VẾT RÊU RIÊNG (thơ)

By Lê Thuận Nghĩa


Đời rất rộng mà mình như góc ổ
Cứ lăn tăn với hang hốc tâm tư
Đời đẹp lắm muôn hoa thơm cỏ lạ
Mình quẩn quanh lủm chủm bóng tù mù
    
Em là lá là nắng là gió
Là phượng hồng mây biếc tím bằng lăng
Anh khúm núm lấm lem và lọ mọ
Là ất ơ là đứa là thằng
    
Em lấp lánh long lanh loa lõa lạ
Anh lẻ loi le lói lặng lỳ lỳ
Đời cho em muôn sắc màu sáng giá
Chỉ dành anh một nẻo của tình si
      
Và nẻo ấy đã quây anh thành hang ổ
Bốn mùa qua bốn vách động man di
Em là lá là nắng là gió
Để anh thành khú đế bữa so bì
     
Đời rất rộng anh chỉ cần ổ chuột
Vừa vặn mình đủ đặt lối chân đi
Nhường em hết cả đất trời ấy đấy
Cả mênh mông nâm nẫm mộng xuân thì
     
Đời đẹp lắm hoa thơm và cỏ lạ
Em cuốn vào mà đỉnh cuộc mơ tiên
Anh chỉ cần đôi nhành rơm rạ nhỏ
Quây ổ mình bằng mấy cọng thơ hiền.
     
Anh chỉ cần b yêu còn góc ẩm
Để ngả mình trên một thảm rêu riêng
...
     
09.08.10
TN

More...

NGŨ HÀNH MÊ TÔNG BỘ (Khí Công)

By Lê Thuận Nghĩa

 
_____
Trong entry Xe Đạp Ơi nói về sự kỳ diệu của việc luyện tập bằng cách đi xe đạp để trị những bệnh hiểm nghèo tôi có nhắc đến một môn khí công của người Tây Tạng có cách vận động như đạp xe đạp đó là môn Ngũ Hành Mê Tông Bộ.
 
Đây là một môn khí công có tác dụng thanh trọc cơ thể đào thải tạp chất để làm cho cơ thể tinh khiết trong sạch và khí hóa nhẹ nhàng. Theo như những người truyền thụ môn khí công này thì Ngũ Hành Mê Tông Bộ là một môn Khinh Công người luyện tập thường xuyên sẽ có một cơ thể nhẹ như tơ bấc và có khả năng "đi mây về gió".  Môn khí công này xuất xứ từ Ngũ Đài Sơn và vùng Tây Cương do các đạo sĩ sáng chế ra và luyện tập nhằm đạt được quyền năng đi lại dễ dàng trong vùng đồi núi hiểm trở ở vùng này.
  
Do có tác dụng thanh tẩy cơ thể diệu kỳ nên những thầy thuốc trong hệ thống Tebet Medizin đã hướng dẫn cho người bệnh dùng để trị bệnh đặc biệt là những căn bệnh có liên quan đến sự nhiểm độc của cơ thể.
 
Qua quá trình thể nghiệm lâm sàng Các Đại Sư trong Tibet Medizin cho rằng Ngũ Hành Mê Tông Bộ có tác dụng rất đặc biệt để trị bệnh Tiểu Đường bệnh Áp Suất Máu Cao và có tác dụng rất rõ rệt trong việc hoạt huyết não. Ngoài ra Ngũ Hành Mê Tông Bộ còn có khả năng phục hồi cơ thể cho người bệnh bị ung thư đã qua Xạ trị và Hóa trị rất tốt. Cũng theo các vị Đại sư thì Ngũ Hành Mê Tông Bộ còn có chức năng điều hòa và phục hồi cơ thể cao nên đây là một môn Khí Công có khả năng phòng chống Ung thư tốt nhất.
  
Tôi chưa có thời gian trì luyện môn Khí Công này nhưng đã được sự chỉ dạy trực tiếp nắm rõ được ý chỉ truyền thừa của môn Khí Công từ các Đại sư Tây Tạng. Tuy không trì luyện nhưng tôi đã trực tiếp hướng dẫn cho nhiều bệnh nhân bị bệnh tiểu đường bệnh áp suất máu cao các bệnh có liên quan đến Não Bộ (Rối loạn tiền đình pakinson mất ngủ hoảng loạn tinh thần...). Cũng như các bệnh về hệ vận động đặc biệt là các bệnh về khớp chân khớp gối thần kinh tọa. Trong đó tác dụng giải độc và phục hồi chức năng của cơ thể cho bệnh nhân ung thư sau hóa xạ trị liệu rất tốt.
 
Nếu nói về sự vận động tích cực để Ngũ Hành Mê Tông Bộ có tác dụng với các bệnh về hệ vận động thì rất dễ hiểu và dễ dàng chấp nhận. Nhưng lý giải Ngũ Hành Mê Tông Bộ tại sao lại có tác dụng giải độc và có khả năng trị bệnh tiểu đường và bệnh áp suốt máu cao cũng như rất tốt cho việc hoạt não thì khá mơ hồ.
 
Theo tôi vì Ngũ Hành Mê Tông Bộ là một môn Võ Học dùng để luyện Khinh Công (đi lại nhẹ nhàng). Cho nên môn Khí Công này phải có tác dụng đặc biệt để làm cho cơ thể nhẹ nhàng nhờ vào sự "đề khí".
Muốn có cơ thể nhẹ nhàng để "đi mây về gió" thì khí hóa của cơ thể phải thanh khiết không ô trược. Nội khí không trầm xuống hạ bàn mà thăng hoạt lên trên.
 
Theo nguyên tắc của Khí Công cổ truyền thì cho dù môn Nội Công gì cũng phải tuân thủ theo nguyên tắc "Hạ bàn vững chải như núi thượng thể phải linh hóa bồng bềnh như mây trôi". Nhưng Ngũ Hành Mê Tông Bộ lại lấy sự linh hoạt bồng bềnh của Hạ Bàn làm trọng.
 
Có lẽ vì Ngũ Hành Mê Tông Bộ có tác dụng thanh trọc cơ thể để làm cho cơ thể được "nhẹ như tơ bấc" trong thuật đề khí Khinh Công nên các Đại Sư Tây Tạng ứng dụng để giúp bệnh nhân có các loại bệnh liên quan đến việc nhiễm độc (trọc khí) như các bệnh tiểu đường áp suất máu cao suy thận.....Và ứng dụng việc hoạt huyết thăng khí của Ngũ Hành Mê Tông Bộ vào thủ pháp làm Huyệt Huyết Não.
 
Vì chưa có thời gian trì luyện Ngũ Hành Mê Tông Bộ nên tôi chưa chứng nghiệm được sự huyền vi của môn khí công này. Nhưng bằng những "tai nghe mắt thấy" và những chứng nghiệm qua việc trì luyện Ngũ Hành Khí Công và Ngũ Hành Lục Tự Quyền tôi có cảm nhận đây là một Khí Công đơn giản an toàn và có tác dụng rất độc đáo.
 
Tôi làm entry này như một chia sẽ với bạn bè và những người hâm mộ Khí Công về một môn Khí Công mà trước đây được xem là "bí truyền" của Phật Giáo Tây tạng. Chứ không phải là phổ biến một phương pháp trị bệnh.
   ____________
1- Mộc Bộ

 
   

1- Đứng thẳng hai bàn chân sát vào nhau hít vào -> lấy hai gót chân làm trụ nhấc hai mũi chân xoay ra hai bên hết cở có thể mà không bị chao đảo nghiêng ngả người -> tiếp đến lấy hai mũi bàn chân làm trụ nhấc gót lên trọng tâm dồn vào hai mũi bàn chân xoay hai gót ra hai bên tạo thành hai bàn chân song song với nhau khoảng cách từ bàn chân này đến bàn chân kia rộng bằng một bàn chân đặt ngang -> từ từ thở ra và hạ người xuống trọng tâm dàn đều trên hai bàn chân (Động tác này sẽ được làm bước chuyển tiếp cho các Bộ sau đây là Đệ Nhất Bộ thuộc về Mộc khí hay còn gọi là Mộc Bộ)
______
2- Hỏa Bộ
 
 
 
 
2) - Chân trái giử nguyên tư thế lấy gót bàn chân phải làm trụ xoay mũi bàn chân qua phía phải hai bàn chân tạo thành góc vuông từ từ hít vào và nhấc gót bàn chân phải lên trọng tâm dồn vào mũi chân phải -> từ từ thở ra và đồng thời hạ gót chân phải xuống đồng thời nhấc gót chân trái lên trọng tâm lại dồn vào mũi chân trái thở hết hơi thở ra -> lại hít vào và lặp lại động tác phía bên phải cứ vậy động tác này thực hiện 3 lần khi kết thúc lần thứ ba thì lấy gót chân phải làm trụ xoay mũi bàn chân về vị trí song song với nhau nhón chân lên kết thúc như Mộc Bộ.
Động tác này lặp lại như vậy cho phía bên Trái. Hoàn thành động tác này cả hai bên đây là Đệ Nhị Bộ thuộc về hành Hỏa hay còn gọi là Hỏa Bộ.
_____
3- Thổ Bộ
  

  

3) Hít vào đồng thời lấy gót chân phải làm trụ xoay bàn chân phải qua phải hai bàn chân tạo thành góc vuông hai bàn chân nằm bệt xuống đất không nhón lên cúi người qua phải chân phải thẳng chân trái co trọng tâm dồn vào chân trái -> thở ra đứng người dậy chân xoay về vị trí cũ nhón chân lặp lại động tác cuối của Mộc Bộ
Tương tự thực hiện động tác này bên trái. Đó là Đệ Tam Bộ thuộc về hành Thổ còn gọi là Thổ Bộ
_____
 4-Kim Bộ

 

4) Hít vào đồng thời lấy mũi bàn chân phải làm trụ xoay gót bàn chân phải lên phía mũi bàn chân trái hai tay đan vào nhau trước bụng trọng tâm hơi dồn về phía sau -> Thở ra lấy gót chân phải làm trụ xoay mũi chân phải tới trước hai bàn chân kế tiếp nhau trên một đường thẳng đồng thời xoay lòng bàn tay cho lòng bàn tay hướng xuống đất. Kết thúc bước thứ tư đây là Đệ Tứ Bộ thuộc về hành Kim gọi là Kim Bộ.
____________
  5-Thủy Bộ

  

5) Hít vào lấy mũi bàn chân phải làm trụ xoay gót chân phải tới phía trước hai mũi bàn chân hướng vào nhau hay bàn chân tạo thành góc vuông đưa hay tay đang đan vào nhau lên cao nghiêng về phía sau lưng hai lòng bàn tay ngữa lên trời (tư thế này rất khó không tự nhiên cơ thể bị vặn vẹo tối đa ở thắt lưng).-> từ thở ra bàn chân phải xoay lại vị trí hai bàn chân trên một đường thẳng.
(Hồi bộ. Từ động tác kết thúc của Thủy Bộ hít vào xoay gót bàn chân rồi thở ra xoay gót bàn chân tiếp cho hai bàn chân song song như tư thế ban đầu. Hồi Bộ thuộc hành Hỏa ứng với Tam Tiêu nhưng không được coi là Hỏa Bộ mà nó chỉ là một thế chuyển tiếp)
(Hồi Bộ)

 
Thực hiện động tác như vậy cho bên trái. Đây là Đệ Ngũ Bộ thuộc hành Thủy hay còn gọi là Thủy Bộ.
  
* Lưu Ý:
- Trừ Kim Bộ và Thủy Bộ hai bàn tay đan vào nhau còn các Bộ khác khi thực hiện Bộ pháp hai tay lúc nào cũng tuân thủ nguyên tắc "Chân nọ tay kia" như đi lại bình thường vậy.
- Theo các vị Đại Sư thì lúc luyện Ngũ Hành Mê Tông Bộ tâm nên luôn luôn niệm câu "Án Ma Ni Bát Mê Hùm" thì công lực của môn khí công này tăng tiến rất nhanh (Điều này tôi chưa kiểm chứng nhưng khi luyện tập Ngũ Hành Khí Công với nhạc nền là Bản Niệm Chú "Án Ma Ni Bát Mê Hùm" như ở phần video thì cảm thấy thân thể thanh thản và nhẹ nhàng hơn rất nhanh)
- Ngũ Hành Mê Tông Bộ không thích hợp cho người nghiện rượu bia và các chất kích thích mạnh
- Ngũ Hành Mê Tông Bộ có hiệu quả nhanh với những người ít ăn thịt cá.
 - Những bạn có câu hỏi môn khí công nào có thể chữa trị được bệnh tiểu đường bệnh rối loạn tiền đình bệnh pakinson và kể cả "tuyệt chứng" chỉ có thể điều trị bằng phẩu thuật là bệnh "vôi hóa gót xương bàn chân" nên tham khảo và thử nghiệm bằng môn Ngũ Hành Mê Tông Bộ này
.
  _____
   Ngũ Hành Mê Tông Bộ trọng về bộ pháp vì vậy khi luyện tập đặc biệt chú trọng đến tư thế của bàn chân và trọng tâm của cơ thể khi hít vào thở ra Các bạn xem thêm Video để thấy rõ hơn về bộ pháp
 
   _____
   Đây là một "biến chiêu" của Ngũ Hành Mê Tông Bộ. Thổ Bộ đã được thay đổi cho phù hợp với bệnh nhân bị bệnh di chứng ung thư tử cung. 
  
______
  
(Nói thêm: Em làm cái entry này chỉ vì mục đích sức khoẻ chứ hoàn toàn không có ý phổ biến Văn Hóa Trung Hoa cho nên các bác bên lề trái lề phải chi đó chớ qui nạp em là "Thân Trung Quốc" nhé. Thú thật là khi thấy mấy bạn China tiếp thị hàng hóa "đểu và độc". Mặc dầu em thuộc loại à uôm không biết chi về chính trị nhưng cũng muốn tống vài phát vào mặt lắm. Nhất là khi nhập thuốc thảo dược thuốc Việt Nam rẽ hơn 5 lần chất lượng tốt hơn 10 lần an toàn hơn 20 lần thì bọn Zoll (Thuế vụ) nó tống ngay vào thùng rác không cho cả đóng thuế để lấy ra. Còn thảo dược "đểu" của Trung Quốc vừa đắt vừa kém chất lượng lại được hoan nghênh "tiếp nhận". Thế mới căm chứ..)
_____
08.08.10
TN

More...

NGUỒN GỐC CỦA LỤC BÁT (Tư Liệu)

By Lê Thuận Nghĩa


Mần răng ra rứa ví dù
Mần ri thế nọ tuyệt mù thế kia.
( Mỗi Ngày- thơ Bùi-Giáng. )

     
Đã là người Việt Nam thì trong đời mình ai cũng đã từng nghe từng đọc thậm chí từng thuộc vài ba câu Lục Bát. Và có thể ai cũng đã từng là tác giả của một bài lục nào đó.
  
 Lục bát có trong lời ru của Mẹ trong Ca Dao có trong sấm ký và có trong kho tàng Thi ca của nước Việt. Từ những câu nói có vần đến những điều hò điệu lý câu hát giao duyên cho đến những tác phẩm văn học đồ sộ như Truyện Kiều (Nguyễn Du) Chinh Phụ Ngâm (Đoàn Thị Điểm) Ngư Tiều Vấn Đáp Y Thuật (Nguyễn Đình Chiểu)... và kể trong những ý chỉ truyền thừa của đạo giáo gia phả hay là y thuật cũng đều có sự đóng góp của Lục bát.
  
Ngày xưa Lục bát không  được truyền dạy trong học đường và không có trong khoa cử. Đến Truyện Kiều của Nguyễn Du và sau này đến Tản Đà thì Lục bát mới thật sự được công nhận là một thể thơ đặc biệt riêng biệt và rất đặc biệt của Việt nam. Từ đó mới hình thành niêm luật bằng trắc qui định cho thể thơ này.
 
Không ai có thể khẳng định Lục bát có từ khi nào nhưng có một điều chắc chắn mà ai cũng biết và công nhận là Lục bát có xuất xứ từ Ca Dao. Mà Ca Dao thì có từ thủa hồng hoang dựng nước. Ca Dao có từ thời vua Hùng và có thể có từ trước đó nữa  t buổi sơ khai của nền văn hóa lúa nước.
   
Ngày nay thể thơ Lục bát đã không những trở thành thể thơ truyền thống đặc thù cho thi ca cổ truyền mà nó đã trở thành một thể thơ giàu cảm xúc trữ tình và có sức truyền cảm cao trong trào lưu thi ca hiện đại. Từ Tản Đà cho đến Nguyễn Bính Bùi Giáng Đồng Đức Bốn Nguyễn Trọng Tạo...và một số cây bút trẻ sau này nữa Lục bát đã trở thành những tác phẩm mang phong cách hiện đại là những tác phẩm "đóng đinh" trong sự nghiệp văn chương của họ.
   
Lục bát chiếm một vị trí đầy đặn như vậy trong kho tàng văn hóa Việt nhưng chúng ta vẫn chưa biết nó có tự khi nào. Bởi vì Lục bát có xuất xứ từ Ca dao mà Ca dao thuộc về văn hóa truyền miệng từ đời này truyền sang đời khác và tồn tại trong dân gian từ đời thượng cổ đến giờ.
 
Bài Lục bát nào hay nói cách khác câu Ca dao nào bản dân ca nào được ký tự đầu tiên trong lịch sử văn hóa Việt. Đó là câu hỏi chúng ta nên tìm câu giải đáp.
    
Anh Đỗ Thanh bút hiệu Nhạn Nam Phi (Con Nhạn Bay Về Phương Nam) hiện ở Mỹ là một nhà nghiên cứu cổ học. Trong công trình nghiên cứu của anh về Cổ Ngữ để vén tấm bụi mờ của Lịch sử chứng minh chữ Hán có nguồn gốc từ chữ Nôm. Minh chứng cho một sự thật của Lịch sử đã bị thời gian khuất lấp hay đã bị những thế lực chính trị từ trung cổ cho đến cận đại cố tình che đậy.
     
Đã có những công trình khảo cứu đầy sức thuyết phục chứng minh rằng Hà Đồ Lạc Thư cốt lõi nguyên lý để hình thành nên Kinh Dịch có xuất xứ từ cái nôi văn hóa lúa nước là đất Phong Châu của Việt Tộc.
 
Và ngay cả vua Văn Vương nhà Chu theo truyền thuyết là người sáng tạo ra Kinh Dịch cũng là học trò của một người Sở lấy họ Hùng hậu duệ của Vua Hùng đất Phong Châu.( Đỗ Thanh Nhạn Nam Phi: Ch Nôm có trước Chữ Hán)
   
Gần đây Đỗ Thanh Nhạn Nam Phi dựa vào cách ký tự trong sách Thuyết Văn đã dùng chữ Nôm để phục nguyên lại những văn bản ký tự cổ viết theo cốt giáp tự tượng hình.. Những văn bản cổ tự này dùng tiếng Hán cổ hay tiếng Trung Hoa hiện đại đều không thể đọc và lý giải được nhưng dùng chữ Nôm để chiết giải thì đọc được một cách rất dễ dàng. Trong đó có hai bản ký tự cổ nhất là bản Việt Nhân Ca (Khúc Ca Của Người Việt )và bản Duy Giáp Lệnh là hai bản cổ xưa nhất còn giử được nguyên vẹn.
      
Bản Việt Nhân Ca có niên đại 2800 năm bản Duy Giáp Lệnh có niên đại 2500 năm.
   
Giới nghiên cứu ngôn ngữ học Trung Hoa khi đọc và lý giải hai bản ký tự này bằng Hán Ng và Hoa Ngữ đều gặp rất nhiều khó khăn. Cho nên lúc giải dịch có nhiều ý khác nhau không thống nhất. Nhưng khi dùng chữ Nôm của các tộc Bách Việt để chiết tự thì không gặp mấy khó khăn. Đã có nhiều công trình nghiên cứu được trình bày trong các tạp chí Hoa Ngữ nhưng vì vấn đề nhạy cảm người Trung Hoa không chấp nhận vấn đề được đặt ra là chữ Hán có nguồn gốc từ chữ Nôm nên các công trình này bị ém nhẹm.
   
Đổ Thanh Nhạn Nam Phi là người gốc Triều Châu tổ tiên vốn xuất xứ từ đất Phong Châu anh không thể chấp nhận Lịch sử bị khuất lấp bằng những lớp bụi mờ thế cuộc đã tận tâm phục nguyên lại Duy Giáp Lệnh và Việt Nhân Ca theo nguyên bản bằng cách ký tự tiếng Nôm. Việc truy nguyên Duy Giáp Lệnh và Việt Nhân Ca bằng tiếng Nôm một cách quá đơn giản và rõ ràng đã chứng minh hùng hồn là chữ Hán cổ và Tiếng Hoa (quan thoại) bây giờ có nguồn gốc xuất xứ từ chữ Nôm. Có nghĩa là chữ Nôm hiển nhiên có trước chũ Hán rất xa.( Đỗ Thanh Nhạn Nam Phi: Chữ Nôm Có Trước Chữ Hán)
     
Trong khi phục nguyên lại Việt Nhân Ca anh đã phát hiện ra Việt Nhân Ca được ký tự bằng thể thơ 6/8 và có niêm luật bằng trắc như lục bát trong Ca dao Việt Nam và thơ Lục bát thời cận đại.
     
Có lẽ Việt Nhân Ca khúc dân ca của Việt Tộc đầu tiên được ghi lại bằng chữ viết. Và đó cũng chính là "thủy tổ" của thơ Lục bát.
   
Để các bạn có thêm căn cứ với mệnh đề này xin mời các bạn tham khảo thêm vấn đề cốt lõi trong việc phục nguyên Việt Nhân Ca của Đỗ Thanh Nhạn Nam Phi
   
Theo tư liệu thì xuất xứ của Việt Nhân Ca như sau: Lưu Hướng (刘向) là cháu bốn đời của Lưu Giao  (刘交). Lưu Giao là em của Lưu Bang (刘邦) cao tổ của nhà Hán. Lưu Hướng là tác giả của sách Thuyết uyển (说苑). Sách có chương kể chuyện  "Tương Thành Quân Thủy phong chi nhật" (襄 成君始封之日). Tương Thành Quân là Sở Tương Vương (楚襄王) tên hiệu là Hùng Hoành (熊橫). Trong câu chuyện có nhắc đến Ngạc Quân Tử Tích  (鄂君子皙) là vua Sở Hùng Ngạc (楚熊咢) dùng thuyền dạo mát ngoạn cảnh thì có người chèo thuyền hát bài dân ca Việt. Ngạc Quân Tử Tích nhờ người ghi lại và phiên dịch ra tiếng "Sở" là bài "Việt Nhân Ca".
Nguyên văn đoạn đó như sau:

"襄成君始封之日,衣翠衣,带玉剑,履缟舄(舄:xi4,古代一种双层底加有木垫的鞋;缟舄:白色细生绢做的鞋),立于游水之上,大夫拥钟锤(钟锤: 敲击乐鼓的锤子),县令执桴(桴:鼓槌)号令,呼:"谁能渡王者于是也?"楚大夫庄辛,过而说之,遂造托(造托:上前求见)而拜谒,起立曰: "臣愿把君之手,其可乎?"襄 成君忿然作色而不言。庄辛迁延(迁延:退却貌)沓手(沓:盥之误 字,盥手即洗手)而称曰:"君独不闻夫鄂君子皙之泛舟于新波之中也?乘青翰之舟(青翰:舟名,刻成鸟形的黑色的船),极(:man2,上艹下两;芘:bi4。芘:不详为何物,疑为船上帐幔之类),张翠盖而检 (检:插上)犀尾,班(班,同"斑")丽袿(袿:gui1,衣服后襟,指上衣)衽(衽:ren4 下裳),会钟鼓之音,毕榜枻(榜:船;枻,yi4 桨。榜枻:这里指代船工)越人拥楫而歌,歌 辞曰:‘滥兮抃草滥予,昌枑泽予昌州州,饣甚州州焉乎秦胥胥,缦予乎昭,澶秦踰渗,惿随河湖。 鄂君子皙曰:‘吾不知越歌,子试为我楚说之。 于是乃召越译,乃楚说之曰:‘今 夕何夕兮,搴中洲流。今日何日兮,得与王子同舟。蒙羞被好兮,不訾诟耻。心几顽而不绝兮,知得王子。山有木兮木有枝,心说君兮君不知。 于 是鄂君子皙乃揄修袂,行而拥之,举绣被而覆之。鄂君子皙,亲 楚王母弟也。官为令尹,爵为执圭,一榜枻越人犹得交欢尽意焉。今君何以踰于鄂君子皙,臣何以独不若榜枻之人,愿把君之手,其不可何也?"襄成君乃奉手而进之,曰:"吾少之时,亦尝以色称于长者矣。未尝过僇(僇:lu4 羞辱)如此之卒也。自今以后,愿以壮少之礼谨 命。"

Dịch nghĩa:

"Ngày đầu tiên Tương Thành Quân được phong quan tước mặc áo đẹp đeo kiếm ngọc mang cao guốc đứng phía trên dòng nước đại phu gõ nhạc đánh trống. Lệnh rằng: "Ai có thể đưa bổn vương lên đò?" Sở đại phu Trang Tân bước lên phía trước bái kiến đứng thẳng nói rằng: "Thần nguyện nắm tay của quân vương có được không ?" Tương Thành Vương phẫn nộ mặt biến sắc và im lặng. Trang Tân mất mặt phủi tay nói rằng: " Quân vương không nghe qua chuyện Ngạc Quân Tử Tích dạo thuyền trên làn sóng mới sao? Trên thuyền Thanh Hàn cắm cờ xí khoác áo choàng đẹp. Trong tiếng chuông trống người chèo thuyền là người Việt đã hát. Lời hát là "Lạm hề biện thảo biện dư xương Hoàn trạch dư xương châu châu Thực thẩm châu châu yên hô tần tư tư mạn dư hô chiêu thẳn tần du sâm đề tùy hà hồ ." Ngạc Quân Tử nói: " Ta không hiểu Việt ca thử cho ta hiểu bằng tiếng Sở." Thế là cho người phiên dịch bằng tiếng Sở nghiã là: "Kim tịch hà tịch hề khiên trung châu lưu kim nhật hà nhật hề đắc dĩ vương tử đồng Chu. mông tu bị hảo hề bất hiềm cấu sĩ. tâm kỷ phiền nhi bất tuyệt hề tri đắc vương tử. Sơn hửu mục hề mục hửu chi tâm thuyết quân hề quân bất tri." "Nghe xong Ngạc Quân Tử Tích xăn tay áo đến ôm lấy dùng mền thêu mà đắp lên. Ngạc Quân Tử Tích là em cùng mẹ với Sở vương làm quan Lịnh-Doãn tước vị cao sang mà còn có thể cùng vui  tận hết ý với người chèo thuyền Việt. Nay  sao quân vương lại do dự hơn Ngạc Quân Tử Tích thần tại sao không bằng  người chèo thuyền muốn nắm tay quân vương tại sao lại không được ?" Tương Thành Quân đưa tay ra bước tới nói: "ta từ nhỏ đã được người lớn khen đàng hoàng chưa từng bất ngờ gập qua cảnh nầy. Từ nay về sau xin nghe lời chỉ dạy của tiên sinh." (Đỗ Thanh Nhạn Nam Phi: Phục Nguyên Việt Nhân Ca)
 
Chính nhờ đoạn văn này mà khúc ca của người Việt được ký tự lại như bây giờ.
   
Trãi qua hàng ngàn năm Việt Nhân Ca được sao chép lại bằng Hán tự và ngày nay đã được một số học giả dịch ra tiếng Việt trong đó có bản dịch từ trên Diễn Đàn của Viện Việt Học là chuẫn nhất theo bản Hán Tự:
  
Đêm nay đêm nào chừ chèo thuyền giữa sông
Ngày này ngày nào chừ cùng vương tử xuôi dòng.
Thẹn được chàng mến yêu chừ nào chê phận thiếp long đong
Lòng rối ren mà chẳng dứt chừ được gặp chàng vương tông
Non có cây chừ cây có cành chừ; lòng yêu chàng chừ chàng biết không?
 
Nhưng theo cổ sử thì nguyên bản của Việt Nhân Ca lại được viết bằng tiếng Sở mà tiếng Sở là không phải tiếng Hoa. Vậy thì bản dịch Việt Ngữ trên không phải dịch từ nguyên bản. Vậy đâu là nguyên bản của Việt Nhân Ca?
 
(Các bạn lưu ý: Theo sử cũ thì Lịnh Doãn nước Sở là Ngạc Quân Tử Tích sau khi nghe bài hát của người Việt rồi nhờ người phiên dịch ra tiếng Sở. Nước Sở quá rộng lớn nên Bắc Sở thường tự xưng là Kinh Sở và Nam Sở tự xưng là Tương Sở hay Tượng Sở. Trong lịch sử xưa có khi Nam Sở tách ra độc lập là nước Dương Việt. Nếu ngược thời Xuân thu đi về xa nữa thì tận xa xưa có "lịnh doãn" của nước Sở là Tử Văn vào triều đình nhà Chu nói chuyện bằng tiếng Sở mà nhà Chu xưng là Hoa lại không ai hiểu... Điều nầy được ghi nhận trong Sử ký. Xin quí vị xét kỹ yếu tố câu chuyện nầy mà đừng lầm rằng tiếng Sở là tiếng Hoa. Ngay cả "lịnh-doãn" nước Sở nghĩa là gì thì người Hoa cũng không biết nên chỉ  ghi chú: quan "lịnh-doãn" là chức quan tương đương với "tể tướng" hay gọi là "thừa tướng". Thực ra lịnh-doãn (令尹) là từ đa âm cổ: quan lịnh-doãn hay quan "loãn" là quan loan là quan lang chỉ có trong tiếng Việt và người Việt mới hiểu. Quan chức người Việt thời Hùng Vương được gọi là quan lang là "loan" khi ký âm bằng chữ vuông thì biến thành lịnh - doãn  (令尹). Thời Xuân thu vẫn dùng ngôn ngữ Việt làm tiếng phổ thông giữa các quốc gia nhỏ ở Trung Nguyên và gọi là Nhã ngữ. Nhã ngữ là Việt ngữ mà ngày nay cũng bị gọi là Hoa ngữ khi đã bị đơn âm hóa nên nhiều người lầm tưởng "Việt" "Hoa" là hai ngôn ngữ khác nhau. Ví dụ "Trữ-la" thôn thì thực ra là "Tử la" thôn có nghĩa là "thôn Tả". "Trả" "tả" hay "trái" chính là "Tó"  (Triều Châu) "Chỏ" (Quảng Đông) "Chò" (Bắc Kinh) dù chung một gốc mà sau khi biến âm thì vùng nầy lại không hiểu ngôn ngữ vùng kia. Điều này cũng chứng tỏ Việt Ngữ (Chữ Nôm) là nguồn cội làm nên Hán Tự và Hoa Ngữ bây giờ-  Đỗ Thanh : Nguồn Gốc Chữ Hán Có Từ Chữ Nôm)
  
Điều này còn được chứng minh qua các công trình nghiên cứu của những nhà ngôn ngữ học cận đại Trung Hoa.  Các chuyên gia ngôn ngữ học của nhiều thế kỷ đã bỏ công nghiên cứu Ký âm của Việt Nhân Ca là ngôn ngữ gì? tập hợp các công trình tập thể nghiên cứu Việt Nhân Ca gồm những người am hiểu hầu hết các ngôn ngữ họ dẫn chứng là ký âm của Việt Nhân Ca có thể giải thích bằng tiếng nói các dân tộc : Tráng tộc 壮族、Đồng Tộc侗族 Bố y Tộc布依族 Thái tộc傣族 Thủy tộc水族 Mao Nam tộc毛南族 Hạ lào tộc仫佬族 Lê tộc黎族...Vì các dân tộc nầy đều có nguồn gốc từ Cổ-Việt-Tộc古越族。Và cuối cùng thì Thuyết Ký âm Việt Nhân Ca được kết luận là của người Choang-Tráng Tộc (Dân Tộc Thái)
 
Nhà nghiên cứu cổ nhạc cuả các dân tộc ở Trung quốc là ông Phùng Minh Tường đã khẳng định "Việt Nhân Ca" bị cho là tiếng Choang thật sự không đúng! vì tìm hết các thể điệu Dân Ca của Choang không hát được "Việt Nhân Ca" trong khi nó chính là một bài dân ca. nhưng ông ta cũng không tìm ra được "Việt Nhân Ca" là của Dân tộc nào.
 
 Bản Ký âm tiếng Việt của bài ca được ghi lại là:

滥兮抃草滥予        Lạm hề biện thảo lạm dư
昌枑泽予昌州州     Xương hằng trạch dư xương châu châu
饣甚州焉乎秦胥胥 Thực thầm châu yên hồ tần tư tư
缦予乎昭                Mạn dư hồ chiêu
澶秦逾渗惿随河湖  Thìn  tần du sâm đề tuỳ hà hồ
  

Bản ký âm nầy khi phiên ra Hán Tự thì thiếu một chữ ở câu số 3:"饣" đó chính là chữ 飠-Thực.)
 
Trình tự  "Phục nguyên" những ký âm cuả Việt Nhân ca của anh Đỗ Thanh Nhạn Nam Phi như sau :
   

Chữ đã ghi lại Việt nhân ca được thể hiện bằng 33 chữ.

滥 兮 抃 草 滥 予 昌 枑 泽 予 昌 州 州 飠 甚 州 焉 乎 秦 胥 胥 缦 予 乎 昭 澶 秦 踰 渗 惿 随 ...河 湖。


Những chữ phiên âm ghi giống nhau thì khi tìm hiểu phiên dịch phải là cùng 1 chữ. Nếu không thì là Sai. Sở dĩ người ta phiên dịch không đúng "Việt Nhân Ca" là vì không khắc phục khuyết điễm nầy.

Ví dụ:_滥滥 予予予 昌昌 州州州 乎乎 胥 胥
- Đó là tiếng Việt   (chú ý 2 chữ có gạch nối là 1 chữ "đa âm")

滥 兮 抃 - 草 滥 予 Lạm hề biện-thảo lạm dư

昌 枑 泽 - 予 昌 州 州 飠 Xương hoàng trạch-dư xương châu thực

甚 州 焉 乎-秦 胥 胥 Thẩm châu yên hô-tần tư tư

缦 予 乎-昭 澶 秦 踰 渗 惿-随 Mạn dư hô-chiêu thìn tần du sâm đề-tùy.

...河 湖。 Hà Hồ.

-Để dịch bài này từ tiếng Việt xưa ra tiếng Việt nay :  xin giải thích những ký âm của Việt nhân ca:

滥 : "Lạm" là "Lam" hay "nam" tức là "Năm" "L" và "N" thường là biến âm ngày nay màu "Lam" tiếng Triều Châu là "Nam". Rất nhiều nơi ở Quảng Triều Việt thường lẫn lộn "L" và "N".

兮: Hề... hầy nầy nè đây... nhiều biến âm.


抃草: Biện-thảo là từ đa âm của "bảo".

予: "Dư" còn có âm "ia" (Triều Châu Bắc kinh): Năm "dư" có thể như ngày nay là "năm kia" "năm Xưa"

昌:  ký âm "xương" là  "thương". Ngày nay tiếng Quảng Đông-thuần Việt là "Sẹc" Triều Châu-thuần Mân Việt là "Siaiê".

枑: "Hằng" hay "Hoàng".

泽予: "Trạch-Dư" hay "Trạch-Dử" là "Trử" hay "Tử"

飠: Thực tiếng Quảng Đông à sực Bắc kinh là Sữa: phát âm như là "Xưa".

甚 : Thẩm hay Thậm là Sẩm sửm sơm tiếng tiếng Quảng Đông và Bắc kinh "Sum" phát âm như "Sớm".

州: Châu phát âm Mân Việt -Triều Châu thì đọc là "Chiêu" "Chiệu" như "Chiều".

焉: (zen)Hiện nay phiên âm là "Yan" phát âm tiếng Bắc Kinh như em.
乎秦: "Hô-tần" đa âm là "Hận" đơn âm.
乎昭: "Hô-chiêu" đa âm là "Hiểu" đơn âm.

澶: "Thẳn" hay "Đặng" hay "được". Nếu tra tự điển và phiên dịch là "Thìn" hay "chiền" là không đúng! Bên trái là bộ "Thủy" và bên phải là chữ "Đàn" đọc là "Thẳn" hay "đặng" và nghĩa là "nước xối... thẳng thông đặng". Tiếng Quảng Đông: "Thànn" Tiếng Triều Châu: "thànn" hay "thạnn".
胥胥: "tư tư" là Tương Tư.

秦 踰: Tần Du là ký âm "tình duyên" hay "tình yêu" 秦 là Tsình của tiếng Triều Châu ngày nay 踰 du Duyè (Quảng đông) Dua (Triều Châu).

渗: "Sâm" là Sâu tiếng Quảng Đông ngày nay "sâu" vẫn là "Sâm".

惿随: "Đề-Tuỳ" đa âm là "đùy" đơn âm là "đầy"

河- Hà:  Hò 湖- Hồ: Hớ

Như vậy nghĩa Việt của bài ca như sau:

Năm nầy Biện-thảo  năm xưa

Thương Hoàng Trạch-dữ  thương chiều chiều xưa

Sớm chiều em hận tương tư

Mà ai hiểu đặng tình yêu sâu đầy.

....Hò Hớ.
(Đỗ Thành Nhạn Nam Phi : Phục Nguyên Việt Nhân Ca)
   
Như vậy là theo sự phục nguyên lại Việt Nhân Ca thì đó chính là một bài Lục Bát:
  
Hò... ... hớ...

Năm nầy bảo với năm xưa

Thương chàng hoàng tử thương mùa chiều xưa

Sớm chiều em hận tương tư

Mà ai hiểu đặng tình vừa nặng sâu.
   
Theo anh Đỗ Thành thì khi đọc Việt Nhân Ca bằng cách ký tự chữ Nôm của Việt Tộc thì Việt Nhân Ca cực kỳ dễ đọc và dễ hiểu chẳng có gì khó khăn và rắc rối như những nhà ngôn ngữ học của Trung Hoa phải "lặn lội" hết ngôn ngữ của dân tộc này đến ngôn ngữ của dân tộc khác để truy nguyên mà cuối cùng cũng chỉ kết luận được là "Hình Như.." và rồi lại phủ định "hình như mà hình như không phải thế". Trong khi truy nguyên bằng Việt Ngữ thì rõ ra mười mười là một bài dân ca viết theo thể Lục bát có nguồn gốc xuất phát từ nơi sông nước của nền văn hóa lúa nước. Mà cái nôi của nền văn hóa lúa nước của Nhân Loại chính là đất Phong Châu của chúng ta.
    
Ngày nay hai chữ "Hò.. Hớ.."  trong Việt Nhân Ca vẫn còn tồn tại trong các điệu hò câu lý của nhân dân vùng sông nước của chúng ta.
     
Như vậy bằng sự truy nguyên Việt Nhân Ca chúng ta có thể khẳng định "thủy tổ" của thể thơ Lục bát chính là Việt Nhân Ca một khúc dân ca của Việt Tộc đã được ký tự lại cách đây 2800 năm về trước.
 
Việc phục nguyên lại Duy Giáp Lệnh và Việt Nhân Ca bằng Việt Ngữ của anh Đỗ Thanh đã chứng tỏ tiếng Nôm có trước tiếng Hán và nền văn hóa của nước Trung Hoa bây giờ có nguồn gốc xuất xứ từ đất Phong Châu của Lạc Việt
     
Điều đó còn lý giải cho một bí ẩn của Lịch Sử là tại vì sao suốt 1000 năm Bắc thuộc đằng đẳng mà nền Văn Hóa của Việt Tộc không bị mai một và đồng hóa. Đồng Hóa thế nào được khi nền văn hóa của phương Bắc chỉ là nền văn hóa "Con" còn nền Văn Hóa của nước Nam là nền văn hóa "Mẹ". Con thì có thể nào đồng hóa được Mẹ chứ.
     
Cho dù lịch sử có tính giai đoạn. Và trong một giai đoạn nào đó phương Bắc có đủ tiềm năng kinh tế   chính trị và quân sự để lấn lướt và uy hiếp chúng ta. Nhưng họ không thể nào khuất phục được truyền thống của Dân Tộc Việt. Vì họ không bao giờ vĩnh viễn không bao giờ có thể thôn tính đồng hóa được nền Văn Hóa Việt Nam. Vì Nền Văn Hóa Việt Nam là cái nôi sinh ra nền Văn Hóa của Phương Bắc.
     
Văn Hóa còn là Tổ Quốc còn đó là qui luật bất di bất dịch của lịch sử phát triển Nhân Loại
     
Rất chân thành cảm ơn Anh Đổ Thanh Nhạn Nam Phi đã cung cấp tư liệu cho bài viết này
   
sưu tầm và biên soạn
Thuận Nghĩa
07.08.10

More...

TƯƠNG TƯ (Dịch Thơ)

By Lê Thuận Nghĩa

 Được anh Đổ Thanh một nhà nghiên cứu về Việt Ngữ Cổ cho đọc khảo luận về Việt Nhân Ca một khúc dân ca cổ rất nổi tiếng trong kho tàng văn hóa Bách Việt. Đây là một bài dân ca cổ nhất mà đến bây giờ vẫn còn giử lại trọn vẹn. Bài dân ca này xuất xứ từ 2800 năm trước đây và có nguồn gốc từ tiếng Việt.
    
Theo sự phục nguyên từ Việt Ngữ cổ của anh Đỗ Thanh thì đây chính là một bài dân ca viết theo thể thơ 6/8 tức là thể thơ Lục Bát của chúng ta bây giờ.
   
Là "tín đồ" của Lục bát gặp được bài viết này tôi như gặp được "bảo khí" để tìm về "thủy tổ" của Lục bát.
    
Theo sự hướng dẫn của anh Đỗ Thanh trong khi truy tìm tài liệu để tìm hiểu thêm bài khảo luận của anh thì bắt gặp bài thơ "Tương Tư " của một tác giả Vô Danh do anh phiên âm
     
  Trong một lần công cán ở Triết Giang tôi có nghe người dân ở vùng này hát bài hát có ý nghĩa tương tự như bài Tương Tư này. Làn điệu dân ca ấy rất miên bồng và quyến rũ với ca từ đằm thắm nhưng khá cay đắng một sự cay đắng mơ hồ đầy sự huyễn mị. Tôi rất thích nhưng không chép lại được ca từ (Vì tiếng Trung kém). Nay bắt gặp bài này gợi cảm lại âm hưởng đã từng nghe nên mạn phép anh Đỗ Thanh đưa lên đây. Vì tiếng Hán không giỏi nên chỉ tạm phỏng dịch ra thơ hầu mong mua vui cho bằng hữu có gì sai phạm xin bỏ lỗi cho. 
   
Đưa bài thơ này lên cũng có gợi ý cho bạn bè thân hữu quan tâm đến Lục bát chú ý theo giỏi Entry tiếp theo là một Entry rất hữu ích cho việc tìm hiểu nguồn gốc của thể Thơ Lục Bát trong kho tàng văn hóa nước nhà. Cũng như biết thêm về những luận cứ chứng minh chữ Trung Hoa (Hán) hiện nay có nguồn gốc từ chữ Nôm của Việt tộc chứ không phải Chữ Nôm có xuất xứ từ Hán Tự.

 
Công trình nghiên cứu này là một trong công trình có tầm vóc thế kỷ của nhà Cổ Học Đỗ Thanh Nhạn Nam Phi. Rất tiếc vẫn chưa được các Học Giả ở quê nhà quan tâm.
  
  Thuận Nghĩa
_________

 相思  
Tương Tư
     tác gi: Vô Danh

Phiên Âm: Đỗ Thanh Nhạn Nam Phi
  
拭翠斂雙蛾 Thức thuý liễm song nga
爲鬱心中事 vi uất tâm trung sự
匿管下庭除 nặc quản hạ đình trừ
書就相思字 thư tựu tương tư tự

此字不書石 thử tự bất thư thạch
此字不書纸 thử tự bất thư chỉ
書 向秋葉上 thư hướng thu diệp thượng
願隨秋風起 nguyện tuỳ thu phong khởi

天 下有心人 *thiên hạ hữu tâm nhân
盡解相思死  tận giải tương tư tử
天下負心人 *thiên hạ phụ tâm nhân
不識相思意 bất thức  tương tư ý

有心與負心 hữu tâm dĩ phụ tâm
不知落何地 bất tri lạc hà địa
       
 
Dịch Nghĩa: Thuận Nghĩa
   
TƯƠNG TƯ
  
Tô điểm đôi lông mày cho thật đẹp
Nhưng tâm sự uất ức chẳng biết bày tỏ cùng ai
Vén tóc mai lên cúi xuống ghi chép lại
Ni niềm tương tư lên trên chiếc lá này
         
Dòng chữ này không viết trên đá
Không viết trên trang giấy
Mà nhằm viết lên trên phiến lá
Và nguyện cùng ngọn gió bay với mùa thu
   
Người có tâm thủy chung
Mới tường tận hiểu rõ được nghĩa của tương tư
Người vô tình bạc nghĩa
Thì chẳng thể nào biết được sự kỳ diệu của tình ái
    
Nhưng rồi thủy chung hay bạc tình
Cuối cùng cũng như chiếc lá không biết rơi về phương trời nào.
       
   Dịch Thơ: Thuận Nghĩa
    
    TƯƠNG TƯ
(dịch theo thể Ngũ Ngôn)
     
Điểm tô đôi mày đẹp
Tâm sự cùng ai đây
Làn tóc mai xổ nét
Tương tư trên lá gầy
    
Không vội khắc vào đá
Chẳng họa lên giấy ngay
Hồn chạm trên phiến lá
Nguyện cùng thu bay bay
    
Có chung tình chung nghĩa
Mới hiểu tận tương tư
Kẻ đầu môi chót lưỡi
Chẳng biết yêu bao giờ
  
Chung tình và phụ bạc
Cuối cùng cũng hoang vu....
 
_____
  
TƯƠNG TƯ
(Phỏng dịch theo thể Lục bát)
   
Điểm tô cho đẹp đôi mày
Biết cùng ai gửi tháng ngày tương tư
Tóc mai vén mái ngẩn ngơ
Nét sầu ngậm viết lên tờ lá bay
    
Không khắc vào đá cho dày
Chẳng ghi lên giấy cho đầy làm chi
Họa lên phiến lá xuân thì
Cùng thu theo gió tình si bay về
   
Chung tình mới thấu đam mê
Mới hay đến hết tận bề tương tư
Phụ tình chẳng hiểu bao giờ
Trái tim say đắm ngẩn ngơ thế nào
     
Chung tình phụ bạc là sao
Cuối cùng như lá nơi nào rơi đây...
  
05.08.10
TN

More...

VÀI BA BỮA NỮA VỀ VUỐT TÓC (Thơ)

By Lê Thuận Nghĩa

                    thân tặng HM          
     
Thì ra còn trẻ và rất khoẻ
Lá vẫn xanh xanh thách hạ tàn
Và cứ bồng bềnh trôi rất nhẹ
Mây về đưa võng giữa chiều tan
    
Hoá ra là vậy như thế vậy
Một chớm thu về cũng trần gian
Vài đốm nâu nâu trên gió lạc
Điểm tít mùa say nụ cúc vàng
    
Thì ra là vậy màu tím ấy
Nhuộm khói lam chiều ưng ửng bay
Hóa ra là vậy là em đấy
Nửa chốn tiêu dao nửa đọa đày
    
Vài ba bữa nữa về vuốt tóc
Rụng sợi lộc vừng treo mắt kiêu
Lá còn rất trẻ và rất khoẻ
Soi đáy hồ thu bóng một chiều
   
Vài ba bữa nữa về vỗ sóng
Dợn cánh sâm cầm xao cỏ rêu
Thì ra là vậy em là vậy
Sương khói Tây Hồ khuất bến yêu.
    
04.08.10

TN

More...

HIỂM HỌA TALAWAS (Chuyện Đời)

By Lê Thuận Nghĩa

 Mình tuổi Hợi là Kỷ Hợi thuộc hành âm mộc. Các cụ  ngày xưa giỏi thật lấy 10 Can làm cái gốc tại trời (Thiên Can) kết hợp với 12 Chi (Địa Chi) là cái ngọn ở Đất làm nên một giáp tuổi 60 năm để định cuộc thịnh suy của một đời người. Cái hay nhất của cuộc kết hợp Can Chi này là cứ kết hợp lần lượt vậy búa xua vậy nhưng chẳng bao giờ đi chệch ra khỏi cái thế Âm-Dương. Đã là Can Âm thì khi nào cũng kết với Chi Âm. Can Dương khi nào cũng kết lại với Chi Dương để thành ra có năm Âm năm Dương mạng Âm mạng Dương. Hay thật!
    
Ví như tuổi mình có can Kỷ là Âm Thổ kết với chi Hợi là Âm Thủy. Cái can Kỷ này chẳng bao giờ kết được với một chi Dương nào hết. Có Kỷ Sửu Kỷ Mão Kỷ Tỵ Kỷ Mùi....chứ chẳng bao giờ có Kỷ Dần Kỷ Thìn Kỷ Ngọ...nào hết. Thế mới hay chứ. Cũng vậy ví dụ như cái can Canh là Dương thì nó cũng chẳng bao giờ léng béng để kết với một chi Âm nào cả. Có Canh Thìn Canh Ngọ Canh Thân Canh Tuất.. chứ đừng hòng mà có Canh Hợi Canh Mão Canh Dậu Canh Sửu Canh Tỵ trong một giáp 60 năm...Có thế mới làm nên cuộc Âm cuộc Dương cho năm cho mạng được chứ. Tài thật! (Thiên Can: Giáp là Dương mộc Ất là Âm mộc Bính là Dương hỏa Đinh là Âm hỏa Mậu là Dương Thổ Kỷ là Âm thổ Canh là Dương kim Tân là Âm kim Nhâm là Dương thủy Quí là Âm thủy. Thiên Can cứ lần lượt Giáp Ất Bính Đinh Mậu Kỷ Canh Tân Nhâm Quí làm thành cuộc tương sinh: Mộc sinh Hỏa Hỏa sinh Thổ Thổ sinh Kim Kim sinh Thủy Thủy sinh Mộc. Còn Địa Chi thì: tý Dương thủy sửu Âm thổ dần Dương mộc mão Âm mộc thìn Dương thổ tỵ Âm hỏa ngọ Dương hỏa mùi âm thổ thân Dương kim dậu Âm kim tuất Dương thổ hợi Âm thủy. Tý Sửu Dần Mão Thìn Tỵ Ngọ Mùi Thân Dậu Tuất Hợi cứ một Âm một Dương mà luân chuyển không ngừng. Vòng thiên Can theo thế tương sinh tương khắc mà vận hành vòng Địa chi thuận theo Âm-Dương mà chuyển hóa tạo nên cuộc Âm Dương- Ngũ Hành cho năm tuổi thật ngoạn mục)
 
Chỉ riêng cái thế Âm-Dương của năm sinh thôi cũng đã nói lên được bao điều cho cuộc Thăng-Giáng- Phù-Trầm của một đời người rồi. Lại thêm cái thế tương sinh tương khắc của năm sinh nữa thì còn thêm được bao nhiêu điều để luận bàn. Ví như mình sinh năm Kỷ Hợi tất nhiên là năm Âm rồi. Mà Kỷ là Âm Thổ kết hợp với Hợi là Âm Thủy. Vậy là cái gốc (Can) là Thổ nó khắc cái ngọn (Chi) là Mộc vì theo luật tương sinh tương khắc là Thổ khắc Thủy mà...chà chà thêm cái thế Can khắc Chi này nữa thì thiếu chi điều để luận bàn hè.
   
Chưa nói các cụ ngày xưa còn bày ra trận Nhị Hợp Tam Hợp Tứ Hành Xung nữa mới gọi là thiên biến vạn hóa chứ. Chỉ thêm chừng ấy điều của năm sinh ra đời đã là một cánh rừng đại ngàn bất tận thám hiểm mãi không hết chứ đừng nói chi thêm cái việc vận thêm 60 quẻ Phục Hy chế biến nó thành sao nọ sao kia theo ngày tháng giờ sinh mà tạo nên một Thiên bàn Tử vi hay Bát tự lữ tài nữa thì quả ư là mênh mông bất tận cho sở học.
    
Mình tuổi Hợi chiếu theo tam hợp là bị vướng vào vòng  "lao lý" duyên nợ  Hợi-Mão- Mùi. Nói tóm lại cứ gặp Mão và Mùi là con heo Kỷ nhà mình i chang như là bị "đoạ lạc" ngay.
      
Nghiệm lại đời mình quả chẳng sai tý nào. Riêng cái tuổi Mão là năm 1963 nhằm vào năm Quí Mão mình phải đương đầu với ít nhất cũng là dăm bảy cuộc "Đọa Lạc".
     
Khiếp thật! loanh quanh thế nào rồi cuối cùng cũng bị mấy con Mèo bằng vàng lá trắng (Kim bạch kim)  này nó đốn hạ tơi bời hoa lá hẹ cái cây đồng bằng (Bình địa mộc) của nhà mình
    
Trong "thập diện mai phục" của bọn mèo vàng này mình có quen thân với hai Mợ mèo. Điều ngẫu nhiên mà mình phải "dây mơ rễ má" với hai mợ Mèo này có một điểm rất quái lạ. Là hai mợ này có họ giống nhau đều là họ Đoàn (nói họ Đoàn cho nó giống với con cháu Đoàn Chính Thuần trong Thiên Long bát bộ chứ thực ra là họ khác không dám nói đích thị mà sợ bị chúng nó cào..hè hè..). Cái hay nữa là cả hai đều có tên giống nhau mà lại mang tên của sông nước mới chết mình chứ. Cả hai đều có tên họ dài dặc bốn chữ. Có 3 chữ giống nhau chỉ có một chữ dùng cho tên đệm là khác. Một mợ có đệm là Thanh và một mợ có đệm là Hồng. Chẳng phải là trời xui đất khiến đó ư. Đã mang tên sông nước là thuộc hành Thủy sinh cho hành Mộc của bổn mạng mình lại còn thêm cái chữ lót là Thanh(xanh) là hành Mộc tương hòa với mạng mình một cái là Hồng(đỏ) thuộc Hỏa tương sinh với mạng mình. Mình không bị "đoạ lạc" vô đó mới là chuyện lạ. Hu hu...còn một điều nữa nó làm mình càng thêm khốn đốn là cả hai Mợ này đều là Hà Thành các các có nghĩa là dân Hà Nội gốc thế mới khổ đời cái khúc gỗ mục nhà mình chứ.
   
Cũng may mình có tý am hiểu cổ học từ nhỏ nên biết cái "họa vô đơn chí" của thế cuộc này mà có sự phòng bị để mà "biết thì sống".
    
Mình luận cái năm sinh biết mình đoạ vô cái "ngũ hành ma trận" của tụi Quí Mão nên khi nào bị cuốn vô vòng "lao lý" của sự giao tiếp với mấy mợ Mèo vàng này là mình chuẩn bị tìm cách chuồn cho nó vuông yếu nên không dám ra gió với mấy Mợ.
   
Nói vậy thôi chứ trốn trời không khỏi nắng cái cuộc chuồn nào của mình cũng phải đánh đổi cái giá trầy vi tróc vảy cả. Đến bây giờ còn mấy cuộc "thập diện mai phục" cho dù mình có "long đàm hổ huyệt" cố gắng "long tranh hổ đấu" bao nhiêu mà vẫn còn chưa thể "tẩu vi thượng sách" được. Khốn khổ thế đấy.
    
Mình thuộc hành Bình Địa Mộc so với tụi Quí Mão thì được cái thế Tam Hợp đẹp như mơ. Cái thế tam hợp của mình với tụi Mão nhằm vào cái thế Trường Sinh vậy cho nên nó dây dưa lắm ví dụ nó nhằm với tam hợp Hợi để có cái thế Lâm Quan thì có phải là "khởi giá đăng đàn" rồi hay không. Hoặc là nhằm tam hợp với tụi Mùi để  ẵm cái thế Đế Vượng thì có phải ngon như "một cặp môi gần" rồi. Đằng này nó nhằm vào cái thế Trường Sinh nên mình mới khó dụng "tam thục lục kế" chứ.
    
Trời chẳng cho ai cái gì trọn vẹn cho mình với tụi Quí Mão có cái thế tam hợp đẹp nhất trong 4 thế Tam Hợp của Địa Chi (Hợi-Mão-Mùi Dần-Ngọ-Tuất Thân-Tý-Thìn Tỵ-Dậu-Sửu) để "đi đâu rồi cũng về La Mã" rồi lại tương ngay một phát tương khắc hiểm ác: Kim khắc Mộc.
 
Vậy là đưa cái Mộc ẻo lả yếu đuối (âm mộc) của mình ra cho tụi Kim Quí Mão nó muốn đẽo muốn gọt   muốn chặt muốn chém gì thì tùy chúng nó thao túng vì chúng có quyền khắc chế mình mà.
   
"Ưa" thì chúng nó đẽo gọt mình nên giường nên chiếu nên nhà nên cửa nên bàn ghế tượng thờ. Không "ưa" thì chúng nó băm vằm mình ra thành muôn mảnh làm củi đốt thành tro bụi thành khói bay chơi vậy thôi.
   
Nói tóm lại là chúng nó muốn mình trở thành đồ vô dụng hay là đồ hữu dụng thì tùy hứng và khả năng của tụi nó. Mình có "nên người" hay không do chúng thao túng mà nên. Thôi thì biết đâu là "dao sắc" biết ai có "đao pháp" giỏi mà trao thân cho tụi nó "tạo tác". Kiếm đường mà chẩu trước cho nó chắc ăn he he...
      
Còn cú này nữa mới tỏ cái "thâm hậu" của Định Mệnh chứ. Mình với tụi Quí Mão vốn cả hai là nguyên Âm (Kỷ- Quí đều âm). Âm với Âm đồng tông mà khắc cực giống nhau mà cùng một cực âm như cực nam châm vậy nên có hoà hợp mà vẫn phải cứ phải đẩy nhau ra thế mới khốn nạn chứ. Được một cái là cả mình và tụi Quí Mão đều là Âm Mạng. Nên ở vào thế Sinh Xuất tức là cái thế cho nhiều hơn nhận "đứa" nào cũng muốn cho đối phương nhiều hơn là nhận từ đối phương vì vậy mà cái khắc cực của Âm còn biết "hy sinh" nên dễ thở hơn là cái thế khắc cực của tụi đồng Dương ở thế Sinh Nhập là thế nhận nhiều hơn cho tức là vị kỷ hơn.
   
Nói thêm cho các mợ Quí Mão biết một việc có tương tác rất "hệ trọng" này nữa này. Xét về cung Phi trong Lương Duyên Tiền Định thì bọn nam Kỷ Hợi tụi em thuộc về cung Khôn còn các Mợ thuộc về cung Cấn. Mà hợp Khôn với Cấn là được cái thế Sinh Khí trong bát quái. Sinh Khí là đệ nhị Cát Lành nó chỉ sau có đệ nhất Phước Đức mà thôi. Nói về cơ nghiệp mà được cái cách Sinh Khí này là đắc cách lắm đấy. Chỉ tội mấy người tuổi Kỷ Hợi chúng em toàn là "kỳ nhân" cả tụi em vốn là người hiền lành ham học hỏi nên biết nhiều có nhiều tài vặt tâm địa lại hiền lương thích cống hiến cho xã hội. Nếu cái Kim của quí Mợ sắc sảo thông minh có "vía" trội hơn tụi em thì các mợ có thể biến cái Mộc tụi em thành "đồ mỹ nghệ" siêu đẳng để mà tận hưởng cái thế Sinh Khí bất tận. Còn như các Mợ mà không "cao tay ấn" thì cái Kim của các mợ chỉ tổ băm vằm tụi em thành đồ củi mục thôi lúc đó Sinh Khí sẽ biến thành Hoại Khí tuốt tuồn tuột. Tiếc rằng xưa nay "đàn bà đâu dễ mấy tay". Chán!
    
Lại nói về hai "mụ chằn lửa" tuổi Mão của mình. Hai mợ Mèo  mà trùng tên trùng họ và cũng nhằm luôn cái đất Hà Thành mà sinh ra đời ấy. Cái mợ có tên lót là Hồng mình gọi là mụ Đỏ cái mợ có tên lót là Thanh thì mình gọi là mụ Xanh. Cái mụ Đỏ thì còn có nhiều "gay cấn" lắm để hậu xét. Hôm nay mình chỉ kể chuyện về mụ Xanh vì cái mụ Xanh này có liên quan đến Hiểm Họa Talawas mà mình đặt tên cho entry này.
   
Chắc chắn mấy "trự" bên Talawas nếu đọc cái entry này sẽ nổi cơn tam bành nhất là "mụ tổ" của Talawas là nữ văn sĩ PTH.
   
Mụ Xanh người Hà Nội thuộc dòng quí tộc Hà Thành thuộc loại "con ông cháu cha". Mà loại "Ông Cha" thứ xịn chức vụ to tổ chảng tận chót vót trên đỉnh lận. Đã thế trời lại ưu đãi cho được cái sắc đẹp khá hoành tráng mụ Xanh một thời nổi tiếng là hoa khôi Hà Thành. Không những thế lại còn thông minh hoạt bát sắc sảo và đáo để nữa chứ.
   
Trời sinh đất khiến thế nào lại để cho mụ Xanh có duyên nợ hội ngộ với mình. Quan hệ thuộc vào loại "cấm khẩu" đếch nói được nó thuộc vào loại gì. Gặp mụ Xanh khi đời mình đã "vãi cả linh hồn" với mấy mợ mèo Quí Mão. Nên mình có thừa kinh nghiệm "giang hồ" để kiếm bài "tẩu mã". Cũng may cho mình mụ Thanh thuộc vào hàng đỉnh mà mình thuộc vào hàng đáy. Cho nên mụ chẳng để mình vào trong mắt. Vì vậy mà có duyên hội ngộ thân thiện nhưng không bị cuốn vào "đoạ lạc"  với "ngũ hành mê hồn trận" của mụ.
   
Số mụ Xanh chỉ xứng với hàng Đại Gia mà mình chỉ là "tép gia". Cho nên có hạnh ngộ cũng đường ai nấy đi. Hú hồn!
   
Mụ Xanh kết một tay đại gia nửa mùa bên này nên nghĩa "non vợ chồng già nhân ngãi". Sống với nhau cũng đề huề hạnh phước lắm có được cái cơ nghiệp cũng tạm có thể gọi là "đi mây về gió". Mình với mụ Xanh chỉ thỉnh thoảng gặp nhau trao đổi mấy câu thăm hỏi gọi là "cố nhân" cho phải đạo vậy thôi. Cũng chẳng có gì để bàn bạc thân mật nữa cả. Vì mình với mụ khác hệ. Mụ Xanh thuộc hệ Kinh tài mình thuộc hệ Văn nghệ. Cho dù mụ ấy có kinh doanh liên quan đến Văn nghệ và Thẩm mỹ nhưng khoảng cách giữa ý thức hệ giữa mình với mụ cũng có thể gọi là "bên Đông bên Đoài".
    
Hồi mụ Xanh về sống với lão Đại Gia kia mình bấm Âm-Dương làm một quẻ bát quái tính nhẩm thấy cú này là cú "tiền Kiết hậu Hung". Nhưng chẳng dám nói với mụ ấy sợ bị la là đồ "mạt rệp" biết cái cóc khô gì mà nói. Vì tay đại gia kia vốn là người rất tự hào mình là bậc trí giả.
   
Đằng đẵng vậy mà cái Kiết của mụ Xanh được dài ra phết. Cũng đúng thôi mụ ấy sắc sảo lanh lợi và giỏi về giao tiếp biết cách đối nhân xử thế thuộc nằm lòng cái Đắc nhân tâm của thế thời nên có kéo dài được cái thế Kiết cũng chẳng có gì là lạ. Nhưng lưới trời lồng lộng rồi cái thế Hung cũng đã lòi ra.
   
Cái hung hiểm của mụ Xanh lại liên quan đến một vấn đề rất chi là ẩm ương. Đang cơm lành canh ngọt vậy tự nhiên tay kia xui xẻo thế nào lại chui vào mạng Talawas. Cha kia vốn là dân thuyền nhân xưa nay vốn đang vùi đầu vào Kinh tế rồi xui khiến thế nào nếm phải cái bả Chính Trị của Talawas đâm ra nghiện.
   
Cha này là dân khoa bảng ở Đức không biết sao không đọc cái "Di Huấn" của một chính khách lỗi lạc của nước Đức Dân Chủ. Di huấn của vị Thủ tướng đầu tiên của nước Đức nói rằng "Politik ist schmuzig" có nghĩa : "Chính Trị là bẩn thỉu". Không thấm nhuần được cái di huấn ấy của "tổ tông" Dân Chủ Phương Tây nên cha đành phải làm con nghiện vào Talawas theo đóm ăn tàn.
   
Talawas trước đây là một trang thuần văn nghệ do một nữ sĩ khét tiếng là "Mẹ Đốp" thành lập ra. Cũng chẳng cần gì phải dấu diếm làm chi cho nó mang tiếng là úp úp mở mở.
  
Văn đàn Việt nam gần đây có 3 nữ Văn sĩ nổi tiếng là đốp chát nên được phong là "Mẹ Đốp". Đó là nhà văn Dương Thu Hương Nữ văn sĩ Phan Thị Vàng Anh con của cố thi sĩ Chế Lan Viên và nữ Văn sĩ ngoại lai (chồng ngoại) Phạm Thị Hoài.
     
Tác giả của "Chuyện tình viết trước lúc bình minh" giờ ở bên Pháp đang viết văn để "vạch trần" Cụ Hồ lấy kế sinh nhai. Phan Thị Vàng Anh thì đi mây về gió làm "con rồng cái" trong tất cả mọi lĩnh vực văn nghệ thơ văn báo chí điện ảnh chi ...Thứ chi cũng làm tuốt mà làm ra làm cái gì cũng đạt đến đỉnh cả. Còn nữ sĩ Phạm Thị Hoài thì chế ra cái Talawas nức tiếng hải ngoại và vang dội đến tận quốc nội.
   
Hồi mới đầu Talawas rất đáng đọc vì nó có tính văn nghệ và có nhiều bài viết rất xuất sắc của những học giả danh tiếng và những người làm văn nghệ nức tiếng. Sau này dính vào chuyện "lề trái lề phải" chi chi đó tự nhiên lại trở thành một cái diễn đàn thượng vàng hạ cám chi cũng có vàng thau lẫn lộn. Xáo xào thế nào thành ra một mâm cỗ thiu cho tiếng vo ve đậu vào đó chửi nhau như cái chợ cá. Mà được ngăn nắp như cái chợ cá Hamburg thì còn may đằng này như cái chợ cá đầu cầu cảng hay góc Đồng Xuân à uôm thời Khánh Trắng Dung Hà làm bảo kê. Chán!
    
Dạo này bật Talawas lên chẳng muốn đọc nữa đọc chỉ tổ thêm phí mắt.
  
Đang tiếc cho Phạm Thị Hoài thì bất ngờ mụ Xanh gọi điện thoại khóc hờ hờ "Anh ơi sao số em nó khổ thế này". Mình quạu lại "Răng rồi hết chỗ đi du lịch hay không còn chỗ nào tiêu tiền nên sinh ra khổ vậy". Mụ Xanh tấm tức phọt ngay cái giọng "giang hồ" mà ngày xưa có một thời làm mình chết mê chết mệt ra:  "Du lịch cái đ. gì đâu thằng cha nhà em dạo này đổ đốn tự nhiên ôm cái Talawas làm lẽ sống bỏ bê công ty chẳng đoái hoài chi đến vợ con tối ngày lướt mạng tìm nguồn chửi bới cộng sản và chính quyền Việt nam. Ok thì chả sống có lý tưởng muốn làm một Lý Tống xịt hơi cay lên mặt mấy thằng ca sĩ đồng cô choai choai khạc mửa nhạc sến trên sân khấu thì kệ cha đi. Đằng này cứ đem cái Talawas ra mà hù dọa mắng chửi vợ con như tát nước. Em chả biết cái Talawas ấy là cái gì mà cha nhà em suốt ngày úp mặt vào đó như trai tơ phải bùa úp mặt vào trôn gái góa vậy".
   
Mình nghe mụ Xanh "thổ lộ tâm can" theo phong cách chợ vải đường Bưởi hết cả hồn vía liền trấn an mụ: "Từ từ ấy từ từ đã em đừng có đao to búa lớn mà rách việc. Bọn mình là dân cùng đinh ăn nói cho nó phải phép đừng có đụng đến vấn đề nhạy cảm mà mang họa vào thân. Chuyện gì có đó để anh đến gặp lão xem sao biết đâu đấy chỉ là hội chứng mạng ảo thôi chứ không có chính trị chính em gì đâu. Yên tâm đi anh đến thăm tụi em rồi tính"
    
Hôm rồi đến thăm vợ chồng hờ của mụ Xanh mình cũng thất kinh xém vãi cả ra quần khi nghe lão chồng của mụ Xanh lý sự chuyện thế thời y hệt một chính khách có tài kinh bang tế thế. Lão xỉa xói mụ Xanh nào là trình độ của em làm sao mà nói chuyện với anh được. Anh là một thành viên nổi tiếng có danh vọng cao trong Talawas đấy nhé. Nghe đến danh của anh cỡ Nguyễn Huệ Chi Đoàn Viết Hoạt Bùi Tín Vũ Thư Hiên..gì.. gì cũng phải nể mấy phần đấy. Những bài viết của anh được đánh giá như những cương lĩnh của mặt trật dân chủ đấy. Nào là làm người dân Việt đang đứng trước hiểm họa cộng sản mà cứ bàng quang như tụi em thì còn gì là Tổ quốc và Dân tộc nữa. Nào là Tổ quốc còn thì dân còn cứ bàng quan như tụi em thì khi tổ quốc lâm nguy vận mạng của người dân cũng đâu có còn. Nào là bọn cầm quyền cộng sản nó ngu lắm phải để cho những người như Talawas tụi anh lãnh đạo thì đất nước mình mới phồn vinh sánh vai cùng các nước trong vùng được. Nào là trong Talawas có bài nói rằng đến cái việc Việt nam nên làm chư hầu cho Mỹ hay làm chư hầu cho Trung Quốc cái nào lợi hơn để khỏi phải bị mất nước cũng không biết nữa thì làm sao lãnh đạo đất nuớc qua nổi cuộc can qua này được. Nào là Talawas nói xã hội Việt nam đang khủng hoảng Lãnh Tụ là ý nói đang khủng hoảng những nhân tài như tụi anh đây về lãnh đạo đất nước đấy...vân vân và vân vân..
     
Nghe lão ấy trình bày quan điểm chính trị để vùi dập mụ Xanh mình thấy thốn cái lỗ nhĩ thế tự nhiên mình nỗi máu giang hồ muốn dạy cho lão này về một bài học về trạng thái tâm thần phân liệt thể Vĩ Cuồng là sao. Mình đằng hắng giả vờ phùng mang trợn má như một thành viên Talawas chính cống bắn một tràng tới tấp lên ngọn lửa chính khách của lão ta: "Này lão Cú (lão này có biệt danh Cú). Talawas là cái đéo gì vậy mà lão mang ra hù họa vợ con lão ra vẻ oai phong thế. Nó chẳng qua là một trang Blog của một người vô công rồi nghề lập ra để buôn chuyện trên mạng ảo thôi. Lão có biết người thành lập ra trang đó làm gì không là người ăn trợ cấp xã hội hưởng Harzt 4 đấy. Là loại người rỗi việc ấm cật nên sinh ra rửng mỡ. Lão có biết loại người lười biếng không chịu làm việc để hưởng Harzt 4 là loại người có đẳng cấp thấp nhất trong xã hội Đức không?.  Là tầng lớp mà xã hội không coi trọng bằng mấy ả điếm hành nghề có môn bài đâu nhé. Vì mấy ả điếm còn đóng thuế để đóng góp cho quĩ phúc lợi xã hội. Quí báu chi mấy câu chữ của mấy người rách việc rỗi hơi sống nhờ vào vào tiền thuế của mấy người bán trôn nuôi miệng mà lão coi đó là kim chỉ nam để mang ra đày ải vợ con lão vậy. Lão tưởng lão là thành viên Talawas là oai phong lắm sao là lấp đá vá trời đấy à. Chính trị với chả phụ trị thành viên gì cuối cùng rồi cũng về tống vào mồm cái thứ vợ lão nấu cũng úp mặt vô háng vợ hàng đêm. Lão có muốn chính trị thì lên mạng mà phát tấu mà nổ chứ đem cái thứ nhơ nhớp ấy về mà hành hạ vợ con là không được đâu đấy nhé đúng là vớ vẩn ."
 
Lão Cú đang phừng phừng lý tưởng nghe mình thoá mạ một hồi sượng ra nghệt ra như ngỗng ỉa mặt mũi tím bầm khi mình ví cái Talawas thần thánh của lão như "cái ấy".... Hai tay lão nắm chặt lại như chuẩn bị sống chết với mình. Thấy vậy mình táng thêm một phát nữa:

- Này lão định oánh nhau với tớ đấy à chứ lão không biết tớ là ai hả một cái phẩy tay của đây là đằng ấy giãy đành đạch thôi. Có ngon thì lão đấu khẩu với tớ về Talawas đi lão có muốn tớ lôi cái tỏng tòng tong của Talawas để chứng minh cho điều tớ nói không?
   
Lão Cú bất lực đứng nghiến răng kèn kẹt hồi lâu lão định chạy đến giáng tay vả vào mặt mụ Xanh ai dè mình đã phòng bị trước dang tay thọc vào gần nách lão điểm vào huyệt bại xuội của lão. Lão uất ức gầm lên một tiếng như tiếng sói tru mở cửa lao ra ngoài.
   
Mụ Xanh thật tệ thấy mình "thiết diện vô tư" bảo vệ mụ hoành tráng như "thảo khấu" Lương Sơn Bạc vậy mà mụ chẳng cảm ơn mình. Thấy mình vùi dập chồng mụ vậy mụ lại đâm ra oán mình thế mới cay mũi chứ. Mụ thấy lão Cú ôm đầu chạy ra ngoài thì quay sang đay nghiến mình:
- Sao anh lại làm vậy tưởng anh đến dàn hòa tụi em ai dè anh ăn nói lại phũ thế. Tội cho lão Cú quá.
   
Thấy mụ Xanh thương chồng mình mới nhẹ nhàng trấn an mụ:
- Thì phải phũ thế lão Cú mới tỉnh ra chứ
- Nhưng mấy cái chuyện anh nói về Talawas như vậy có đúng không chẳng lẽ lão Cú nhà em trí tuệ lùn đến thế kia ư không nhận ra hay sao
- Hì hì...mình vừa cười vừa nói với mụ Xanh- Nói thế nhưng không phải thế chẳng qua là anh hàm hồ bịa chuyện ra vậy để phũ lão Cú vậy thôi chứ thực tế tuy rằng Talawas không còn đáng đọc như xưa nữa nhưng không đến nỗi tệ hại vậy đâu gần đây cũng có lại mấy bài viết có tính nhân bản ra phết đấy.
- Thế thì tại sao anh lại nói với giọng lưỡi chợ búa ấy thiếu văn hóa quá. Anh không sợ bọn Talawas nó thịt anh à.
- Sợ chó gì mình là dân vô danh tiểu tốt ai để ý mà sợ. Chẳng qua là thấy lão Cú bị hội chứng Blog nó hành nên phang một cú cho lão tỉnh ra thôi.
- Hội chứng Blog là gì hả anh?
- Là một chứng bệnh tâm lý do Blog đưa lại. Em phải biết là trong một con người luôn tồn tại phần Người và phần Con cũng như luôn tồn tại đồng hành giữa thế giới Hư và thế giới Thực. Thế giới Hư nó là mơ ước là mong cầu là khát khao là tưởng tượng. Cho dù là thế giới Hư nhưng nó là bộ phận làm nên tư duy và trạng thái tâm lý của con người. Blog là một thế giới mạng mà ở đó có sự nhào trộn rất huyễn mị giữa hư và thực. Tiếc rằng phong cách giao tiếp Blog được đặt trên nền tảng giao tiếp Khen Ngợi. Ở đó Bloger bị ru ngủ trong một thế giới tâm linh chỉ có khen mà không có chê. Blog là nơi giao tiếp bằng comment và reply. Những comment khen ngợi phủ dụ cái tâm lý thích khẳng định mình của bản ngã thì được hoan nghênh. Còn comment có tính chê thì lập tức bị đào thải ngay Vì vậy reply cũng bị lâm vào tình trạng  chỉ để "cảm ơn" và tự sướng. Cái phong cách giao tiếp này vô tình đã đẩy Bloger vào thế ngộ nhận. Từ những tích lũy về lượng nhiều sẽ dần dần thay đổi về chất. Bloger bị thâu nhiếp bằng sự thỏa mãn danh vọng dần dần biến thành một hội chứng mà hội chứng đó chính là bệnh tâm thần phân liệt thể Hoang Tưởng và trầm trọng hơn là thể phân liệt Vĩ Cuồng. Bloger qua lời khen ngợi xã giao ngộ nhận mình là bậc siêu phàm. Nhất là những người có tý hiểu biết biết tòm tèm viết văn hay làm thơ hoặc am hiểu về thời sự rất dễ bị bệnh Vĩ Cuồng thấy cái bóng ảo của mình qua comment mà cứ tưởng mình là vĩ đại. Đó là hội chứng Bolg khá tai hại đấy. Lão Cú chẳng phải là có tham vọng chính trị gì đâu. Chỉ vì lão có tý trí tuệ vào chơi các trang như trang Talawas Boxit Đàn Chim Việt.....Lão có tý sắc sảo trong việc tập hợp tin tức cộng với sự hoài niệm một thời vàng son của chế độ cộng hòa khi xưa nên lão có những bài viết có tý hơi hám qua các comment khen ngợi lão đã ngộ nhận lão là bậc siêu phàm. Vì vậy phải dội cho lão tỉnh ra không thôi sa đà cuối cùng Lão sẽ trở thành một Lý Tống làm cách mạng bằng cách xịt hơi cay đấy.
     
Mụ Xanh nghe mình phân tích về chồng mụ mụ cứ há hốc mồm ra như cá ngáp mưa. Hồi lâu mụ hỏi vậy chứ anh có chơi Blog không đấy mình nói có chứ nhưng chỉ chơi văn nghệ thôi. Mình chỉ cho mụ Xanh xem Blog của mình. Mình không ngờ mụ này cũng văn thơ ra phết cứ đọc hết bài thơ này đến bài thơ khác của mình miệng cứ "chà..chà...." suốt. Hồi lâu mụ bâng quơ ngửa khuôn mặt kiều diễm của mụ lên đôi mắt khép hờ mộng mị đẹp như một đoá sen trắng tinh khiết thăm thẳm mơ hồ đọc một câu thơ của một thi sĩ nào đó mình quên rồi "Có khi nào trên đường đời tấp nập/ ta vô tình như thể lướt qua nhau..."
  
Mình nghe mụ Mèo này đọc câu thơ đó hết hồn lao ra xe rồ máy phắn gấp về Hamburg. Chạy trước chắc ăn lỡ như mụ Xanh là con dao kim cương mà mụ này thì có dư đao pháp kỳ lạ mụ nổi hứng cho mình vào "Ngũ hành mê hồn trận" để mụ ấy đẽo gọt thì nguy tai cái thân mộc yếu đuối của mình.
 
Hú hồn về đến nhà thấy thương thương lão Cú không ngờ đầu hai thứ tóc phiêu bạt đó đây khắp năm châu bốn bể mà vẫn chưa ngộ ra được đâu là chân hạnh phúc của đời vẫn còn bị cái bả vinh hoa phú quí và danh vọng hão huyền nó mê hoặc. Mà có phải là quyền cao chức trọng gì cho cam đó chỉ là sự tung hô của cái mạng ảo cái trang Blog như một nhật ký cá nhân Văn nghệ chẳng ra Văn nghệ Chính trị chẳng ra Chính trị chỉ là một thứ "oẳn tà rà oằn" không biết chống gậy như Cụ Nguyễn Công Hoan đã nói vậy thôi.
    
   
03.08.10
TN

    
  
 
 

More...

HỆ LỤY... .phần 6 và hết (Chuyện Đời)

By Lê Thuận Nghĩa

(tiếp theo phần 5)
  
Ngày theo Thầy học thuốc khi ông giảng về Tứ Chẩn xong ông còn nói thêm phàm khi chẩn bệnh người thầy thuốc phải biết đau cái đau của con bệnh lo lắng cái lo của con bệnh thì khi đó mới đi đến chỗ tột cùng của sự cảm thông có vậy mới đưa việc tứ chẩn đến diệu dụng được. Tôi hỏi mần răng mà mình đau được cái đau lo được cái lo của con bệnh. Thầy nóí thì hóa thân mình thành con bệnh để mà thấm cái đau của họ mà lo nỗi lo của họ chớ răng. Hồi đó tôi còn trẻ dại tính tình hay bông lơn cộng thêm cái cái chuyện nghiền chuyện chưởng nên khi nghe Thầy nói thế tôi hỏi lại rứa là y chang như phép phân thân của Tề Thiên Đại Thánh phải không nhổ một sợi tóc gáy hô biến là biến thành hột kim đan lăn vô bụng bệnh nhân chứ chi nữa. Thầy gõ lên đầu tôi nói mi nói chơi rứa chớ không trật mô đúng rứa đúng rứa đó là phép Hóa Chẩn phải có khi dụng phép Vọng Văn Vấn Thiết (Nhìn Nghe Hỏi và Bắt Mạch) trong Tứ Chẩn.
  
Tôi hiểu ý Thầy tôi nói gì nhưng vẫn chưa thấu ngộ được ý chỉ đó.
 
Khi bỏ phố lên Tuần ngồi dưới tượng Quan Âm phá công án "Mẫu Tử" tôi mới có cơ hội tham thấu phép Hóa Chẩn của Thầy.
 
Tôi phân tâm đặt mình vào hoàn cảnh mẹ của Phượng để phân tích trạng thái tâm lý sẽ xẩy ra như thế nào. Tôi giả sử tôi là bà ấy để có được cảm nhận khi người con gái yêu hòn ngọc của đời mình mà mình suốt đời thương yêu và hy sinh tận tụy vì nó đột nhiên đem tất cả tài sắc đi hiến dâng cho một kẻ khác mà kẻ đó lại một đứa cù bất cù bơ không nhà không cửa nghèo kiết xác kẻ đó lại có một quá khứ bất hủ trong giới "giang hồ". Nhờ sự phân tâm này tôi mới hiểu được vì sao Mẹ của Phượng lại có những hành động tàn bạo khi muốn ngăn cản tình yêu của chúng tôi. Tôi mới hiểu vì sao bà ấy thà ra khỏi Đảng không cần làm đại biểu Quốc Hội và tự nguyện từ chức Chủ Nhiệm Ủy Ban Bảo Vệ Bà Mẹ và Trẻ Em tỉnh để ngăn cản cho bằng được quan hệ giữa tôi và Phượng.
 
Tôi phân thân thử đặt mình vào hoàn cảnh của chính Phượng. Tôi mới thông cảm được với nỗi đau cùng cực của người con gái khi bị đặt vào tình huống "bên tình bên hiếu bên nào nặng hơn". Từ sự thông cảm đó tôi đã biết loại ra khỏi tình yêu sự chiếm đoạt sự sở hữu thuộc về nhau. Tôi không đồng hóa cái lý "chiếm hữu" trong tình yêu thành cái cảnh giới "thuộc về nhau" "tất cả cho nhau" và vì nhau. Chỉ cần có nhau là đủ là cái cảnh giới rất thấp "vị kỷ" nhất trong sự rung động và hòa hợp của Tình yêu.
 
Tôi thoát ra khỏi sự tự ti thoát ra khỏi thế tự kỷ để đứng bên ngoài sự sân hận của mình đứng bên ngoài đam mê của mình tôi hóa thân thành một người khác để quan sát nhìn nhận lại chính mình. Khi đó tôi mới cảm nhận ra được mình là ai mình có cái gì mình thuộc typ người gì. Qua đó tôi mới hiểu rằng quả thật tôi không phải là loại người vì gia đình tôi không có lẽ sống vì một gia đình tôi không thể nào đưa lại cho Phượng hạnh phúc của một gia đình. Tôi không thể nào có sự đảm bảo cho Phượng một cuộc sống huy hoàng và tráng lệ trong hôn nhân được. Tôi không thể nào có thể hóa nhập cái thế bên tình bên hiếu của Phượng thành một được. Tôi hiểu tôi tôi biết được những gì xảy ra trong tương lai tôi không có khả năng bảo kê cho một mối tình "Một mái lều tranh hai trái tim vàng" được. Cái viễn cảnh rồi một ngày nào đó chúng tôi lại phải "cắn xé" lẫn nhau rời xa nhau chia tay trong sự bẽ bàng thậm chí có thể là thù hận như những cuộc hôn nhân những cuộc kết hợp vì tình yêu khác.
  
Qua sự phân tâm đặt mình vào thân phận của nhiều người khác đó. Tôi đã tìm ra hướng đi cho sự bế tắc của tôi và Phượng.
   
Khi nghĩ đến lúc rời xa Phượng. Trái tim tôi như quặn thắt lại. Tôi có cảm giác như trong lồng ngực mình trái tim đang bị những sợi lạt giang bó siết lại như một đòn bánh tét. Tôi thấy hơi thở mình như bị thắt nghẹn tôi oằn lên trong dãy dụa đau đớn. Tôi có cảm giác máu mình đã ngừng chảy và trong huyết quản của tôi chỉ còn lại một dòng chảy bằng những chiếc kim. Những chiếc kim đó đang đâm vào từng làn da thớ thịt của tôi.
   
Cái trạng thái phấn khởi thanh thản khi tìm ra được hướng đi cộng với cái  day dứt cồn cào khắc khoải nhức nhối của sự chia ly đã đẩy tôi vào một trạng thái rất hỗn loạn. Sức ép tâm lý hai dòng chảy bạo ngược đó cứ cuộn xoáy tôi vào một hố thăm thẳm không đáy. Một dòng chảy cuộn tung tôi lên cao hất tôi lên tới đỉnh cao chất ngất của lòng bao dung sự hy sinh tận tụy. Một dòng chảy nhấn chìm tôi xuống cái hố đen ngòm của sự tàn phá đổ vỡ khắc nghiệt. Tôi bỗng thấy tâm tư mình lùng bùng choáng ngợp hãi hùng trước một sự tuyệt vọng vô bờ.
   
Mắt tôi tự nhiên tối sầm lại trời đất quay cuồng chao đảo. Tôi thấy tâm tư tôi khối óc tôi như một cái bóng đèn thủy tinh cứ lớn dần lên lớn dần lên trong sự chèn ép căng thẳng. Cái " bóng đèn thủy tinh"  ấy tưởng chừng như lớn mãi ra không có giới hạn. Tôi như mất hết sức lực để chống lại sự chèn ép ấy và gục xuống. Cái bóng đèn thủy tinh khổng lồ ấy bỗng chốc vỡ tung ra tôi nghe trong tôi có một tiếng nổ dữ dội. Trước khi tôi rơi vào trạng thái hôn mê tôi vẫn còn cảm giác được từng mảnh vỡ của cái "bóng đèn" ấy găm lổn nhổn vào trong óc não của tôi.
   
Khi tỉnh dậy sau cơn hôn mê tôi thấy tâm tư tôi thật bình lặng một trạng thái an lạc rất lạ kỳ mà đến bây giờ tôi vẫn không thể nào mô tả và lý giải nổi.
   
Sau ba ngày ấy tôi về lại phố trong tâm trạng phấn khởi vui tươi và nhiên lành không ai có thể ngờ tới.
   
Chị tôi và mọi người đang lo lắng về sự mất tích của tôi. Họ không ngờ tôi trở về với một con người hoàn toàn khác lạ. Họ không thể ngờ rằng cái thằng mới hôm rồi sầu muộn vì chuyện tình ngang trái tóc đã điểm vài sợi bạc vì lo nghĩ nay bỗng nhiên thần sắc sán lạn và rất nhu nhuận.
   
Trước đây chị tôi và mọi người lo lắng cho tôi thương cả tôi và Phượng mà không ai dám có lời nào khuyên bảo. Chị tôi chỉ khóc và vuốt tóc tôi than "tội hai đứa bay quá" chứ không khuyên bảo gì cả. Cô tôi thì nước mắt lúc nào cũng rơm rớm và ngồi thở dài. Nay thấy tôi mất tích mấy ngày khi trở về lại thấy tâm tư tôi rạng rỡ miệng lúc nào cũng tủm tỉm cười. Chị tôi nói với mọi người đừng lo cho hắn nữa vì nụ cười của hắn đưa lại cảm giác rất bình yên.
  
Và quả thật mọi chuyện đã bình yên trở lại. Rồi Phượng cũng có người yêu khác và họ đã làm hôn lễ trong nụ cười mãn nguyện của mẹ Phượng.
   
Chúng tôi không biết chia tay từ lúc nào chắc chắn cả tôi và Phượng chưa hề nói với nhau một lời chia tay nào cả mọi chuyện cứ nhẹ nhàng nhích từng tý từng tý một mà thay đổi trong sự bình lặng. Ai cũng nhẹ nhõm thoát ra khỏi con đường cụt đầy chông gai và bão tố đó.
   
Ngoại trừ thằng Hội không một ai biết rằng chồng của Phượng bây giờ là bạn thân của một người tôi quen biết. Và chính tôi là người tạo điều kiện cho hai vợ chồng của Phượng chuyển công tác vào Sài Gòn và cả hai được nhận vào làm việc ở một cơ quan có khả năng phát triển kinh tế vững mạnh lúc bấy giờ. Ngay cả việc hai vợ chồng được nhập khẩu một cách dễ dàng vào Sài Gòn cũng do bàn tay tôi sắp xếp. Nếu như trong một lần nhập viện vì bệnh áp suất máu cao Mẹ của Phượng không phát hiện ra người y tá thiện nguyện chăm sóc bà tận tình chu đáo khi bà chỉ còn lại một mình ở lại Huế là do tôi sắp đặt để nổi cơn thịnh nộ và xua đuổi cô ấy đi thì mọi người đều nghĩ rằng tôi đã hoàn tòan không còn quan tâm đến Phượng nữa.
   
Thật ra ở trong tôi có một cái gì đó cao hơn vượt ra ngoài giới hạn của tình yêu đã xoa dịu tôi chứ hình ảnh của Phượng tình yêu của Phượng vẫn mãi mãi ở lại bên tôi. Tình yêu đó cảm xúc đó đã đưa tôi đến mảnh đất linh thiêng và thánh thiện của Thi Ca.
   
Một công trình khoa học của các nhà bác học khoa Vật Lý Lượng Tử ở Mỹ đã tìm ra được Hạ Nguyên Tử mới đây họ vừa công bố công trình dựa vào khả năng vận tốc phi ánh sáng của hạt Hạ Nguyên Tử có thể đưa con người trở về quá khứ thậm chí còn có thể tác động vào các "điểm" nhạy cảm của quá khứ để làm thay đổi hành trình của Lịch Sử nhân loại. Giả sử nhờ vào hạt Hạ Nguyên Tử tôi có thể trở về quá khứ thì tôi cũng không hề muốn có tác động nào để thay đổi lịch sử của đời tôi. Tôi cũng chẳng muốn có tác động "tích cực" nào để tôi và Phượng sẽ được ở gần nhau. Vì tôi biết rằng: con người họ vốn gần như trăm phần trăm ngộ nhận về nửa còn lại của chính mình. Xác suất tìm ra được nửa còn lại bị thất lạc trong guồng máy của định mệnh vốn không có khả thi nếu như không nói rằng sẽ chẳng bao giờ có.
   
Bạn có biết rằng cái xác suất tìm nửa còn lại của chính mình là bao nhiêu không?. Nó chỉ có xác suất là 1 phần trên 6 tỷ. Có nghĩa là nôm na biết rằng: Trong 1 thành phố như thành phố Hà Nội với khoảng 6 triệu người thì xác suất ấy chỉ có thể tìm ra khoảng vào độ một cái móng tay hay độ khoảng 50 sợi tóc của nửa còn lại của bạn mà thôi. Với xác suất 1 phần trên 6 tỷ đó bạn có nghĩ rằng bạn là người may mắn tìm được 1 phần 6 tỷ ấy không. Vậy thì sao bạn lại dễ dàng chấp nhận để gắn bó trọn đời với cái nửa na ná ấy chứ.
  
Đoạn Kết
 
Năm trước về Sài Gòn có một hồng nhan tri kỷ của tôi biết được Phượng qua Thơ tôi nhất là qua tập "Tháng Hai Có Ba Mươi Ngày" và bài thơ Có Một Mùa Mây Cũ cô ấy hỏi tôi có muốn tìm gặp lại Phượng không. Sau gần 30 năm xa cách tôi cũng muốn biết cô ấy giờ sống ra sao nên gật đầu. Cô bạn của tôi bằng sự giao tiếp rộng rãi đã tìm ra và liên lạc được với Phượng. Cô hỏi tôi có muốn gặp Phượng không tôi lắc đầu nói chỉ cần biết tin là đủ gặp lại làm gì biết đâu sự gặp lại sẽ giết chết Thơ tôi. Cô ấy cho biết đã liên lạc trò chuyện thường xuyên với Phượng. Và cho tôi biết Phượng hình như đã quên tôi và chẳng còn ấn tượng gì về tôi nhiều lắm. Phượng còn khuyên cô ấy không nên "dây dưa" với tôi vì tôi không phải là tạng người của gia đình và hôn nhân.
    
Người bạn của tôi buồn buồn hỏi tôi biết tin người mà anh không bao giờ quên ấy anh thương nhớ trọn đời ấy không còn có ấn tượng về anh anh có buồn không?. Tôi trả lời là không hề có một tý gì buồn cả nhưng chỉ hơi lo lo vì Phượng nói đúng tôi không phải là loại người thích hợp với hôn nhân.
 
Hết
  

  

More...

HỆ LỤY... .phần 5 (Chuyện Đời)

By Lê Thuận Nghĩa

(Tiếp theo phần 4)
    
Xưa có câu "nhân tại giang hồ thân bất tự kỷ" có nghĩa là "người ở
trong giới giang hồ không thể tự làm chủ được cuộc đời do dòng xoáy của thế cuộc đưa đẩy". Tôi nghĩ rằng câu nói đó cũng đúng với tình yêu.
       
Hồi trẻ khi chưa biết yêu tôi cũng đã nghĩ như vậy rồi. Tôi nghĩ tình
yêu cũng là một thứ giang hồ mà nơi đó người ở trong cuộc không thể làm chủ được mình. Sau này nghiệm ra thấy cũng không sai là mấy. Bởi vậy tôi có làm bài thơ Giang Hồ trong đó có đoạn viết
    ...
Chưa xuống núi đã thau vàng gác kiếm
Bởi vì em thật trọn đủ Giang Hồ
Có thượng thừa giữa quần hào nức tiếng
Thiếu em rồi cũng tột đỉnh bơ vơ.
...
 
Tôi xem tình yêu như một cuộc giang hồ. Và chính tôi chưa đủ công
lực để xuống núi chưa đủ thâm hậu để đối đầu với giông bão của tình yêu nên đã đành thúc thủ sớm gác kiếm khi chưa một lần xuất trận. Bởi tôi biết rằng dù có đủ công lực thượng thừa đi chăng nữa thì cuộc hợp tan mai hậu cũng để lại cho ta một trời bơ vơ mà thôi.
  
Phượng là mối tình đầu của tôi nhưng tôi không phải là mối tình đầu
của cô ấy.
 
Phượng đã có một mối tình trước đó với người giám đốc trẻ của
công ty cơ khí mồng 3 tháng 2. Người giám đốc này trước đó yêu một cô gái khác sau đó gặp Phượng thì chia tay. Cô gái kia uất hận vì bị phản bội nên  tự vẫn dưới hồ sen trước cửa Ngọ Môn.
 
Cái chết của người con gái ấy trở thành nỗi đau nỗi ăn năn uất ức
của Phượng. 
    
Kết thúc mối tình đó Phượng cũng giống như tôi cũng tự mọc
những cái gai lởm chởm như con nhím lông xù xù lông lên để chống chọi với sự cám dỗ của tình yêu. Phượng cũng giống như tôi sắm cho mình một cái lá chắn và cứ ngỡ nó kiên cố vô địch thiên hạ.

Chẳng thể có mãnh lực nào xâm phạm tới và lay chuyển nổi.
   
Ai dè những cái lá chắn của chúng tôi mềm nhũn như bọt bèo hoang
dại khi chúng tôi sáp cận vào hồn nhau.
   
Niềm vui hạnh ngộ của hai tâm hồn trẻ chưa kịp đơm hoa trổ lá
chúng tôi vừa mới nhận ra nhau trong cuộc đời đầy sự mù mờ khuất lấp để tấp tễnh làm một cuộc "dời non lấp bể" là hóa quyện vào nhau mà thăng hoa vào cảnh giới chất ngất của ân tình thì giông bão đã p tới.
    
Nếu như không có sự cay đắng oan nghiệt ấy có lẽ thời gian tiếp cận
nhau của chúng tôi sẽ làm cho chúng tôi hiểu về nhau hơn. Và biết đâu khi đã nhận biết ra nhau thật sự chúng tôi sẽ tự rã đám trong một ngày nào đó như những mối tình khác của những người mới quá độ trăng tròn.
     
Đâu ngờ Mẹ của Phượng bàng hoàng ngây dại khi biết đứa con gái
rượu ngoan hiền xinh đẹp của mình lại đem lòng yêu một kẻ khố rách áo ôm. Bà không thể tưởng tượng nổi đứa con gái học thức và trí tuệ của bà. Cô "công chúa" kiều diễm của giới thượng lưu mà bà đang trôi nổi trong đó lại định trao thân gửi phận cho một kẻ vừa mới " rửa tay gác kiếm giang hồ".
   
Người phụ nữ góa bụa từ lúc mới 23 tuổi thủ tiết thờ chồng nuôi
con gái khôn lớn thành người. Không thể nào đứng nhìn con gái của mình rơi vào "cạm bẫy" của trái tim non nớt. Bà đã nổi cơn thịnh nộ. Và tai ương bắt đầu đổ ụp lên đầu chúng tôi.
    
Phượng là niềm kiêu hãnh của bà là  tất cả hạnh phúc trên thế
gian này mà bà có được. Là mục đích cuối cùng của bước đường danh vọng và quyền lực của bà. Phượng sẽ là tương lai là "dư âm" hình ảnh ngọc ngà châu báu của bà được "tái sinh"  lại trong tuổi xế bóng về chiều.
    
Tiếc thay bà không thể đủ kiên nhẫn để chờ đợi những trái tim non
dại vồ vập lấy nhau ở thuở ban đầu. Rồi một lúc nào đó chúng sẽ tự va vấp lấy những đam mê khác mà "hồi đầu là ngạn". Phượng sẽ trở về với Bà nguyên nghĩa là đứa con yêu.
   
Cách cư xử của bà đã đẩy tình yêu mới nảy nở giữa chúng tôi vốn
đã lãng mạn như sự lãng mạn của những mối tình mới chớm khác đi vào chỗ càng lãng mạn hơn nữa. Vì chúng tôi ngoài việc muốn thăng hoa hóa quyện vào nhau trong sự vĩnh cữu chúng tôi còn có sự "hoạn nạn có nhau" còn được đặt lên bàn cân "chữ tình chữ hiếu bên nào nặng hơn"   rồi bị ép cưỡng bước ra giữa ranh giới của các ngã đường phải chọn "tình đời nghĩa đạo" "bên nghĩa bên tình" "bên sự nghiệp bên tình yêu" v..v...
       
Trong tình huống đó tình yêu giữa tôi và Phượng đã vô tình bị đẩy
đến một cảnh giới cao hơn. Nó không còn là cảnh giới thường tình của sự rung cảm của trái tim của sự hưởng thụ sự tiếp nhận "phồn hoa" của cảm giác yêu đương. Cảnh giới mà Mẹ của Phượng

"đoạ đày" chúng tôi đến đó nếu chúng tôi chấp vào bản ngã thì sẽ trở thành "địa ngục" nếu chúng tôi rời xa bản ngã nó sẽ là "thiên đường".
     
Cả tôi và Phượng đã chọn "thiên đường". Đã chọn con đường quên mình vì người khác.
  
Trong hoàn cảnh nghiệt ngã đó cả tôi và Phượng chỉ còn lại một
ước muốn duy nhất làm thế nào để cho người kia đừng bị khổ lụy. Cho người kia đừng buồn đừng phải rơi lệ. Chỉ cần làm cho người mình yêu có được nụ cười có niềm vui dù bằng bất kỳ giá nào chúng tôi cũng đánh đổi.
  
Tình cảnh ngặt nghèo và con đường tình yêu chông gai mà chúng tôi
đã chọn đã đưa tình yêu của chúng tôi đến cảnh giới vị tha nhất đã biến tình yêu trai gái thường tình thành một sự dâng hiến tột cùng của cảm giác.
      
Chúng tôi không còn có thời gian để yêu nhau chỉ còn có thời gian
để vì nhau.
      
Những chiếc áo thấm đầy máu oan cừu của Phượng phun ra từ mũi
từ mồm do bị đánh đập và cầm cố tôi cầm nó trên tay và giữ mãi cho đến tận bây giờ không làm chúng tôi tủi hổ và uất ức. Bàn thờ nhà Chị tôi bị lật nhào Cô tôi bị mắng chửi. Tôi ba lần bảy lượt bị xã hội đen đòi xóa sổ mấy lần bị công an mời lên vì bị gài bẫy vu khống. Thậm chí Ông Lê Phước Thúy cũng bị áp lực từ trên xuống là phải sa thải tôi...tất tần tật những vụ việc đó chỉ tổ làm cho tình yêu chúng tôi càng thêm phần lãng mạn và sắt son mà thôi chứ không thể nào lung lạc được tôi người mà từ 6 7 tuổi đã biết sống còn với sinh tử của đời sống.
     
Cho đến một lần khi tôi lẽo đẽo theo sau hai mẹ con Phượng bên kè đá dọc Hương Giang nơi công viên Lê Lợi. Phía trước Mẹ của Phượng vật vờ như một bóng ma hời loạng choạng bước đi thỉnh thoảng lại thẫn thờ đứng lại nhìn xuống dòng sông cuộn sóng phía

sau Phượng vừa đi theo vừa tấm tức khóc vừa hời hời luôn miệng gọi "Mẹ ơi..mẹ ơi...". Sau cùng là tôi vứt dép đi chân trần cởi áo cầm tay đi  theo sau chỉ có một việc là chờ ai nhảy xuống sông trước thì vớt người đó lên.
   
Chúng tôi cứ như những bóng ma như vậy đi lại trên đoạn đường ấy cho đến lúc gần tàn đêm. Khi đến gần bến Da Vàng gần đài truyền hình Huế Mẹ phượng ngồi thụp xuống và ôm mặt khóc nức nở bà khóc to khóc dòn dã như một đứa trẻ con lạc mẹ. Phượng đến bên ôm chầm lấy mẹ hai mẹ con ôm nhau ngồi bên kè đá mà khóc khóc trong tiếng "con ơi" và "mẹ ơi"....
  
Tôi choáng váng và cũng thẫn thờ ngồi lại trên một ghế đá gần đấy.

Trời đất như sụp đổ hết lên tôi. Tôi như lắng nghe được từng tiếng vụn vỡ loảng xoảng lanh canh nhói buốt trong hồn mình. Tất cả mọi sự khổ ải oan nghiệt trước đó bỗng chốc trở thành vô nghĩa hết khi tôi bằng hoàng cảm nhận ra được thế nào là tình mẫu tử.
     
Hồi đó Thầy tôi đã mất khi theo các quan chức Phật giáo Huế vào dự hội nghị Phật Giáo Thống Nhất trong chùa Vạn Hạnh ở Sài Gòn.

Thầy tôi tử nạn cùng mấy trăm người Phật tử và Tăng lữ bị đầu độc ở đó.
 
Thầy tôi đã mất Chùa tạm thời bị niêm phong. Tôi không còn ai để nương tựa tinh thần. Ấn tượng hãi hùng về cái đêm "rùng rợn" đó đã làm cho tâm tư vụn nát.
 
Tôi xin nghỉ phép 3 ngày và đi lên núi. Không còn chùa để nhập thất sám hối như mọi lần phạm lỗi khác. Tôi tìm lên con đường đồi từ lăng Khải Định đi Ngã Ba Tuần. Ở trên đoạn đường đó có một ngọn đồi  rất cao trên đó có một bức tượng Bồ Tát Quan Âm xây trên đỉnh đồi. Bức tượng này cao lớn và rất hùng vĩ tượng Phật Bà Quan Âm quay mặt ra phương Bắc. Nghe nói đó là bức tượng do vợ con và thân quyến của những người lính Cộng Hòa góp tiền tu tạo nên khi chồng con của họ đang ở ngoài Quảng Trị trong chiến dịch "mùa hè đỏ lửa."
   
Đoạn đường từ lăng Khải Định đi Ngã Ba Tuần là đoạn đường ghi lại nhiều dấu ấn giữa tôi và Phượng. Vì đó là đoạn đường khá kín đáo trên đường đi dạy của Phượng và chỉ ở đó tôi với Phượng mới có cơ hội gặp nhau trong sự kiểm soát ngặt nghèo của mẹ Phượng.
 
Tôi đến quì dưới tượng Bồ Tát Quan Âm suốt ba ngày ba đêm. Để phá cái công án Thiền: Tình Mẫu Tử.
  
Cái công án Tình Mẫu Tử  mà tôi tham thiền đột phá trong 3 ngày đó không những đã giúp tôi và Phượng giải thoát khỏi sự ngang trái ác nghiệt của tình yêu mà còn giúp tôi đột phá được cảnh giới Hóa Chẩn ở trong Y đạo. Cái công án đó làm cho đời tôi bước sang một

bước ngoặt hoàn toàn mới.
Sau này nhớ lại việc này tôi có làm bài thơ Huyền Thoại Em vào lúc tôi tròn 49

tuổi:
 
  HUYỀN THOẠI EM
 
Có lẽ bốn mươi chín năm về trước
Trong một buổi nồm nam. Mẹ mang thai
Nên giờ đây giữa dòng xuôi ngược
Ngu ngơ ...
Có anh thổi lạc loài
    
Anh xào xạc khua cánh rừng nuối tiếc
Tìm hương Em về kết lá trăm năm
Em ngậm vị
Xanh cội nguồn lộc biếc
Nghiêng đại ngàn nâng dáng núi xa anh.
    
Em thăm thẳm
Gió anh về cô lẻ
Níu rẻo buồn
Hiu hiu với trong xanh
Có một lần ngỡ mái rừng là Mẹ
Anh về trên nhành lá..
..ngủ ngon lành. 
15.09.08
    
Cũng trong thời gian này qua cái công án "mẫu tử" ấy tôi có viết bài thơ Em Bỏ Cuộc Tình mà sau này có in lại trong tập "tháng hai có ba mươi ngày". Bài thơ này nói về bước đi tương lai cho mối tình của chúng tôi khi tôi đã ngộ ra điều mình cần phải làm vì tình Mẫu Tử.

Bài thơ lấy ý của lễ Vu Lan làm đối trọng của người Mẹ
   
   EM BỎ CUỘC TÌNH
  
Em bỏ cuộc tình tôi bỏ cuộc người.
Mắt môi ngày ấy nguyên màu thời gian.
   
Em bỏ cuộc tình tôi bỏ cuộc tôi.
Một lần bên mé Vu lan
Cho ai cài áo em ngồi tụng kinh.
   
Em bỏ cuộc tình tôi võng vành nôi
Đóa hoa màu trắng cài ngang lưng trời.
   
Em bỏ cuộc tình tôi bỏ cuộc say
Câu thơ dạo đó nhuốm thành khói mây
     
Em bỏ cuộc tình tôi níu cuộc chay
Vuốt dòng Thủy Sám gột lên mắt ngày.
...
    
Sở dĩ tập thơ tình đầu tay của tôi có tên là "Tháng hai có ba mươi ngày" là vì Phượng sinh nhằm vào tháng hai mà tháng hai thì không bao giờ có 30 ngày chỉ có 4 năm có một lần 29 ngày thôi. Không biết vì sao lúc làm giấy khai sinh người ta nhầm lẫn thế nào mà ghi cô ấy sinh ngày 30 tháng 2. Giấy tờ tùy thân của cô ấy nghe nói đến bây giờ vẫn ghi như vậy. Lạ thật!
 
Trong tập " Tháng Hai Có Ba Mươi Ngày" có hết hơn phân nửa là hồi ức về những gì xảy ra trong quá trình tôi đột phá được trong 3 ngày "nhập thất" giữa đất trời dưới tượng Bồ Tát Quan Âm.
Ví dụ mấy bài Đọa Lạc cũng nhắc đến ấn tượng này:
 

GIẤC MƠ CỔ LỖ SĨ
(Đoạ Lạc 17)

....
Thu roàng roạc cào banh vùng kỷ niệm
Mạn hanh vàng ghé lá rụng tìm nơi
Trố mắt cáo lối quay đầu khuất cội
Giọt rưng rưng hóa cuội sỏi mất rồi
    
Lối núi xưa khi em về. Nhẹ bước
Trời kết màu thượng cổ trải rừng phơi
Bờ cát đá rong rêu ngày thổ mộ
Rẻo chiều chia Sáng-Tối để thành đôi
    
Bước chân trần gai đâm ngày bữa nọ
Nẻ múi buồn nứt nụ nhớ. Còn đau
Cung Thiện Nghệ nhắm hờn vầng Ngọc Thố
Hóa ra mình tên bắn cắm đời nhau
     
Em tóc xõa cho phấn son đẫm nguyệt
Vén lên tình bới chỏm mộng khơi khơi
Mảnh tương tư chải ngày chưa kịp khuyết
Chuốt sợi sầu đan lưới hứng trăng soi.
    
Lời song cửa thả rèm che tục lụy
Vó tịch dương gõ lủng mủng ngày về
Hiên hoa khế rớt màu trăng tím tái
Võng góc nhà kẽo kẹt một cơn mê...

   ____
 
Hồi đó tôi đã có ý tưởng theo Thầy xuất gia nhưng Thầy nói tôi còn nặng nợ trần duyên phải trả nên không cho xuất gia. Bài Đọa Lạc 3

nhắc đến sự "trầm lạc" này
  
ĐỌA LẠC 3
.....
Tưởng khẻ khàng men bờ Tịnh độ
Nẩy chồi quên về phía Vô ưu
Ai dè còn rưng rức tiếng mõ
Vọng lời yêu đòi nợ oan cừu 
   
Cõng bóng hình qua dòng đành đoạn
Bỏ bên này trỉu nặng bên kia
Nguồn ái chảy bờ mê chưa cạn
Ta ngu ngơ thèm cõi đi về
  

 Qua công án tôi thấy mình phải gạt bỏ tình cảm luyến ái cá nhân để bảo vệ lấy tình Mẫu Tử của Phượng. Biết vậy nhưng để làm được là cả một đoạn đường đầy kịch tính
   .....
 
Rồi một bữa ta thấy mình kinh dị
Mé bờ yêu quên bỏ lại em rồi
Để phanh phui cả một thời mộng mị
Giữa đục trầm ngao ngán thả tình trôi.
     (Kinh Dị)
...
Cũng đôi khi tình yêu chợt cuồn cuộn dâng lên tôi muốn phá bỏ đi tất cả chỉ để được yêu cho dù phải có nhiều hệ lụy
 ...
Rồi rứa đó đêm về vò chăn gối
Nặng tiếng thở dài khao khát lắm yêu thương
Rồi vùng dậy òa trang tình viết vội
Mắt môi nào cháy từng nét thơ suông
    
Cứ như thể nén nhang thời khấn niệm
Chỉ vì Em thắp mấy nẻo dòng đời
Sương khói ấy quyện hình hài lưu luyến
Đêm bạc lòng ngắm từng mảnh trăng rơi
    
Là rứa đó có gì đâu mà tụng
Diện mục mình khuất sau lớp son yêu
Kinh vạn quyển cho đạo tràng nghiêng ngả 
Bể nhân gian thêm lạc lối truông đèo.
   
Thà cứ vậy ta đọa vào cửa quỉ
Lạc bên lề nhân thế đắm trên môi
Thà cứ vậy khoác bùa mê hồ mị
Cõi Vô Minh mới đích thực là đời
(Đọa Lạc 3)
...
Bài Đọa Lạc 6 thì mô tả cái phút chuyển dịch tâm tư từ sự đổ vỡ của nhận thức về tình yêu thông qua tứ thơ nói về sự luyện công lúc "nhập thất" phá công án:
...
 Chân đảo nhịp lạc mấy đường quyền phổ
Tình hoang đau khởi lấp buổi huyền công
Em. Từng chữ lấn mê dòng Lục-tự
Qui tức trầm thâu nhiếp một hừng Không
   
Như muốn hét tới ngàn lần Sư-tử- hống
Cho nát tan toạc rách cả hồn yêu
Trả lại anh thủa chân truyền tĩnh lặng
Chớ đọa đày phách nhớ quá lêu bêu.
(Đoạ Lạc 6)
 
Đã có khi ngửa mặt nhìn trời nhìn đất để than thân trách phận nhưng cuối cùng cũng tìm ra được "chân lý". Cái "chân lý"  về Em đâu cần phải là một thực thể bằng xương bằng thịt nào đó. Cái "Em" để mình yêu mình thương mình vần vũ trong đó như một "cuộc chơi" cũng thể được nhào trộn bằng mây gió đất trời mà nên. Chính cái "chân lý này" đã "hun đúc" nên một "Em" lồng lộng khác mà suốt đời tôi thờ phụng. Nó không còn là Phượng nữa mà là một "Em" hoàn bích hoàn mỹ của Yêu và Thơ:
...
Đừng trách thượng đại thiên thu
Mà ghê cái phút tù mù nắm tay
 
Trộn đêm xáo với nắng ngày
Trộn trăng với gió đem bày cuộc chơi
 
Một hôm ngửa mặt dòm trời
Thấy tà mây quấn trắng lời tang đau.
(Nẻo Thu Khác)
    
Đại khái là vậy!
 
Phải công bằng mà nói tôi phải cảm ơn Phượng và Mẹ của Phượng.

Bởi những ngặt nghèo mà mẹ Phượng đã đẩy tôi vào đó đã giúp tôi có 3 ngày "Thủy Sám" dưới tượng Quan Âm.
 
3 ngày đó đã cho tôi rất nhiều thành quả nhiều ấn chứng mà đôi khi cả một đời tu hành không có nổi. Trong đó cái cực kỳ trân quí nhất là tôi khai mở được thuật Hóa Chẩn. Một thủ thuật chẩn bệnh rất diệu

vợi mà sau này đã giúp tôi không ít trên con đường lập nghiệp..Có lẽ vì cái ấn chứng ấy có được từ việc phá công án "Mẫu Tử" liên quan đến Phượng cho nên dấu ấn về Phượng trong tôi khó có thể phai nhạt chăng....
 
(còn nữa)

More...

HỆ LỤY... .phần 4 (Chuyện Đời)

By Lê Thuận Nghĩa

Thiên hồi ức Thời Hoang Dại Cuối Cùng (Hệ Lụy) này viết để tặng CC NTP và Phạm Văn Hội.
______
 

Phần1:
 http://thuannghia.vnweblogs.com/post/7291/244746   
   
Phần2:
http://thuannghia.vnweblogs.com/post/7291/244824     
 
Phần3:
http://thuannghia.vnweblogs.com/post/7291/245134   

   
(Tiếp phần 3)
    
Khi dừng chân lại Huế cũng là lúc tôi dừng bước giang hồ. Chấm hết một "Thời Hoang Dại".
  
Ở vào độ tuổi 24 25 thông thường đó là độ tuổi chín rộ nhất của tuổi xuân thì. Nhưng với tôi thì đã trở thành già cỗi. Cho dù tôi chưa từng trải qua một mối tình nào. Nhưng tuổi thơ nghiệt ngã đã đốt cháy mất thời xuân trẻ của tôi rồi.
 
Một phần lăn lộn đó đây tiếp xúc với đủ hạng người chứng kiến nhiều những mối quan hệ hôn nhân đổ vỡ nên tôi đã hiểu ra được thế nào là nhân tình thế thái.
 
Một phần cứ ngấm dần lời dạy của Thầy nên tôi cũng tạm thấu được cái bã độc của tình ái cái họa hại của sắc giới trong cõi tạm này
 
Và cái quan trọng nhất là tôi đọc quá nhiều thượng vàng hạ cám gì cũng đọc cho nên từ cái sự đọc đó tôi cũng dần ngộ ra cái "xiêm y" phù phiếm phủ lên trái tim của người đời mà họ thường nôm na gọi đó là Tình Yêu.
 
Vừa về đến Trung Tâm. Thì người bạn đồng nghiệp người chị đồng hương kính nể của mình hồi còn học ở trường Dạy Nghề đã hối hả theo chồng dọn vào Đồng Nai. Chị Nguyệt học khóa 2 bên môn Tiện (cùng khóa với Mai Vũ). Chị là hoa khôi của Trường Dạy Nghề yêu thầy dạy thể dục có biệt danh là Đức Voi. Đức Voi vốn là cầu thủ đá bóng của Quân Khu Bốn sau về đá cho Sông Lam Nghệ Tĩnh. Cuối cùng hết thời cầu thủ thì về dạy thể dục ở Trường tôi. Chị Nguyệt ra trường cưới Đức Voi và về dạy nghề ở Huế. Sắc đẹp đằm thắm của gái một con đã làm xao xuyến biết bao trái tim của tao nhân mặc khách Huế. Kể cả những người có chức cao trọng vọng cũng khó thoát khỏi ma lực mê hồn của Chị. Đức Voi hoảng hốt tránh "lưới trời lồng lộng" đưa vợ con vào Đồng Nai nói là đi làm huấn luyện cho đội tuyển Đồng Nai chứ thực chất là đi lánh nạn "Tình". 
 
Ngày tiễn chị ấy vào Nam khi nghe phong phanh những chuyện tình ngoài luồng "hôn nhân" của chị tôi hỏi:
- Răng chị lại rứa hè răng lại rứa hè.
Chị mỉm cười xoa đầu tôi nói:
- Tình yêu là rứa đó mai mốt dính vô rồi mới biết lễ độ khi nớ khỏi trách chị hỉ.
- Nỏ cần nỏ cần em ẻ vô yêu. Yêu mà khổ rứa yêu mần chi. Em thà nỏ chộ quan tài chứ không thèm đổ lệ.
Tôi đã khiếp tình yêu trai gái.
   
Thằng Hải là bạn thân người Đồng Hới học Nguội khóa 6 hắn da trắng như trứng gà bóc tướng to con đạp trai nhìn rất phong độ chỉ tội là hơi mềm yếu chút xíu nên mọi người ta thường gọi hắn là Hải Bạc. Hắn tốt nghiệp sau tôi nhưng về dạy ở Trung Tâm trước tôi 1 năm.
  
Hắn và cô giáo Hạnh ở trường Nguyễn Chí Diễu kế bên làm nên một thiên tình sử mà dân giáo dục Huế gọi là "Tình Yêu 8 Lầu".
 
Trung Tâm Dạy Nghề tọa lạc ở 11 đường Đống Đa dân Huế gọi là đường Hàng Đoác. Trường này vốn xưa kia là một Tiểu Chủng Viện của dòng Cứu Thế. Sau giải phóng không biết vì sao Tiểu Chủng Viện này lại bị tịch thu. Nghe đồn rằng hồi giải phóng Huế trong Tiểu Chủng Viện này có một tiểu đoàn quân lực cộng hòa chống chọi lại dữ dội lắm cho nên khi giải phóng mới có căn cứ để tịch thu. Tiểu Chủng Viện này là một ngôi trường rất khang trang được kiến trúc xây dựng rất hiện đại nó còn sang trọng bề thế rộng rãi hơn cả Trường Đại Học Tổng Hợp Huế đối diện bên kia đường nữa.
 
Tiểu Chủng Viện có 3 tầng thêm một sân thượng rộng bát ngát dùng để đậu máy bay trực thăng nữa là 4 tầng.

Sau này Tiểu Chủng Viện chia thành hai một bên là Trung Tâm Hướng Nghiệp đặt dưới sự bảo trợ của Liên Hiệp Quốc một bên là trường phổ thông cơ sở Nguyễn Chí Diễu. Chiều chiều khi tan lớp các Thầy cô giáo hay lên sân thượng này hóng mát. Cô giáo Hạnh một lần lên đó chơi vô tình để rơi chùm chìa khóa xuống theo phản xạ cô nhoài người theo để túm chìa khóa và rơi bộp một cái từ tầng 4 xuống sân cỏ.  Vừa rơi từ tầng 4 xuống cô đã đứng dậy phủi quần leo lên hóng mát tiếp ngày hôm sau vẫn đi dạy bình thường coi như không có chuyện gì xảy ra.
 
Đến lượt thằng Hải Bạc hắn dính với cô Hạnh. Gia đình hắn không đồng ý nói cô Hạnh không nghiêm túc lăng nhăng. Tổ chức hai trường cũng không đồng ý. Vậy là hắn ăn một nắm lá trúc đào để lại một bức thư tuyệt mệnh lên tầng thượng nhảy xuống sân bê tông tự vẫn. Không biết sao lần này hắn đã cố tình nhảy xuống phần sân xi măng mà cũng không hề hấn gì. Chân tay vẫn nguyên vẹn không một xây xát nhỏ chỉ dập nội sơ sơ phải vào viện hút máu bầm nằm hai ngày là ra đi dạy bình thường.
 
Chuyện mối tình 8 lầu của Hải- Hạnh cộng thêm rất nhiều lần học sinh rơi từ các tầng lầu xuống kể cả rơi từ trên tháp chuông cao mấy chục mét xuống mà không một ai bị tổn thương gì ai cũng nhăn răng khoẻ mạnh chẳng hề hấn gì hết. Người ta đồn đại rằng đó là nhờ  Đức Mẹ nâng đỡ. Huyền thoại về Tiểu Chủng Viện người rơi lầu không bao giờ chết cho đến mãi sau này tôi về thăm lại Huế những tình huống kỳ lạ ấy vẫn không ngừng bổ sung thêm bộ "sưu tập" của mình trong sự kinh ngạc của người đời.
    
Lúc tôi về nhận nhiệm sở thì Hải Bạc mới từ nhà thương về. Hắn nhe răng nhìn tôi cười xin lỗi nói:
-  Hẹn đón anh về nhà ngày hôm qua nhưng có chuyện không đón được mong anh thứ lỗi.
- Chuyện chi chuyện mi nhảy lầu phải không? răng mi ngu rứa
-  Có lẽ vì ma xui quỉ khiến hay răng đó chừ tỉnh rồi. Nhưng theo anh thì em mần răng chừ hè ?
- Mi yêu thì mi lấy có phải bọ mạ mi lấy mô mà sợ. Sướng khổ chi mi chịu. Cái chuyện cỏn con nớ mà không giải quyết nổi để rồi tính chuyện tầm phào chán mi thiệt.
 
Hải bỏ qua tất cả mọi lời đàm tiếu mướn hội trường Trung Tâm làm một đám cưới kiểu Công Đoàn hai đứa về sống chung với nhau trên một căn hộ tầng 3 của Trung Tâm.
   
Ở với nhau chưa được tròn năm đã thấy nhấm nhảy chửi bới gây lộn nhau tùm lum. Tôi ngửa mặt lên trời than. "Ôi tình yêu ôi tình yêu...tình yêu đã vượt qua dư luận vượt qua cả cõi chết mà còn thế đấy"
Tôi kinh sợ tình yêu trai gái từ đấy.
    
Tự trang bị cho mình một tấm "lá chắn" kiên cố trước sự cám dỗ của Tình Yêu. Tôi và thằng Hội trở thành đôi bạn thân nhong nhong đi về phớt lờ những cô gái chân dài.
   
Thích thì tới một quán cà phê nào đó có gái đẹp phục vụ nhâm nhi cà phê và ngồi ngắm kiệt tác của thiên nhiên và làm thơ. Vô tư mà an lạc.
    
Một hôm thằng Hội báo cáo kế hoạch "Phủ Xanh Đồi Trọc" một chương trình có tầm cỡ Quốc Gia của phòng giáo dục Huế. Chương trình có tầm chiến lược lâu dài trong việc giáo dục Năng Lượng và Môi Trường trong trường học. Đây là một ý tưởng siêu việt của cái đầu lãnh đạo tài ba của ông Lê Phước Thúy mà lúc bấy giờ ông là trưởng phòng giáo dục Huế kiêm phó chủ tịch thành phố Huế. Ông là một người cực kỳ thông minh là một trong những lãnh tụ của phong trào sinh viên học sinh Huế cùng thời với Ngô Kha Hoàng Phủ Ngọc Tường Nguyễn Khoa Điềm..... Ông Thúy là một nhà chiến lược đại tài sự đóng góp của Ông trong ngành giáo dục sau giải phóng ở tỉnh Bình Trị Thiên không nhỏ. Chính Ông đã nhìn ra được tầm quan trọng của việc giáo dục bảo vệ môi trường trong học đường. Trong khi đất nước đang nhộn nhạo thời kỳ đổi mới thì ông đã nhìn ra được hiểm họa của việc tàn phá môi sinh của thời đại phát triển công nghiệp ở tương lai. Ông bảo vệ luận án tiến sĩ Giáo dục học ở Ấn độ với đề tài là "Giáo dục năng lượng và bảo vệ môi sinh trong trường học".
    
Chương trình "Phủ xanh đồi trọc" và "Giáo dục năng lượng trong trường học" đã được ông thực nghiệm và phát triển ở các trường học trong khu vực Huế.
    
Chính chúng tôi Hội Cẩm Vi Nguyễn Thanh Phúc Nguyễn Văn Hội (Hội Điện) dưới sự chỉ đạo của Ông cùng với sự tư vấn của một tiến sĩ năng lượng Pháp đã hoàn thành một mô hình phát điện sinh học và sản xuất khí đốt tự nhiên từ hầm Biogas (hầm phân hủy rác phân thải và cỏ). Công trình này sau này được Bộ Giáo Dục chọn và tổ chức Hội Nghị Giáo Dục Năng Lượng Trong Trường Học Lần Thứ Nhất vào năm 1986 tại Trung Tâm.
  
Rất tiếc vì ông Thúy có tính ngang không chịu sự kiềm chế và "quản thúc" của Đảng Bộ. Nên những công trình này cũng bị chìm theo sự nghiệp của Ông khi Ông bị hạ bệ vì suy nghĩ và việc làm của Ông đi quá sớm trước thời cuộc.
    
Lại nói hôm thằng Hội báo cáo Kỹ thuật ươm trồng đào lộn hột cho các thầy cô giáo dạy sinh vật trên toàn địa bàn thành phố Huế. Kế hoạch phủ xanh đồi trọc trung du Huế bằng cây đào lộn hột nếu hồi đó được đầu tư đúng mức có lẽ bây giờ miền trung du Huế đã xanh rờn những rừng cây có giá trị kinh tế cao này rồi.

Lúc nghỉ giảo lao Hội hớt ha hớ hải chạy đi tìm tôi:
- Nì nì có một cô giáo hay lắm mi ạ làm tau phải ngậm hột thị mấy lần nên báo cáo không suôn sẻ.
- Răng răng? đẹp tàn bạo lắm hay răng mà mần cho mi thất thần rứa.
- Nỏ biết đẹp không nhưng mà mặc bộ bà ba đen tóc bối mặt tròn xoe nhìn thánh thiện lắm Huế lắm.
- Trời tưởng ra răng chứ Huế lắm thì thiếu chi ra đường đi mô mà nỏ gặp Huế.
- Không phải Huế ni là Huế nguyên sơ Huế không lai tạp nói túm lại là mê hồn.
- Mi nói Huế nguyên sơ thì phải mặc áo tím chứ mang bà ba đen thì có khác chi quạ đội cầu ô thước mà mê hồn với chẳng mê xác.
    
Hội tức tối bỏ đi vì tôi không thèm để ý đến lời hắn kể cứ căm cụi gò bức phù điêu bằng đồng để làm giáo cụ cho bộ môn gò mỹ nghệ.
   
Ngày hôm sau đến giờ giải lao Hội lại chạy đến tìm tôi nói:
- Đi đi đi với tau tau giới thiệu mi với em em đang đứng thơ thẩn một mình trong hành lang như đang tìm ai đấy.
- Thì mi đi đi thích thì tấn tới mắc mớ chi tìm tau.
Hội thở dài buông tầm mắt thẫn thờ nhìn về hướng sân vận động. Thấy thái độ của hắn vậy tôi chợt chạnh lòng hắn lại nhớ Yến. Cô gái bị bắn tử hình dưới sân vận động vì làm Thơ.
      
Tôi miễn cưỡng theo hắn đi vào hành lang của hội trường. Hội dắt tôi đến giới thiệu với người con gái mà hắn cho là Huế lắm. Hắn trịnh trọng giới thiệu :

- Đây là bạn anh ông đồ của thế kỷ 20
Tôi nhìn cô gái mà Hội giới thiệu thõng một câu
- Mi mần chi đây O có khoẻ không (O tiếng Huế chỉ bà Cô lớn tuổi).
- Em đi dự hội thảo ươm trồng đào lộn hột mấy bữa ni đến đây để ý mà không thấy anh. Mạ em vẫn rứa.
- Tau mần việc dưới xưởng rèn mắc mớ chi lên đây mà gặp- Nói xong tôi quay sang Hội- Hai đứa bay nói chuyện hỉ tau xuống mần việc đây.
   
Người con gái "hớp hồn" thằng Hội chính là Phượng. Phượng vừa tốt nghiệp khoa Sinh trường Sư Phạm Huế và đang dạy học ở trên Tuần. Phượng là con gái duy nhất của một bà Cô là bạn thân của Cô ruột tôi. Là bạn cùng học hồi phổ thông với con trai thứ hai của Cô tôi bọn nó thuộc lớp nhỏ tôi biết Phượng từ hồi cô ấy đang ở truồng. Hồi nhỏ Phượng đen đúa lúc nào cũng buộc một nhúm tóc vàng hoe trên đầu mặt lèm nhèm mũi dãi thò lò và hay khóc nhè. Hồi ấy tôi ghét Phượng lắm. Tôi có tuổi thơ đầy bão tố nên rất ghét những đứa trẻ nhõng nhẽo được bố mẹ chiều chuộng.
   
Khi về lại Huế có gặp Phượng mấy lần bên nhà Cô tôi. Hai gia đình vẫn qua lại chơi thân với nhau như thời khói lửa loạn lạc. Thấy Phượng lúc đó đã trổ mã trở thành một cô gái xinh đẹp hấp dẫn nhưng tôi không mấy để ý vì tôi đã trang bị cho mình một tấm lá chắn kiên cố chống lại sự cám dỗ sắc dục.
    
Tôi chỉ bị chấn động bị Phượng khuất phục khi Phượng được Mẹ sai mang đến cho tôi cái cặp lồng phở mà Mẹ Phượng nấu vào dịp cuối tuần. Mẹ Phượng trò chuyện với Cô tôi nghe Cô tôi kể lại thời thơ dại của tôi nên cũng mủi lòng thương hại tôi. Sợ tôi mới về Huế cô đơn lạc lõng nên thỉnh thoảng nấu món gì ngon đều sai Phượng mang đến cho tôi một ít.
   
Lúc Phượng đến nơi ở của tôi thấy tôi nằm ngủ trên đống sắt vụn trong cái kho xép của xưởng rèn phía dưới mấy tấm ván kê lại thành giường là chất tầng tầng lớp lớp sách sưu tầm của tôi. Phượng lật nắp vung cái "niêu thần" của tôi thấy còn một bát cơm nguội và một dĩa muối ớt thì òa lên khóc nức nở miệng lẩm bẩm :
- Răng mà khổ rứa khổ rứa tê.
Thấy Phượng khóc tôi chống chế nói cho Phượng yên tâm:
- Tau cũng được phân phòng ở đó chứ nhưng ở chung với thằng Hải Bạc chừ hắn cưới vợ rồi tau nhường phòng lại cho hắn. Mình độc thân ở mô mà nỏ được.
  
Phượng không nói gì tấm tức khóc nhảy lên xe đạp về nước mắt vẫn dàn dụa.
   
Tôi mồ côi Mẹ từ nhỏ ra đời lưu lạc đó đây không biết gì đến tình Mẫu Tử nay có người thương cảm nhẹ nhàng êm ái nên chợt động lòng. Từ đó tôi để ý đến Phượng và tình yêu đến bao giờ không hay.
 
Tấm lá chắn của tôi bị nát vỡ tan tành tôi bị lôi cuốn vào mối tình đầu với Phượng. Một mối tình oan nghiệt chan đầy nước mắt của Phượng cùng máu của tôi và cô ấy....
   
(còn nữa)

  

More...

HỆ LỤY... .phần 3 (Chuyện Đời)

By Lê Thuận Nghĩa

Thiên hồi ức Thời Hoang Dại Cuối Cùng (Hệ Lụy) này viết để tặng CC NTP và Phạm Văn Hội.
____
  
(Tiếp theo phần 3)
  
Dừng chân lại Huế ở tuổi 24. Đúng vào năm Quí Hợi.  Hồi đó thầy tôi đã trở lại chùa và đã khoác lại áo Tỳ Kheo sau bao năm lẩn tránh lưu lạc trong dân gian.
   
Khi đưa tôi về lập nghiệp ở Huế thầy cười cười đọc tặng tôi một bài thơ:
  
đủ hai con lợn thì dừng
đến ba mươi rắn lại vùng vằng đi
ba năm gối quị chân quì
ba mươi năm nữa cũng vì trâu thôi
   
Tôi và Thầy khi bàn những chuyện hệ trọng kể cả lúc Thầy truyền thụ kiến thức đông y cho tôi cũng bằng cách đối đáp bằng thơ tứ tuyệt hay thơ lục bát.
 
Biết là Thầy cho ý chỉ gì đó nghĩ mãi không ra là ý gì nên tôi đành phải cúi đầu thúc thủ hỏi Thầy:
- Rứa là răng thưaThầy cấy chi mà hai con heo ba mươi con rắn rồi thì ba năm đến ba mươi năm nữa cũng vì một con trâu là răng ?
Thầy không giải thích chỉ thở dài nói:
- Đọa lạ đọa lạc...
   
Mãi đến sau này khi trải qua mấy khúc trường đời tôi mới ngộ ra được ý của Thầy. Và cũng từ đó tôi mới có 24 khúc Đoạ Lạc là 24 bài thơ tâm đắc thời trai trẻ của tôi được in trong tập thơ cùng tên.
  
"Đủ hai con lợn thì dừng" có nghĩa là đúng 2 con giáp của tuổi Hợi. Tôi sinh năm Kỷ Hợi (1959) đến năm Quí Hợi (1983) là vừa tròn 2 con giáp. Đó cũng là năm tôi chấm dứt bước chân giang hồ để dừng lại làm thầy giáo dạy nghề tại Trung Tâm Hướng Nghiệp. Tính đến lúc đó tôi vừa tròn 24 tuổi. Tiếp theo câu thơ Thầy để lại là câu "Đến ba mươi rắn lại vùng vằng đi". Đến năm 1989 tức nhằm năm Kỷ Tỵ đúng vào lúc tôi tròn 30 tuổi   thì tôi lại rời Huế xuất ngoại sang phương Tây. "Ba năm gối quị chân  quì" có lẽ là ý thầy nói tôi đã có ba năm rơi vào hệ lụy trong vòng đọa lạc của tình ái. Bởi vì 3 năm sau đó tôi đau đớn ê chề và khổ lụy trong mối tình đầu cay nghiệt với Phượng.
   
Phượng sinh năm 1961 nhằm năm Tân Sửu cầm tinh con Trâu. "Ba mươi năm nữa cũng vì trâu thôi" tính từ năm tôi 24 tuổi thêm 30 năm nữa là năm tôi 54 tuổi. Bây giờ tôi đã 52 không biết thêm 2 năm nữa tôi có bị "con Trâu" nào dày xéo nữa không?. Cũng chẳng thể nào mà biết được nhưng đằng đẵng chừng ấy năm kể từ ngày tôi gặp Phượng cũng đã ngót nghét 30 năm rồi thế mà cái hệ lụy về mối tình ấy trong tôi chẳng mấy khi phai nhạt. 30 năm đã đủ làm nên một thiên tình sử cay nghiệt cho cuộc đời của tôi. 30 năm Phượng đã đẩy tôi vào thế giới của Thi Ca thế giới của vu vơ mơ hồ và ảo vọng. Tôi có tập Đọa Lạc có tập Tháng Hai Có Ba Mươi Ngày và hàng ngàn bài Thơ khác trong đó đều có chất chứa hình bóng của Phượng ảo ảnh của mối tình cay nghiệt ấy luôn hiển diện trong Thơ tôi. Có buồn mới làm thơ được người ta nói thế. Nỗi buồn để làm nên Thơ tôi chính là Phượng.
  
Cũng đã gần 30 năm rồi tôi chưa một lần nào gặp lại Phượng. Chỉ đôi lần phong phanh nghe tin về cô ấy. Phượng có một gia đình rất hạnh phúc. Chồng con đề huề gia đạo khang trang hoà thuận và thịnh vượng. Và cái quan trọng nhất trong cô ấy  là hình bóng của tôi mối tình của tôi đối với cô ấy chỉ như vệt mờ một cơn gió nhẹ thoảng qua tuổi xuân thì non dại của cô ấy mà thôi. Thậm chí mối tình ấy của tôi đối với Phượng chỉ là một bông cỏ may vu vơ một vết bùn dơ dính vào gấu quần trên bước đường đi tìm hạnh phúc của Phượng.
  
Phượng có còn nhớ tôi không còn có ấn tượng về mối tình một thời làm náo động đất Cố Đô hay không. Điều đó không quan trọng cũng không nằm trong nỗi nhớ của tôi không có trong ước vọng của tôi và tất nhiên cũng chẳng mấy ảnh hưởng đến hành trình của Thơ tôi.
 
Tôi không buồn phiền vì mối tình ấy tan vỡ. Vì chính tôi là người chủ động nói lời chia tay chính tôi là người thực hiện âm mưu để bắt Phượng phải rời xa tôi dạo đó.
 
Cái làm tôi đau đớn cái làm tôi hãi hùng cái hệ lụy mà tôi mang theo suốt cuộc đời không phải là tôi mất Phượng mà tôi đã giết chết tình yêu trong trái tim của chính mình.
  
Phượng đã làm cho trái tim của tôi rung động trước Tình Yêu Phượng đã cho tôi biết tình yêu đích thực là cái gì. Tôi đã biết yêu là nhờ Phượng. Và có lẽ cuộc đời của một con người chỉ được yêu có một lần đúng nghĩa. Và lần đó của tôi là Phượng.
  
Tôi nhớ có lần khi tôi và Phượng ngồi trên bến Ngã Ba Tuần bên gốc cây đào lộn hột vừa mới đơm bông vụ đầu. Hôm đó là buổi gặp gỡ cuối cùng của chúng tôi. Tôi nhìn những đám mây bay thấp vần vũ trên rừng thông già phía lăng Minh Mạng rồi nói với Phượng:
- Em như những đám mây thấp cuồn cuộn mà bồng bềnh đủ sắc màu mà vẫn trắng.
Phượng cầm tay tôi bóp chặt và nói:
- Em là mây vậy anh là cái gì ?
- Anh như mặt sông kia chỉ ôm được bóng mây vào lòng. Mây bay đi rồi mặt sông chỉ biết gợn sóng để hoài niệm về mây thôi.
  
Phượng không nói gì chỉ khóc. Tôi cũng không nói gì cũng không an ủi Phượng. Vì Phượng đã thường khóc như thế. Bởi mối tình của chúng tôi không những đã chan đầy nước mắt của Phượng mà cũng đã thấm đủ máu của Phượng và tôi.
  
Có lẽ câu trả lời của tôi chính là câu sấm ký để suốt cuộc đời tôi phải làm thơ về những đám mây xa....*
   
(còn nữa)
______
 
* Phụ Lục Mấy Bài Thơ
    

  CUỘC MÂY
   

Thì thôi anh bày lại cuộc Mây
Về treo gió và treo mình dưới hát
Nghe khúc môi trời lợt lợt
Xẻ phanh một ngày nắng đỏ
Cho trùng trùng rụng về độ nọ
Ngày em cũng là môi trời
Tiên cả một rừng cho lá
Tiên cả cho anh
Và tiên cả cho rơi
.
Thì thôi anh bày lại cuộc rơi
Về rơi xuống vết loang màu lên cũ
Ngày nắm tay em mà xốn xang buốt nhớ
Nhớ cả tóc xòa uống gió ở kề bên
Về rơi xuống hạt nguyên lành cho vỡ
Cho thênh thang ngọt buốt cả mắt mềm
.
Thì thôi anh bày cuộc không em
Không có dặt dìu du dương trầm phiến mộng
Dẫu vẫn biết Huế không còn lồng lộng
Áo thật thà thấm dại cả cơn mưa
.
Thì thôi anh sẽ bày  một cuộc chưa
Chưa có gặp và cũng  chưa là nhợt nhạt
Màu hoa đào không đơm đầy giếng khát
Hẹn thu về uống lá để Mây say
.
Nếu còn nhớ xin ghé ngày chung cuộc
Thắp cho nhau một thoáng môi trầm
Là anh đó Hương Giang mùa trắng nước
Gợn thành hình sóng lẻ vỗ bờ câm
   
25.05.06


____
 
XIN MỘT MÙA MÂY CŨ 
    
1  
Chỉ còn lại đây một ngày trăng
Một vài nhúm gió đã loang bầm
Một om trà mạn khô rốc đáy
Một mái hiên buồn dưới nắng thâm
.
Chỉ còn lại đây bốn mùa câm
Cỏ cây hoa lá cũng hoang trầm
Em đi từ độ còn chưa nát
Để đến bây giờ vụn trăm năm
.
Muốn tước mình ra muôn sợi mỏng
Buộc chặt nỗi nhớ thả trôi sông
Cho mắt môi ấy đừng về nữa
Bờ tóc xưa thôi re riết tuôn dòng
.
Muốn nhen muôn trùng thành ngọn lửa
Đốt bóng hình em để tìm quên
Muốn khô khắt mình như cỏ úa
Đừng quay quắt khát  ánh mắt mềm
.
Em ơi em hỡi là em hỡi
Em đến làm chi thế gian này
Để anh hoang thú tìm tru gọi
Một lần thôi em hãy về đây.
   
Một lần thôi nắm lại bàn tay
Một lần thôi đắm dưới màu Mây
 
2
Anh muốn làm một tên xỏ lá
Xỏ cả nhân gian trả thù em
Em nói quay về sao chẳng thấy
Mỏi mòn anh cầu được lần quên
.
Ước chi trời đất chỉ là mây
Bốn phương tám hướng cứ giăng đầy
Sau cơn thiếp ngủ giật mình nhớ
Để  chạm vào đâu cũng đầy tay
.
Em hứa một lần sẽ về thăm
Chỉ một lần trong cả trăm năm
Nếu được một  lần xin nhắm mắt
Thanh thản về nơi giun dế nằm
.
Sao em biền biệt chẳng hồi âm
Anh như đá cuội chốn lăn trầm
Ba vạn sáu ngàn ngày thừa thải
Trần gian là hố thẳm lạnh căm
 
Có khi giật mình nghe ngọn gió
Cứ ngỡ chân  người vọng  trong khuya
Ba muơi năm chẳn lòng để ngõ
Vẫn chờ đây một bước chân về
 
3
Xin được một lần thôi em ơi!
Một lần quá đủ với anh rồi
Thì không nắm tay nhìn cũng được
Chỉ một lần thôi một lần thôi!
.
Không  được nhìn thì nghe vậy thôi
Chỉ cần giọng nói cất lên lời
Với anh đã đủ ngàn âm vọng
Đã đủ cung thanh sưởi ấm đời
.
Không nghe giọng nói thì tin nhắn
Qua người hay qua một bức thư
Đôi lời ngắn ngủi là em vẫn
Bình an từ dạo ấy đến giờ.
.
Chỉ còn lại đây một ngày trăng
Một đau một đớn một quại quằn
Om trà đã cạn bao mùa đắng
Ôm một lời yêu ngỡ chiếu chăn
.
Chỉ còn lại đây tháng với năm
Môi khô tóc bạc mắt cỗi cằn
Ngơ ngẩn sáng chiều hong mảnh nhớ
Nếp nếp ưu tư lớp lớp  nhăn
.
Hay  chỉ một lần thôi em nhé
Chỉ hứa thêm một lần nữa thôi
Đến ngày anh rũ tàn dâu bể
Một nén nhang buồn. Thắp vậy thôi
 
27.04.2009


  

More...