ thù cho dù hắn và tôi đều là mạng Mộc và sinh năm Kỷ Hợi (1959).
  
Hắn có sở trường về thảo dược và vượt trội hơn tôi về các phương toa bí truyền hắn là nhà sưu tập các toa thuốc gia truyền các phương toa trị bệnh dân gian. Tôi giỏi hơn hắn về Khí công và không chịu thua hắn tôi cũng là một nhà sưu tập các tuyệt kỹ Khí công trong dân gian.
   
Chỉ riêng về Châm cứu thì tôi và hắn không phục nhau. Hắn cho rằng hắn đúng hắn mới thật sự là một Châm sư. Tôi nói hắn chỉ là "thợ châm" vì quá phụ thuộc vào sách vở. Tôi mới là thự  sự một Châm sư vì phương pháp thủ huyệt của tôi là tùy chứng tùy thể trạng con bệnh mà định pháp châm. Hắn xí một cái rồi nói như vậy là phóng túng là ngẫu hứng không tuân thủ theo kinh nghiệm tiền nhân. Tôi cũng xí một phát và nói phương châm của hắn cứng như ngói đâu phải bệnh nhân nào cũng có thể trạng giống nhau mà thủ huyệt cho một loại bệnh giống nhau làm vậy có khác nào cái máy châm vì tuyệt kỹ của châm cứu chỉ có được từ việc đúc rút kinh nghiệm trong quá trình trị bệnh của châm sư mà thôi.
  
Tôi học hỏi hắn rất nhiều về Thảo dược và cách gia giảm phương toa. Hắn cũng học được rất nhiều ở tôi về ứng dụng các kỹ thuật Khí công đặc biệt cho trợ giúp liệu pháp trong quá trình trị bệnh. Riêng về châm cứu thì tôi và hắn luôn chống chọi nhau bất phục nhau và có nhiều khi sự bất phục đó còn dẫn đến sự khinh khi nhau và thù ghét nhau.
  
Tuy vậy nhưng cả tôi và hắn cũng đã từng kết hợp với nhau đưa ra một liệu pháp châm cắt cơn đau cực kỳ hiệu nghiệm. Tôi có phương thể châm cho dù đau nhức bất kỳ ở một chổ nào chỉ cần châm đắc khí mấy huyệt Côn Lôn Thận Du Ngoại Quan và Phong Trì thì lập tức cơn đau tạm thời bị cắt ngay. Hắn có phương dùng 3 huyệt trên tai của Nhĩ Châm kích huyệt Thần Du Thượng Thận (huyệt trên vành tai) và thêm một huyệt đối chứng nữa cũng có tác dụng cắt cơn đau rất hiệu quả. Kết hợp 2 phương toa  thể châm và nhĩ này lại tôi và hắn có được một "thần phương" cực kỳ diệu dụng.  
Bất kể người nào bị đau nhức bất kỳ chổ nào kể cả đau răng mụt nhọt viêm nhiễm sưng tấy hay là người bị thần kinh tọa đau lưng đau gối không đứng được không đi được di chuyển thân thể đau đớn lắm mà phải bò lết. Chúng tôi không cần cho uống thuốc gì hết chỉ cần bật 5 đến 7 cái kim trong vòng mấy phút sau người bệnh đã hoàn toàn mất cảm giác đau nhức bại xuội để đi lại dễ dàng...Phương toa này chỉ có tác dụng chữa cấp theo nguyên tắc của châm tê và nâng cao khả năng chịu đau cho bệnh nhân để tạm thời cắt cơn đau chứ không có tác dụng trị dứt gốc bệnh. Tuy không trực tiếp loại bỏ được mầm bệnh nhưng liệu pháp này cũng rất có giá trị trong liệu trình điều trị đau nhức nhất là việc lấy lòng tin của con bệnh.
  
Trong một trận cãi nhau kịch liệt hồi còn làm chung với nhau ở một bệnh viện phục hồi chức năng ở Đức. Trận cãi nhau này trước thì vì chuyên môn châm cứu sau thì đụng chạm đến lòng tự tôn dân tộc. Hắn phỉ báng tôi là người Việt con người của một đất nước nghèo mạt hạng. Tôi chửi hắn là công dân của một đất nước chuyên sản xuất hàng đểu và chuyên đi ăn cắp công nghệ của các dân tộc khác. Trận đụng độ đó đi đến kết quả là tôi và hắn thề sẽ không bao giờ gặp mặt nhau nhau nữa.
  
Nhưng sự đời thật oái oăm đôi khi bạn bè chí cốt người thân yêu ruột thịt những người mà ta không hề muốn xa thì lại đằng đẳng xa cách còn kẽ "oan gia" thì có muốn tránh thì cũng không tránh được cứ phải luôn đụng độ gặp mặt.
  
Ngày tôi nhờ máy Prognos tìm ra được nguyên lý vận động của vòng Thái âm chân khí và ảnh hưởng của nó có thể lý giải đến tận gốc rễ của các bệnh hiểm nghèo nhất là có thể kích hoạt nó để có thể phòng ngừa và chữa trị các căn bệnh của thời đại như bệnh Ung thư bệnh Phong thấp Tiểu đường...Tôi gọi điện khoe với hắn nhằm cho hắn biết thế nào là "lễ độ" của người chính thống Đông y. Hắn đang làm việc ở Thụy Sĩ bay vù một phát sang ngay. Thấy có người hiểu mình và thấu ngộ ra nhanh vấn đề trọng yếu nên tôi gác lại thù riêng mà sẻ chia với hắn.
 
Lúc hắn chiết xuất ra được một thứ tinh dầu có từ vỏ quả lựu có tác dụng trực tiếp kích hoạt rất rõ ràng lên huyệt Phục Lưu để tăng khí lực cho vòng tuần hoàn Thái âm chân khí hắn lại cũng gác thù riêng gọi điện cho tôi sang để chia sẻ và thử nghiệm lâm sàng trên bệnh nhân.
 
Chia sẻ xong lại thù hằn khích bác nhau. Hắn nghếch mũi lên nói Trung Hoa sẽ thống trị toàn thế giới về cả kinh tế quân sự và khoa học Trung Quốc là chính thống. Tôi lại nói Trung Hoa không những là tên kẽ cắp mà còn là một tên cướp cạn chả có ai nói rằng kẽ cắp và kẽ cướp là chính thống cả.
 
Chửi nhau một lại thề không thèm nhìn mặt nhau nữa. Người phụ tá của hắn là một thiếu phụ Việt gốc Hoa người Chợ lớn. Thấy tôi và hắn mới thủ thỉ thù thì chuyện chuyên môn xong lại quay ra mạt sát nhau không thương tiếc nên dàn hòa: "nguyên lý chữa bệnh tận gốc rễ đào thải từ mầm bệnh có nguồn gốc sau xa và vi tế nhất của y lý cổ truyền Á đông thực sự là chính thống Y khoa". Tôi nói "chứ sao" hắn nói "hảo hảo". Rồi chia tay không thèm cả bắt tay nhau chỉ nhìn nhau qua con mắt hằn học mà thôi.
  
Trước tết Dương lịch hắn gọi điện thoại cho tôi hoanh hoang tự đắc nói hắn và một bác sĩ người Indonesia gốc Hoa và một chuyên viên Y tế người Tân Cương đã thành lập một trung tâm trị liệu gần Podkamena Tuguska Sibiri của Nga hắn cười hềnh hệch nói hắn sẽ chinh phục nền y học vũ trụ của Nga bằng "bột nghệ" Tây Tạng.
  
Hắn nói đầu năm nay ngày 11 tháng 1 năm 20011 tức là ngày có 5 số 1 (11.1.11) là ngày Chí Dương bảo mệnh bọn hắn sẽ khai trương trung tâm y tế có tên China-Tibet-Medizin để "thống trị" nước  Nga. Và hắn rất ngạo nghễ mời tôi sang cho biết lễ khai trương của tụi hắn hoành tráng như thế nào.  
  
Thấy hắn quá khoác lác hắn cố tình mời tôi sang dự lễ khai trương với toàn bộ chi phí đi lại là ăn nghỉ chỉ để tôi phải lác mắt trước thành công của hắn cho bỏ ghét đó thôi. Nên tôi thẳng thừng từ chối cũng từ chối rất ngạo nghễ tôi nói cái trung tâm của tụi mày là cái khỉ khô gì mà tao phải đi.
  
Hắn trịnh trọng tuyên bố: "logo và bảng hiệu của trung tâm của tụi nó là Bánh xe luân hồi là biểu tượng của Phật Giáo tiểu thừa đấy một trung tâm Y tế lấy Bánh Xe Sự Sống của Phật Giáo làm nền tảng Pháp lý và Y lý chẳng phải là đó là trăn trở và suy ngẫm suốt trong nghiêp Y của mày đó ư mày không đi thì đừng có mà hối hận nhé".
   
Nghe hắn nói vậy cho dù ghét hắn đến bao nhiêu có đố kỵ với thành công trong việc "vác chuông đi đánh xứ người" của hắn bao nhiêu thì tôi cũng phải động lòng và muốn đến xem cái cơ sở của tụi hắn như thế nào. Nhất là hắn đã điểm đúng "tử huyệt" của tôi.
 
Vì hắn biết bấy lâu tôi luôn lấy Luân Xa ra để lý giải những căn nguyên vi tế nhất của mầm bệnh hắn biết tôi đã từng giải mã những Y lý và những thủ pháp những tuyệt kỹ diệu dụng của các phương toa bí truyền bằng thuyết Nhân Quả và thuyết Nhân Duyên trong mật ngữ của vòng Luân Xa. Tôi đã dùng Mật Ngữ của Luân xa để khai mở cho những uẩn khúc của tôi về Đông Y và cũng chính nhờ Mật Ngữ của Luân Xa mà tôi đã thấu ngộ ra những tinh hoa những đóa kỳ hoa diệu thảo trong cánh rừng đại ngàn bất tận của Y lý cổ truyền.
  
Hắn đã điểm trúng "tử huyệt" của tôi nên tôi phải ngoan ngoãn tuân lệnh hắn dù rất căm ghét hắn để đáp chuyến tàu xuyên lục địa đi đến xứ sở của băng tuyết trong mùa đông giá lạnh.
   
Con tàu xoành xạch lao đi trong bầu trời ảm đạm trắng buốt những cái bánh tàu nhỏ nhoi chỉ xấp xỉ bằng một vòng tay ôm nhưng nó cứ quay vòng là trải dài vòng quay của nó lên hai đường ray để rồi như thể lao tới phía trước xuyên qua chiều dài của trái dất.
  
Chỉ là một bánh xe nhỏ như vòng tay ôm nhưng vòng luân chuyển của nó có thể đưa ta đến tận cùng của thế giới. Bức v Vòng Luân Xa hay còn gọi là Bánh Xe Luân Hồi Bánh Xe Sự Sống là biểu tượng của Phật Giáo Tiểu Thừa cũng như vậy đó chỉ là một bức họa đơn sơ nhưng trong đó tàng tích toàn bộ Giáo lý huyền nhiệm toàn bộ trăm ngàn pho kinh kệ đồ sộ của Phật Giáo.
 
Không những thế nó còn tàng chứa hầu như tất cả mọi nền triết học của Đông Tây Kim Cổ. Ở đó có đúc kết tất cả những hiểu biết về Sự sống của Nhân loại ngoài ra còn tàng chứa nhiều minh triết về sự hình thành vũ trụ bao la để có thể lý giải được tất cả những gì đang hiện hữu trong thiên nhiên trong con người và trong cả thế giới tâm linh huyền bí.
   
Tôi cũng nhờ Mật ngữ trong Luân Xa để thấu hiểu những huyền vi kỳ ảo trong nghề nghiệp Đông Y của mình. Nhờ Luân Xa tôi mới thấu ngộ được cái luật Nhân Quả trong mầm móng của bệnh tật.
  
Con người tự gieo cho mình những Nhân xấu (bia rượu thuốc lá sinh hoạt trác táng bừa bãi ăn uống vô độ vô chừng...) khí hậu môi trường gieo vào cơ thể những Nhân không lành (lạnh nóng ẩm thấp..sóng ác xạ độc hóa dược...) cho nên mới đơm hoa và kết Quả xấu (bệnh). Xác định được đâu là Nhân xấu để tránh xa đừng tiếp cận đừng gieo rắc là phòng bệnh. Đào bới chặt phạt bứng những cái Nhân ấy đi là chữa bệnh. Vậy là bình an đâu có sợ gì bệnh tật nữa.
 
Và lỡ khi đã gieo cái Nhân xấu ấy rồi hoặc cái Nhân xấu đã xâm nhập sẳn có trong cơ thể rồi cũng chưa chắc gì đã phát triển thành bệnh khi chưa đủ nhân duyên. Vòng ngoài cùng trong bức họa Luân Xa mô tả về thuyết Thập Nhị Nhân Duyên đã lý giải cái Y lý này rất cụ thể.

  
Thực tế thì không những Y lý Á đông mà Y học hiện đại cũng vậy. Liệu pháp chữa trị gì cũng không ngoài mục đích ngăn chặn những Nhân Duyên giúp Nhân xấu phát triển và bồi đắp thêm những Nhân Duyên giúp cho Nhân lành phát triển.
 
Chỉ ví dụ một đơn giản vậy như thế này:  Nếu một bệnh nhân bị bệnh đau nhức thần kinh gân cơ do áp huyết thấp thiếu máu não hay thiếu máu cục bộ ở nơi đau do nghẽn tắc không thông sẽ làm đau nhức lan tỏa chạy từ chỗ này đến chỗ khác cơ thể mất sức chán nản sợ sệt hồi hộp hơi thở yếu tim đập nhanh mất ngủ người gầy ốm suy nhược thần kinh thân nhiệt không đủ sợ lạnh.
   
Cách chữa cần phải loại bỏ duyên xấu là những chất chua như cam chanh bưởi vit.C dưa chua....Lý thuyết đông y nói gan sợ chua gan chứa máu chất chua sẽ phá máu phá hủy hồng cầu. Chức năng của gan là phải cung cấp bơm máu đủ cho tim hoạt động nhưng nhiều chất chua đã làm cho chức năng gan bị hư về ngũ hành gan thuộc mộc sẽ nuôi tâm hỏa nhưng vì gan hư làm tim không đủ số lượng máu để tuần hoàn khắp cơ thể da thịt gân cơ nên các sợi máu li ty gọi là thần kinh bị co rút mới bị đau.
  
Tây y thì thấy nguyên nhân đau do sợi thần kinh thuộc tâm thần cho uống thuốc tâm thần làm giảm sụ hưng phấn hay ức chế. Còn đông y cho tất cả các triệu chứng kể là hậu qủa của nguyên nhân do chức năng tuần hoàn máu của tim không đủ gọi là chứng tâm hư vừa khí vừa huyết cho nên khi chữa theo nguyên tắc con hư bổ mẹ có nghĩa là tim hư do gan hư phải bổ gan. Muốn chữa gan phải chữa 2 cách cách thứ nhất loại duyên xấu tăng duyên tốt. Theo lý nhân duyên nguyên nhân gan hư hàn do duyên xấu làm hư là những chất chua chất lạnh phải bỏ. Tạo duyên tốt cho gan cần phải trợ duyên bằng những chất tăng hỏa tăng máu tăng khí làm cho gan phục hồi cả 3 chức năng gọi là can âm (huyết) can dương (khí) và can hỏa nó cần thịt đỏ củ dền gia vị gừng hành tiêu ớt tỏi sò huyết hoặc thuốc bổ máu đương quy...
 
Nếu bệnh đau nhức thần kinh gân cơ do áp huyết cao làm thần kinh ngoại biên đi qua cổ gáy vai tay bị co rút áp lực ống mạch căng bị nghẽn tắc nơi khe kẽ quanh các khớp cổ gáy vai cổ tay ngón tay tây y gọi là thấp khớp những điểm đau không lan tỏa chỉ ở một chỗ có triệu chứng mất ngủ nhức đầu đau nhức cổ gáy vai tay lưng thân nhiệt cao trán và lòng bàn tay nóng tinh thần căng thẳng hay cáu giận càng cáu giận càng đau ăn nhiều căng tức ngực bụng táo bón...
  
Tất cả những triệu chứng này tây y cho là nguyên nhân còn đông y cho là hậu qủa tất yếu của chứng tâm hỏa vượng hay tâm nhiệt thịnh. Cách chữa theo đông y là mẹ thực tả con tâm hỏa là mẹ của thổ thuộc tỳ và vị. Nếu tâm nhiệt có thể làm tỳ nhiệt vị nhiệt hoặc cả hai nếu tỳ nhiệt làm ra bệnh tiểu đường da thịt nóng dễ nổi vết bầm khi đụng chạm vị nhiệt thì ưa đói ăn hoài cả tỳ vị nhiệt gây ra bệnh thấp khớp xương hóa vôi áp huyết cao táo bón khớp ngón tay cứng đau..... Có nguyên nhân là chứng tâm hỏa vượng hay tâm nhiệt thịnh chữa theo đối chứng trị liệu của đông y hỏa vượng sẽ làm bớt vượng nhiệt thịnh sẽ làm mất nhiệt bằng cách cắt duyên xấu cho bệnh không đủ điều kiện xấu phát triển thành bệnh nặng và thêm duyên tốt giúp phục hồi chức năng khí hóa của tạng phủ cho mau khỏi bệnh.
  
Những duyên xấu do ăn uống trong trường hợp này là các chất cay nóng khô chất kích thích thần kinh hưng phấn như đường calcium bia coca cà phê thuốc lá chocolat thức ăn khô như pizza khô mực chiên xào nhiều dầu chiên trái cây nhiệt đới nóng như nhãn xoài mít sầu riêng sinh tố B12 chất sắt....Những chất này là duyên xấu cho chứng bệnh thực nhưng lại là duyên tốt cho bệnh thuộc hư chứng kể trên vì nó làm tăng khí tăng huyết làm cao áo huyết tăng nhiệt.
  
Ngược lại những chất tạo duyên xấu của bệnh thuộc hư chứng làm mất máu mất khí mất nhiệt lại cần thiết trở thành duyên tốt để điều chỉnh phục hồi chức năng tạng phủ cho bệnh thuộc thực chứng.
  
  Hoặc như bệnh ung thu chẳng hạn. Bệnh ung thư là bệnh của tế bào tế bào bị rối loạn chức năng không tuân thủ phát triển theo form của cấu tại sinh học. Cơ thể ta có hàng nghìn tỷ tế bào trong một giây có hàng chục triệu tế bào mới được sinh ra nhờ phân chia tế bào trong hàng tỷ tỷ lượt phân chia đó ắt có lần có sai lầm vì vậy sẽ tạo ra một loại tế bào không đúng chuẩn đó là tế bào ung thư. Có nghĩa là ở bất kỳ thời điểm nào trong có thể con người cũng đều có tế bào ung thư cả nhưng bệnh ung thư chỉ xảy ra khi các tế bào đó có duyên cùng một loại ở vào cùng một thời điểm gặp nhau ở cùng một cơ quan nào đó và cùng may mắn thoát khỏi sự kiểm soát của cơ thể thì mới có thể hình thành khối ung thư mà thôi. Vậy thì biện pháp để chống ung thư tốt nhất là ngăn chặn những Nhân Duyên để cho các tế báo Ung thư gặp nhau ở vào một thời điểm nào đó ở cùng một bộ phận nào đó là được. Đâu cần phải hãi hùng khiếp đảm trước căn bệnh này chứ. Ngăn chặn Nhân  Duyên này tốt nhất vẫn là các biện pháp ăn uống và sinh hoạt an toàn như ăn uống nhiều thứ như đèn đường " Đỏ-Vàng- Xanh "chẳng hạn (Đỏ của cà chua Vàng của chanh tươi Xanh của xà lách) và luyện tập dưỡng sinh như Khí công Yoga...
 
Tóm lại chữa bệnh là phải ngăn ngừa không tạo duyên cho nhân phát triển là cách ngừa bệnh tốt nhất ...giống như nhân của một hạt giống xấu sẽ phát triển ra cây xấu nếu có đủ duyên là bón phân tưới nước... muốn không cho cây xấu (là đã có nhân bệnh) không phát triển thì đừng tưới nước bón phân ngược lại giống cây tốt là nhân tốt thiếu duyên là bón phân tưới nước nhân cũng không phát triển được.
  
Trên đó là nói về những bệnh tật cụ thể còn nếu như ứng dụ thuyết Nhân duyên vào những nguyên lý cơ bản của Y lý cũng không có gì khác biệt.
  

Con tàu vẫn xoành xoạch lao đi tôi bật laptop lên xem tin tức Y tế trên các trang mạng.

- Báo Đức đưa tin theo thống kê trên thế giới cứ 5 trường hợp bị bệnh thì có 2 trường hợp bị chẩn đoán sai 1 trường hợp điều trị sai thuốc và phương pháp chỉ còn có 2 trường hợp là chẩn trị đúng. Kinh dị!!!
 
- Báo Đức đưa tin nước Đức có hơn 80 triệu dân thì có 25 triệu người Đức bị chứng đau đầu có 35 triệu người Đức bị chứng đau lưng đau vai cổ và có gần 60 triệu người bị bệnh Phong thấp. Khiếp đảm!!!
 
- Người Mỹ dự đoán đến năm 2035 có khoảng 200 triệu cư dân Mỹ bị bệnh phong thấp không có cách chữa. Hãi hùng!!!
 
- Báo Việt Nam đưa tin do khí hậu nước ta ẩm thấp nên có đến 90% người dân mắc bệnh phong thấp và thống kê năm 2010 có 250.000 ca phát hiện ung thư mới. Thất thần!!!!
 
- Báo Nga đưa tin đã phát hiện ra những cặp gen liên quan đến bệnh phong thấp. Kinh ngạc!!!
 
- Báo Trung Quốc đưa tin: Giới chuyên gia y tế Trung Quốc một lần nữa cảnh báo người dân nước này về việc lạm dụng thuốc dẫn đến hậu quả hơn 1 triệu trẻ em bị điếc. Con số này tăng gấp 100 lần so với cảnh báo lần đầu năm 2007 chỉ với 10.000 trẻ Nhân Dân Nhật Báo đăng tải.
Ông Dương Chí Ngân giám đốc ngành y học hành vi thuộc Hiệp hội Y khoa Trung Quốc cho biết cứ 1 8 triệu trẻ em bị điếc ở nước này thì có 60% bị ảnh hưởng do dùng quá liều thuốc đặc biệt là thuốc kháng sinh Streptomycin. Theo Nhật Báo Trung Quốc mỗi năm nước này có 200.000 người chết do sốc thuốc và 40% trong đó liên quan đến lạm dụng thuốc kháng sinh. Nhiều gia đình Trung Quốc có thói quen trữ các loại thuốc kháng sinh tại nhà và tự uống mà không cần chỉ định của bác sĩ.
Khoảng 70% bệnh nhân nhập viện đều được bác sĩ kê toa thuốc kháng sinh nhưng gần 80% các đơn thuốc kháng sinh này là không cần thiết đối với bệnh tình của bệnh nhân. Táng đởm kinh hồn!!!

  
Báo Việt lại đưa tin:
Nghĩ củ dền có tác dụng bổ máu chị Lan nhà ở Bình Chánh nấu thành nước rồi pha sữa cho con người mẹ còn pha củ dền vào nước cho con uống. Chỉ sau ba ngày thực hiện thực đơn bé Hải con chị bỗng tím tái và khó thở.
Tại Bệnh viện Nhi Đồng 2 TP HCM bé Hải có dấu hiệu ngưng thở do suy hô hấp toàn thân tím đen. Phải mất hơn hai ngày cấp cứu tích cực các bác sĩ mới may mắn cứu được bệnh nhi. Nguyên nhân được xác định là do thành phần có trong củ dền gây thiếu ôxy máu. Cùng suy nghĩ ăn nhiều củ dền sẽ "hồi máu" sau khi con bị đứt tay mất nhiều máu chị Uyên nhà ở Long An cũng buộc cậu con trai 1 tuổi ăn nhiều củ dền luộc và uống nước củ dền. Hậu quả sau 4 ngày liền "gồng máu" bằng đủ các món ăn chế biến từ củ dền bé Hậu vào Bệnh viện Nhi Đồng 1 trong tình trạng tím tái loạn nhịp tim. Khiếp vía!!!
....

Con tàu vẫn cứ xoành xoạch lao đi tôi thẩn thờ nhìn ra ngoài ô cửa không phải là cảnh vật vùn vụt trôi qua mà tôi cảm thấy tất cả như dừng lại dừng lại và hiện rõ ra trước mắt mình bức họa của Luân Xa và trong tiếng cà roạt ..cà roạt..của bánh xe xiết vào đường ray tôi cũng nghe đâu đó từ trong sâu thẳm của tiềm thức mình vang lên những âm thanh huyền diệu...Nhân duyên....Nhân duyên...
 
(Còn nữa)
___
Phụ lục về bức họa Luân Xa:
 
12.01.11
QN-TN

More...

10 công nghệ “xanh” của thế giới năm 2010

By Lê Thuận Nghĩa

Hàng loạt sản phẩm và công nghệ "xanh" đã ra đời năm 2010 như du thuyền chạy bằng năng lượng mặt trời trang trại gió lớn nhất hành tinh ở Anh hay máy bay chạy bằng năng lượng mặt trời...


Châu Âu đang hợp tác để xây dựng hệ thống lưới điện năng lượng tái tạo. Hệ thống này sẽ kết nối các tua bin ở ngoài bờ biển Scotland với các tấm thu năng lượng mặt trời lớn ở Đức và kết nối với năng lượng tạo ra từ những con sóng đổ vào bờ biển Đan Mạch và Bỉ với các đập thủy điện ở Na Uy. Dự án lưới điện năng lượng tái tạo đầu tiên của châu Âu đã trở thành hiện thực hồi tháng 1/2010 khi 9 quốc gia chính thức phác thảo các kế hoạch kết nối các dự án năng lượng sạch quanh Biển Bắc.



Tháng 9/2010 Anh đã khai trương trang trại năng lượng gió lớn nhất thế giới tại Thanet ngoài khơi bờ biển vùng Kent. Với 100 tua bin được đặt thành 8 hàng trang trại này tạo ra 300MG điện mỗi năm đủ dùng cho khoảng 200.000 hộ gia đình.


Các kỹ sư đã đua nhau thiết kế các tua bin gió ngoài khơi lớn nhất thế giới. Và đây là mô hình tua bin gió ngoài khơi khổng lồ tên gọi Aerogenerator X do công ty Arup của Anh thiết kế. Aerogenerator X dự kiến có công suất khoảng 10KW.



Solar Impulse chiếc máy bay thí nghiệm chạy bằng năng lượng mặt trời đầu tiên trên thế giới đã hoàn thành chuyến bay thử nghiệm kéo dài 24 giờ. Kỷ lục này đã đưa nó tiến gần hơn tới mục tiêu cuối cùng của các nhà thiết kế là bay vòng quanh thế giới chỉ sử dụng năng lượng mặt trời.



Turanor du thuyền lớn nhất thế giới chạy hoàn toàn bằng năng lượng mặt trời do Đức chế tạo đã rẽ sóng mang lại những hi vọng về tương lai năng lượng trời. Turanor được đóng tại xưởng đóng tàu Knierim Yachtbau ở Kiel Đức và mất 14 tháng để hoàn thành với chi phí lên tới 17 triệu USD.


Hồi tháng 8 tua bin thủy triều lớn nhất thế giới đã được cho ra mắt tại một cơ sở ở Invergordon Scotland. Tua bin AK1000 được phát triển bởi Tập đoàn tài nguyên Atlantis có khả năng tạo ra điện đủ cung cấp cho 1.000 hộ gia đình. Nó được thiết kế để chịu được thời tiết khắc nghiệt và các vùng biển thoáng động như bờ biển Scotland.



Tháp Strata Razor là một công trình thân thiện với môi trường. Tháp này tọa lạc ở thủ đô London sẽ tạo ra gần 10% điện năng mà tòa nhà cần thông qua 3 tua bin đặt trên nóc nhà.



Trung Quốc đang chiếm ưu thế trong cuộc đua toàn cầu nhằm tạo việc làm xanh trong các lĩnh vực từ tấm thu năng lượng mặt trời cho tới công nghệ chiếu sáng tiên tiến một báo cáo hàng năm của công ty nghiên cứu công nghệ xanh Clean Edge cho biết hồi tháng 10.



Tháng 12/2010 thủ đô London đã cho ra mắt chiếc xe buýt chạy bằng hydro đầu tiên của Anh. Chiếc xe sẽ được đưa vào phục vụ trong một tuyến du lịch nổi tiếng.



Wave Hub thiết bị công nghệ biển tiên phong đã được thả xuống thành công ngoài khơi bờ biển Cornwall Anh hồi tháng 9 để thu năng lượng sóng.


An Bình
Theo Guardian

More...

THẾ THÔI (Lục Bát)

By Lê Thuận Nghĩa

Rút cuộc rồi tuyết thế thôi
Ngày đông là của đất trời đen thui
  
Rút cuộc rồi chỉ bùi ngùi
Em là em của trong tôi để tìm

Rút cuộc rồi là lặng thinh
Ngày đi em cũ mùa tìm mới tôi
...
 
09.01.11
TN

More...

Dáng Cà Phê (thơ)

By Lê Thuận Nghĩa


Buổi chiều trôi ngang
Đêm về kẻ dọc
Mắt đóng đinh
Câu rút một ngày mai
 
Tý tách cà phê
Nâu màu hạnh nguyện
Anh thấy em ngồi
Đắng ngoét từng thớ quên

Anh thấy em ngồi
Quắt vắt lời nguyền
 
Buổi chiều trôi ngang
Đêm về kẻ dọc
Em treo ngày mình
Lên nâu
Em treo mùa mình
Lên rơi
Đóng đinh một buổi người


 
09.01.11
TN

More...

GIẤC CUỘI (Thơ)

By Lê Thuận Nghĩa

GIẤC CUỘI
    
Giấc ngủ như đàn vịt trời
Đêm là cánh đồng có cánh
Anh đang lùa đàn vịt trời vào cánh đồng
Và chăn những cơn em
 
07.01.11
TN

More...