HỆ LỤY... .phần 2 (Chuyện Đời)

By Lê Thuận Nghĩa

Thiên hồi ức Thời Hoang Dại Cuối Cùng (Hệ Lụy) này viết để tặng CC NTP và Phạm Văn Hội.
______
  
Tiếp theo phần 1:
http://thuannghia.vnweblogs.com/post/7291/244746    )  

 
Hội với tôi có một thời chung lưng sát cánh bên nhau làm chuyện phạm pháp thời ấy nếu mà bị bắt chắc bị không ít ngày tù.
   
Đó là chuyện tôi và Hội tự thành lập một "băng đảng" chuyên đi đốt quán thịt chó. Tôi làm hội trưởng Hội làm hội phó hồi mới bắt đầu hành sự chỉ có 2 thằng sau thu nạp thêm mấy đứa học trò làm "vây cánh" nữa.
   
Trước 1975 Huế không có quán nhậu thịt chó. Vì Huế là cái nôi Phật Giáo nên dân tình không bao giờ ăn thịt chó. Sau giải phóng người ngoài Bắc vào mới nảy sinh ra có quán nhậu thịt chó. Dù không trương bảng hiệu công khai nhưng có quán xá đặc sản hẳn hoi.
Hội là Phật tử ròng không nói làm gì tôi cũng là dân Bắc vào Huế. Nhưng tôi rất thù ghét mấy người ăn thịt chó.
  
Số là hồi nhỏ nhà tôi có con vện. Con vện lớn hơn tôi 1 tuổi. Bà nội tôi nói khi chuyển từ Tân Thủy về Xuân Thủy đã mang con Vện theo. Về đến Xuân Thủy thì tôi mới được sinh ra đời. Con vện là một thành viên luôn gắn bó với gia đình tôi trong thời cơ hàn của sự qui chụp thành phần Địa Chủ.
  
 Nghe nói có mấy lần ủy ban xã Xuân Thủy gửi thông tư cấm gia đình tôi nuôi chó họ nói thành phần địa chủ không được phép nuôi vật bốn chân chỉ được phép nuôi gà vịt và ngan ngỗng thôi. Ba tôi phải đem tất cả giấy tờ hoạt động cách mạng cán bộ tiền khởi nghĩa có chứng nhận của mấy ông trên Trung Ương mới bảo vệ được con Vện khỏi bị đường lối chủ trương của mấy ông cường hào mới trù dập.
  
Con vện có linh tính rất hay trong thời bắn phá hình như nó có linh cảm về đạn bom nên đã nhiều lần cứu được gia đình tôi khỏi bị bom Mỹ giết. Anh Hai tôi có lần trú trong hầm chữ A khi bị toạ độ con vện cắn lai quần anh tôi kéo đi chỗ khác Anh tôi theo con Vện đi chỗ khác trú ẩn ngay sau đó căn hầm ấy bị một quả bom tấn đánh ngay trúng nóc cả căn hầm biến mất tiêu chỉ còn cái hố to đùng to đoàng.
  
Hồi tôi mới 6 7 tuổi theo mấy anh mấy chị đóng bè chuối đi chơi lụt khi ngang qua hói Hoàng Giang bị nước xoáy xoáy ra giữa dòng ai cũng tưởng tôi bị cuốn trôi và chết đuối rồi. Ai dè con Vện lao theo dòng nước bì bõm lôi được tôi lên bờ. Sau vụ đó con Vện càng trở nên thân thiết với cả gia đình tôi và chòm xóm quanh vùng.
 
Ngày con Vện già mắt mũi kèm nhèm da dẻ ghẻ lở đầy thân bỏ ăn bỏ uống quằn quại đau đớn khôn nguôi. Ba tôi dắt qua bên miếu thành hoàng dưới gốc cây đa Lệ Bình Ba nói cho nó ở bên đó vì để chó chết trong nhà xui. Hôm sau qua bên ấy thăm nó không tìm thấy nó tôi về đổ thừa là Ba đem con Vện bán cho người khác giết thịt.
  
Ba nghe tôi càm ràm trách móc cả ngày không nói gì hai ba bữa sau tôi bỏ ăn khóc hù hụ suốt ngày. Ba tôi tức tối bực mình chẳng nói chẳng rằng lôi tôi ra quất một trận phọt cả máu lưng.
  
Sau này mới biết Ba tôi đã đem con Vện đi chôn và đắp cho nó một nấm mồ nho nhỏ. Vì sợ ủy ban xã để ý qui chụp mê tín dị đoan nên Ba không nói cho tôi biết.
 
Từ đó tôi không bao giờ ăn thịt chó và rất ghét người ăn thịt chó.
 
Khi ở Huế bắt đầu lác đác có mở quán thịt chó dạo ấy họ chỉ mới dám công khai mở quán cóc nho nhỏ thôi. Tôi và thằng Hội thù lắm quyết định rình đốt hết quán thịt chó của mấy người ngoài Bắc.
  
Tổng cộng tôi và Hội đốt phải trên 20 chục quán thịt chó từ Hương Trà đến Huế và xuống tận Hương Thủy.
 
Tôi và hắn hành sự rất bí mật có sự điều nghiên và hoạch định kế hoạch hẳn hoi nên không bao giờ bị phát hiện.
 
Trận tranh cãi nảy lửa nhất giữa tôi và Hội cũng là cuộc tranh cãi về việc đốt quán thịt chó.
 
Khi quán thịt chó mở ra nhiều quá và đã có nhà hàng đặc sản thịt chó. Hội nản chí không dám đi đốt quán nữa. Hắn nói "phải diệt từ gốc rễ căn cơ chứ cứ đi đốt quán thế này có ngày bị tù rục xương mà mấy người ngoài Bắc vô căn cơ của họ tàn bạo lắm không phân biệt đâu là bạn đâu là thù của loài người sướng là họ bắn họ giết. Đến người mà họ còn không coi mạng sống ra gì nói chi đến chó".
    
Tôi nghe hắn nói thế bẽ mặt sừng sộ quặc lại hắn "Mi nói rứa là trật hung rồi. Là người thì ở mô cũng có kẻ tốt người xấu kẻ ác người hiền thế mới gọi là chúng sinh là ta bà chớ có phải phân biệt là người Bắc hay người Nam mô". Hắn tằng tằng nói "Có chớ răng người Bắc thích ăn thịt chó mà người Nam không thích là răng". Tôi nói "mi nói như cứt căn cứ vô mô mà mi nói người Nam không ăn thịt chó mấy cái quán mình đốt hơn phân nửa là quán của mấy người theo Đạo Thiên Chúa. Dân đạo Chúa ngày Nô-en mô mà  nỏ xực thịt chó. Hắn cũng trương cổ lên quặc lại "Mấy người đạo Chúa cũng di cư từ ngoài Bắc hồi năm tư vô cả chính họ dạy cho người Nam biết ăn thịt chó chứ tự xưa nay người Nam không biết ăn thịt chó". Tôi bực mình chửi hắn "mi nói như ẻ chỉ vì việc phong tục có ăn thịt chó mà mi phân biệt  cái Tâm của người Bắc và người Nam như rứa là mi nỏ biết chi về nhân tình thế thái hết".
  
Hội thấy tôi nổi đoá nên xuống nước cười hì hì "răng mi sân si dữ rứa tau có nói chi mi mô mà mi sừng sộ hè thì mi cũng là người Bắc nhưng mi có ăn thịt chó mô hè". Tôi đang bực nên xẵng giọng "tau ẻ vô mần người Bắc hay người Nam tau mần người Trung thôi". Hai thằng ôm nhau cười hòa.
 
Từ đó Hội không theo tôi đi đốt quán thịt chó nữa tôi đốt thêm mấy cái nữa rồi cũng ngưng luôn.
  
Tôi và Hội không thuộc loại người cố chấp không phân biệt "bộ đội" hay ngụy quân ngụy quyền cứ ai tốt người có Tâm thì chơi. Nhưng hắn không mấy ưa chính quyền và trong thâm tâm hắn có nghĩ người ngoài Bắc dã man hơn người Nam.
 
Cũng chả trách hắn được vì hắn ám ảnh chuyện cải cách ruộng đất khi xem bộ phim phát hành trước giải phóng là bộ phim "Chúng tôi muốn sống". Phim này là phim tư liệu tuyên truyền kể về sự tàn bạo trong chiến dịch cải cách ruộng đất ở ngoài Bắc. Và cũng chín hắn tận mắt chứng kiến chuyện xảy ra hồi Mậu Thân 68. Ba hắn chỉ là thợ cắt tóc hay nói chuyện thời sự mua vui cho khách. Khi giải phóng vào chiếm Huế. Có người xì báo gì đó bộ đội đến nhà bắt Ba hắn ra giữa sân dí súng vào mang tai bóp cò. Chính hắn chứng kiến Ba hắn chết thảm như vậy nên ám ảnh cũng đúng thôi.
    
Nhưng có lẽ chuyện ám ảnh nhất của hắn là chuyện của Yến. Người yêu của hắn. Yến với hắn là bạn học từ hồi tiểu học và cùng sinh hoạt chung trong một Gia Đình Phật Tử. Lớn lên vào trung học thì phải lòng nhau có thề non hẹn biển với nhau. Yến là người yêu thích văn nghệ nằm trong ban hướng đạo của Gia Đình Phật Tử Thủy Biều. Khi giải phóng được một thời gian Yến tham gia thành lập và ấn hành một tờ báo truyền tay. Báo có tên là "Tự Nguyện". Báo Tự Nguyện chỉ phát hành tin tức Phật sự và có in thêm thơ văn. Yến phụ trách trang Thơ. Tờ báo bị chính quyền qui chụp là phản động. Yến bị bắt và bị kết án tử hình. Bị bắt chỉ mấy ngày sau là đem đi thụ án ngay. Người ta đem Yến và mấy người nữa ra sau lưng sân vận động Huế bắn. Hội chứng kiến người yêu của mình tuổi chưa tròn 20 đã phải chết dưới những viên đạn oan nghiệt. Từ đó mối tình đầu trở thành nỗi ám ảnh cay nghiệt trong trái tim của hắn.
   
Cho đến những năm đầu của thập kỷ 80 mối tình và cái chết đau đớn của Yến không bao giờ nguôi trong lòng của hắn. Chuyện tình của hắn ít ai biết. Nếu như Mùi Tịnh Tâm là anh ruột của hắn không kể cho tôi nghe tôi cũng không biết. Chắc chắn là tôi cũng nghĩ như mọi người là thằng ni lại cái nên mới không màng đến chuyện vợ con gái gú.
 
Có rất nhiều cô gái đã từng yêu hắn hắn có vẻ cũng thích người ta. Nhưng mỗi khi tình cảm có chiều hướng đi sâu hơn là hắn chạy làng lẩn tránh người ta. Có nhiều cô gái hận hắn nhiều người thì trách hắn ngu hay là nhẫn tâm. Những lúc đó tôi rất thông cảm với hắn và hỏi "Mi còn nhớ chim én à". Hắn quạu mắt trừng tôi "nhớ chi mà nhớ tau ẻ vô đàn bà". Nói xong hắn quay mặt đi chỗ khác khuôn mặt thẫn thờ mơ hồ thở dài nhìn về hướng sân vận động.
      
Có lần tôi khuyên hắn " đến và đi với cõi đời này là tùy duyên người rời khỏi cõi tạm này sớm cũng vì duyên biết đâu đó là sự giải thoát khỏi phải nấn ná với cái cõi đời ô trọc ni mắc mớ chi mà mi mang nó theo mãi cho nó nặng lòng chẳng phải biết buông bỏ là chân của hạnh phúc đó ư". Nghe tôi nói vậy   hắn xịu mặt xuống rồi làm bộ hùng hổ "tau ẻ vô đàn bà đàn bà là cái cứt chi mà phải đeo vô cho nó nặng kiếp ẻ vô..ẻ vô". Nói xong là hắn nhảy lên xe cắm đầu cắm cổ đạp đi.
  
Cho đến bây giờ hắn vẫn còn độc thân đã hơn 50 tuổi đời rồi mà vẫn cứ là trai tân. Ai không biết thì nghĩ hắn có vấn đề. Tôi thì biết trái tim của hắn đã chết. Cho dù bây giờ cuộc sống của hắn thênh thang hoan lộ muốn gì có nấy. Nhưng trái tim của hắn không rung cảm được nữa trước phụ nữ. Trái tim hắn đã dành trọn cho Yến và cái chết của cô gái chưa qua tuổi trăng tròn nơi trường bắn   mãi mãi là vết thương không bao giờ lành được trong tâm hồn của hắn.
 
Tôi cũng vì ám ảnh hệ lụy với một người con gái khác cũng mang tên một loài chim. Chuyện tình của tôi không đến nỗi kết cục thê thảm như của Hội nhưng ám ảnh cay nghiệt về mối tình ấy cũng khó có thể phai nhòa trong ký ức của tôi...
    
(còn nữa..)

More...

HỆ LỤY ..phần 1 (Chuyện Đời)

By Lê Thuận Nghĩa

  Thiên hồi ức Thời Hoang Dại Cuối Cùng (Hệ Lụy) này viết để tặng CC NTP và Phạm Văn Hội.
_______
  
  Nếu nói tôi với hắn là bạn nối khố thì không đúng vì chúng tôi không có cùng chung tuổi thơ. Dù cũng là khúc ruột miền trung cả nhưng trước giải phóng Hội ở phía trong vĩ tuyến 17 tôi ở phía ngoài vĩ tuyến.
 
Nói là bạn bè chí cốt thâm giao cũng trật vì thời gian chúng tôi chơi với nhau chỉ có đúng 7 năm thời gian ngắn ngủi này chưa thể kể là sinh tử có nhau được. Cho dù thời đó chúng tôi rất nghèo và phong trần cũng có kề vai sát cánh nhưng chỉ để thực hiện những chuyện vặt vãnh của cuộc sống thôi chứ chẳng có gì hiểm nguy hệ trọng.
  
Cũng chưa thể dùng hai cái từ vĩ đại là Bạn Thân để mô phỏng tình bạn giữa tôi với hắn. Vì hai chữ Bạn Thân ngoài tình bạn cao cả ra còn có tình thân ái như ruột thịt nữa. Tôi và Hội không có điều đó.
Giữa tôi với hắn có lẽ chỉ dùng được hai chữ Cố Nhân là đúng nhất.
 
Tôi về Trung Tâm Dạy Nghề trước hắn 1 năm. Cuối năm 1983 Hội tốt nghiệp khóa 2 khoa Sinh Tổng Hợp Huế. Tốt nghiệp xong là về Trung Tâm ngay.
   
Trung Tâm có hơn 50 thầy cô giáo nhưng chỉ có 3 người là độc thân. Tôi Hội và Cẩm Vi. Tôi thường nói với hắn "Trong Trung Tâm ni chỉ có tau với mi và Cẩm Vi là người khôn nhất". Hắn vừa nghe tôi nói vậy đã biết tôi ám chỉ cái gì rồi nên cười hề hề tiếp lời " chớ răng chớ răng..không có gì quí hơn độc lập tự do mà các Thầy Cô kia dại  cho nên họ mới bị gông cùm xiềng xích đó chớ"
  
Có một điều rất lạ là cả 3 đứa độc thân chúng tôi đều là tuổi Hợi 1959 cả. Tôi nói với Hội "hay là vì tuổi Hợi nó cao số mi hè". Hắn cười phá lên "cao số cứt mi thì gàn gàn tau tưng tửng lại nghèo kiết xác đã rứa lại còn trèo cao cứ đòi phải đẹp tướng số phải sang mới chịu. Còn Cẩm Vi thì quá sắc sảo không những đẹp mà còn quá thông minh tiếng Anh tiếng Pháp tiếng Tây Ban Nha tiếng Nga nói như gió đã thế gia thế lại quí tộc giàu sang nữa thì thời buổi ni kiếm mô ra người môn đăng hộ đối được. Ế cả thôi chứ cao số chi mà cao số". Tôi nghe hắn nói cũng gật gù "e rứa e rứa .."
  
Hội và Vi dạy ở môn Sinh Hóa và cả hai cùng nghiên cứu về Công Nghệ Sinh Học. Cẩm Vi chuyên về gen và nuôi cấy mô tế bào Hội thì chuyên về công nghệ chiết xuất Aga và cái chất khỉ gió gì đó từ cây rong mơ. Tôi thì dạy ở môn cơ khí. Tuy rằng giữa tôi với Hội và Cẩm Vi khác "hệ" nhận thức nhưng chúng tôi chơi với nhau rất thân. Vì cả Trung Tâm chỉ còn chúng tôi độc thân và cái quan trọng nhất là cả 3 đứa đều rất nghiền đọc sách.
  
Tôi thì mạnh về cái mảng sách mới xuất bản một phần vì tôi toàn chơi thân với các cô bán hiệu sách và làm ở phát hành sách nên dễ kiếm được sách hay sách quí. Hội thì có nguồn sách cũ trước giải phóng từ chùa Huyền Không đặc biệt là các pho chuyện kiếm hiệp quí và sách về tôn giáo. Cẩm Vi thì ngoài nguồn sách cổ học của gia đình ra lại có tài đọc sách ngoại ngữ nên hay kể chuyện sách dịch cho chúng tôi nghe. Bởi vậy mà trong thời buổi khan hiếm sách. Chúng tôi lúc nào cũng có cái mà giải nghiền.
  
Hồi đó giới văn nghệ sĩ của Bình Trị Thiên mạnh lắm tập trung toàn những tay bút thượng thặng trên văn đàn. Tạp chí Sông Hương là một trong những tạp chí nổi tiếng đậm đặc chất văn nghệ trên toàn quốc.
  
Tuy tôi không thuộc giới này nhưng tôi có bộ sưu tập sách hơn chục ngàn cuốn sách hay khá có tiếng tăm trong giới đọc giả Huế. Mặt khác hồi ấy tôi chơi thân  với thằng Tuyến cháu ruột của nhà Thơ Ngô Minh và nhà báo Bạch Diệp một cây bút nữ nổi tiếng về sắc đẹp của báo Công An nên bọn họ hay dẫn tôi đi dự các cuộc hội họp của giới văn nghệ sĩ Huế. Qua các cuộc hội hè của giới văn nghệ sĩ tôi mới biết thêm được Nguyễn Trọng Tạo Nguyễn Quang Lập Tô Nhuận Vỹ Xuân Đức Trần Vàng Sao Nguyễn Khắc Phục Hoàng Vũ Thuật Bửu Chỉ Hải Kỳ....
   
Sau này nhờ quan hệ chiến hữu giữa Ông Lê Phước Thúy là thủ trưởng trực tiếp của tôi với Nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường nên tôi biết được hầu hết giới văn nghệ sĩ Huế. Cũng từ ở căn nhà ở đường Nguyễn Trường Tộ của hai vợ chồng Hoàng Phủ Ngọc Tường và Lâm Thị Mỹ Dạ tôi mới có cơ hội "kỳ hình" những nhân vật nổi tiếng như Trịnh Công Sơn Trịnh Cung Phùng Quán Trần Dần... Và cũng nhờ đó mà tôi có cơ hội theo họ vào Sài Gòn để gặp cho kỳ được thần tượng của mình là Trung Niên Thi Sĩ Bùi Giáng.
  
Chẳng có gì thú vị bằng khi trong cái nghiệp đọc của mình mình không những đọc được những trước tác văn nghệ hay mà còn được chứng kiến tận mắt bằng xương bằng thịt người đã viết ra nó. Nhất là được tận tai nghe những giai thoại của làng văn từ chính người trong cuộc kể ra.
  
Tôi và Hội không thuộc loại người háo danh nên không cầu cạnh sự quen biết với họ. Khi đến dự các cuộc nhậu của giới văn nghệ sĩ thường chỉ là người điếu đóm vòng ngoài nghển cổ lên nghe họ tán chuyện là sướng lắm rồi.
  
Sau này anh Phạm Văn Mùi một cư sĩ Phật Giáo có bút danh trong giới văn nghệ là Mùi Tịnh Tâm lập nên Tao Đàn Tịnh Tâm thì cơ hội tiếp xúc với giới văn nghệ sĩ gạo cội của tôi càng cao.
  
Vì Mùi Tịnh Tâm là anh ruột của Hội lại là bạn thâm giao chí cốt với Phương Xích Lô một nhà thơ giang hồ rất nổi tiếng của Huế.
  
Tao Đàn Tịnh Tâm là nơi hội ngộ thường xuyên của giới văn nghệ sĩ.
   
Dạo đó tôi cũng đã biết tòm tèm làm thơ và khá thông thạo về câu đối. Đã có rất nhiều lần trong mấy ngày Tết tôi ra chân cầu Tràng Tiền viết câu đối tết và "cho chữ" khách thập phương. Những câu thơ viết bằng chữ thảo có liên quan đến vận khí trong năm của thân chủ hồi đó của tôi cũng được giới giang hồ thi tửu đánh giá cao lắm. Chính vì vậy mà dân hay lui tới Tao Đàn gọi tôi là Đồ Gàn và trong những cơn say chén tạc chén thù đó họ đã "tấn phong" cho Mùi Tịnh Tâm Phương Xích Lô và tôi là Cố Đô Tam Tuyệt. Kiểu như danh xưng hảo hán của Côn Luân Tam Tuyệt trong Cô Gái Đồ Long của Kim Dung vậy.
   
Cũng từ Tao Đàn Tịnh Tâm này tôi đã được tận tay mình điếu đóm hầu trà hầu rượu với những nhân vật kiệt xuất trong giới Văn Nghệ Việt Nam như Trịnh Công Sơn Trần Dần Phùng Quán....Và kể cả Ngô Minh Nguyễn Trọng Tạo Nguyễn Quang Lập..nữa.
  
Sau này đã quen thân với mấy vị này rồi mới dám xưng anh xưng em chứ hồi ấy tôi coi các ông ấy là thần tượng ở trên trời chỉ được ngồi hóng mỏ lên nghe Nguyễn Quang Lập kể chuyện tục nghe Nguyễn Trọng Tạo Ngô Minh đọc thơ nghe Trịnh Công Sơn vừa đàn vừa hát là sướng râm ran như được diện thánh rồi. Chứ có phải như bây giờ được bàn chuyện nhân tình thế thái thi ca với mấy ổng đâu.
  
Mỗi lần đi dự một cuộc nhậu của giới văn nghệ sĩ về là tôi và Hội bàn tán rất xôm tụ. Ông ni viết hay rứa mà ngoài đời lại rứa hè ông ni viết sang trọng rứa mà bình dân hè...Đôi khi hai thằng nhắc lại các giai thoại làng văn nghe được cứ như chính mình trong cuộc vậy. Sướng râm ran!
  
Cẩm Vi nghe tôi với Hội bàn tán cứ há hốc mồm ra nghe thỉnh thoảng lại thốt lên "bui hè bui hè.."
  
Biết Cẩm Vi cũng thích gặp các tác giả mà cô ấy yêu thích đôi lần tôi rủ cô ấy đi theo. Nhưng lần nào Cẩm Vi cũng lắc đầu. Tôi hỏi răng rứa răng rứa... Cẩm Vi chỉ lắc đầu mà không trả lời. Sau này thằng Hội nói với tôi "mi ngu rứa Cẩm Vi là dân quí tộc Huế răng mà dám tới mấy chỗ ăn nhậu dân dã nớ được". Tôi trương cổ lên nói mấy chỗ nớ có chi xấu mô răng không tới được. Hắn nói "mi ngu mi ngu con gái Huế là rứa đó"
   
Hội thì thích đọc các loại sách về Thiền học và sách nghiên cứu khoa học còn tôi thì thích sách văn học và thơ hơn. Nhưng cả hai thằng đều nghiền chuyện chưởng.
  
Hội có một chiếc xe đạp cui cui   không gác đờ bu không chắn sên không chuông sơn màu mận chín. Tôi cũng có một chiếc không khác gì hắn chỉ khác là sơn đen. Cả hai chiếc đều thuộc dạng như dân gian nói "Mọi thứ đều kêu trừ cái chuông".
  
Tan sở   hai thằng thường lòng vòng đạp quanh phố dạo chơi. Hội gọi chiếc xe đạp cà tàng của hắn là con "huyết hãn thần câu" còn tôi thì gọi chiếc của tôi là "hắc lý thiên mã". Hai thằng vừa đạp tàn tàn vừa nói chuyện. Dân đi đường nghe chúng tôi trò chuyện ai ai cũng cứ há hốc mồm kinh ngạc hết vì câu chuyện chúng tôi dù nghiêm túc đến đâu thì cách xưng hô với nhau cứ như trong chuyện chưởng vậy nào là mỗ là tại hạ là tiên sinh búa xua hết...
   
Lòng vòng một hồi là chúng tôi tấp vào một quán cà phê nào đó để làm một cữ chót và chia tay. Thông thường quán nào có người phục vụ là phụ nữ đẹp có nhạc trữ tình là chúng tôi ghé không kể cà phê ở đó ngon hay dở. Quán chúng tôi hay ghé là quán Cây Sứ trên đường Hùng Vương hay quán Sông Xanh dưới Vĩ Dạ hoặc là quán Phượng trong Đại Nội.
   
Một lần ngồi dưới quán Sông Xanh Hội hỏi tôi "mi bấm một phát coi trong ba đứa độc thân tụi mình đứa mô ngu trước".
  
Tôi biết coi Tử Vi và học được cách bấm lá số từ mấy ông thầy mù nên không cần giấy bút. Bấm bấm một hồi tôi nói "hóa ra Cẩm Vi ngu trước mà ngu lâu". Hắn day lại răng kêu là ngu lâu?. Tôi nói "Thì nó yêu có một người lấy luôn người đó lấy đến trọn đời thì kêu bằng ngu lâu chớ rắng". Rứa còn tau với mi thì răng. "Tau thì nhì nhằng phiêu bạt đó đây có có như không không còn mi thì thảm". "Thảm răng thảm răng nói nghe coi". "Mi hả nỏ có số xuất ngoại vì cung Thiên Di của mi có Hóa Kỵ và Cự Môn lại nằm ở cung Thổ khắc mạng Thiên Mã lại nằm ở cung Hợi ngộ Tuần Trung không vong nên không có số xuất ngoại. Cung Thê của mi lại nằm ở hãm địa có Hồng Loan ngộ Thiên Không lại gặp Triệt lộ không vong. Trong ba đứa mình mi khôn nhất vì suốt đời mi được tự do". Mặt hắn rầu rầu nói "rứa thì thảm thiệt thảm thiệt..". Tôi động viên hắn "Nhưng mà mi là đứa có cơ nghiệp sáng lạn và giàu sang nhất. Tau có số bần hàn có tích đức lắm cũng chỉ mò đến được đến chỗ có tiếng mà không có miếng. Còn Cẩm Vi cho dù thông minh thành đạt có học hàm học vị cao nhưng cung Phu và cung Tử Tức nằm ở cung sinh xuất lại có các cát tinh hội ngộ. Thanh Long Bạch Hổ Phượng Các Giải Thần Lâm Quan Tả Phụ Hữu Bật chi cũng có cả vậy là nhằm vào cái số ích tử vượng phu. Đàn bà nhằm vào số này là tướng Quí. Cho nên nó sẽ bỏ cơ nghiệp không đeo đuổi hoài vọng của mình mà chỉ đam mê vun vén cho gia đình thôi. Bởi vậy sự nghiệp của nó không hoạnh phát được. Còn mi thì lại khác. Cung quan lộc có Trường Sinh Đế vượng lại hội đủ cách quân thần khánh hội Tử Vi và Thiên tướng đều đắc địa. Cho dù cung Thiên di ngộ Tuần trung không vong. Nhưng Thân cư Tài Bạch có xương khúc Hoa cái và có Tam hóa triều nguyên nên vận hạn của mi trên 36 tuổi cứ lên như diều gặp gió quan lộ thênh thang".  Hội nghe tôi nói không tin "Cứt cứt.. thênh thang chi nỏ biết chừ nghèo kiết xác tương lai mù mịt có chi mô mà hoạnh phát hoạnh tài nghe mi nổ mắc mệt". Biết hắn chống chế ra vẻ khiêm tốn vậy thôi chứ trong bụng chắc sướng âm ỉ vì hắn không những tin vào Tử Vi mà còn rất rõ cái tài thần đồng của tôi về Tử Vi.
  
Cẩm Vi sang Pháp làm luận án tiến sĩ rồi gặp ý trung nhân là một nhà Toán Học hàng đầu của thế giới. Lấy chồng và định cư ở Paris. Cho dù tốt nghiệp hạng ưu có bằng tiến sĩ từ một trường đại học nổi tiếng ở châu Âu. Nhưng sự nghiệp của Cẩm Vi cũng chỉ nhì nhằng ở chức phụ giảng chứ không thể đeo đuổi được hoài bão của mình trong công nghệ gen hiện đại.
  
Tôi xuất ngoại và định cư ở Đức có được chút tiếng tăm trong nghề Đông Y nhưng cơ nghiệp lao đao lận đận vì quá có nhiều đam mê vọng tưởng. Gia đạo thì có có như không không không không như có có .
   
Còn Hội thì sau những năm 2000 tự nhiên cơ nghiệp phát lên dữ dội. Hắn là chủ rất nhiều đề tài khoa học hợp tác với Nhật. Không những danh tiếng nổi như cồn mà tiền của cũng bộn bề ra phết. Bây giờ đi ô tô đời mới có tài xế riêng. Kẻ đón người đưa đời sống đúng nghĩa với cái từ dân dã hay nói là "Đại Gia". Chỉ duy có một điểm tương đối bất hạnh là đến nay vẫn chưa có vợ. Thậm chí cũng không màng đến gái gú nữa. Rất nhiều người kể cả người nhà của hắn nghi ngờ nói hắn đồng cô đa hệ.
  
Tôi không tin điều đó vì tôi biết và hiểu hắn. Vì cả tôi và hắn đều vướng vào hệ lụy với chuyện tình đầu.
  
Hắn cũng vì mối tình đầu quá sâu đậm mà trái tim hắn không còn chỗ để chứa thêm hình ảnh của một người con gái nào khác.
  
Tôi còn thê thảm hơn hắn tôi cũng dính vào một mối tình nghiệt ngã để rồi dấu ấn ấy suốt cả cuộc đời khó có thể phai nhạt được.
   
Hắn hơn tôi ở chỗ là không đem cái hệ lụy kia của hắn làm khổ người khác. Còn tôi thì tội lỗi chất chồng. Dấu ấn trong mối tình đầu lãng mạn đã ru ngủ tôi trong sự hoài niệm vu vơ nên tôi mang nó đi "đầu thai" vào những mối tình khác và đã làm khổ lụy rất nhiều phụ nữ trên những chặng đường tôi đi qua.
  
Người con gái mang hệ lụy đến cho Hội tên là Yến còn người hệ lụy của tôi tên là Phượng. Hai đứa cầm tinh con lợn cuộc đời đều bị "bầm dập" vì những người con gái mang tên của loài chim. Có phải đó là định mệnh chăng...
   
   
(Còn nữa..)

More...

TÔI ĐÃ BIẾT KHÓC (chuyện đời)

By Lê Thuận Nghĩa

Đã từ lâu lắm rồi không biết đã bao nhiêu năm tôi không còn nhớ nữa bởi vì không có một  điểm mốc nào để hồi tưởng "để tính sổ"  một điều thật hệ trọng với cuộc đời: Tôi đã không còn biết khóc nữa tự bao giờ nhỉ?
    
Thật là bất hạnh khi cuộc đời cạn kiệt cảm xúc để không thể còn nhỏ ra được nước mắt.
   
Xưa kia tôi đọc được trong một tác phẩm văn học hay là trong một luận cứ khoa học nào đó. Người ta nói rằng nụ cười và nước mắt chính là điểm phân biệt rõ ràng nhất giữa loài Người với cầm thú. Tôi tin vậy.
   
Cho đến khi tôi chứng kiến sự việc xảy ra giữa chị ruột của tôi với con chó Nhật tên Lyli của chị thì tôi lại nghi ngờ cái học thuyết phân biệt giữa Người và động vật kia.
   
Lần ấy chị có việc đi đâu đó mà không muốn mang con chó đi theo. Lúc chị dắt xe ra khỏi nhà nó cứ bám theo không chịu ở nhà. Chị nhẹ nhàng vuốt ve nó và dặn dò rất cẩn thận hình như chị thanh minh hay xin lỗi nó về việc chị không cho nó theo thì phải. Chị nói mãi nhưng khi nổ máy nó vẫn cứ khăng khăng ư ử chạy quanh theo chị. Chị xua nó đi nó không chịu nên chị bực tức hét lớn lên đuổi nó chạy tất tưởi vào nhà. Nó tủi thân chạy nép sau khung cửa ngồi chống chân nhìn chị qua khe hở. Thấy tội   tôi đến vuốt ve động viên nó mắt nó ươn ướt và từ từ lăn ra mấy giọt nước trong veo. Nó biết khóc.
   
Đúng chiều hôm ấy chị bị tai nạn xe máy dù chỉ bị sai khớp chân chứ không có gì nguy hiểm lắm. Nhưng cú va chạm xe quá mạnh nên chị vẫn ở bệnh viện để theo dõi có bị chấn thương ngầm hay không. Tôi mang con Lyli vào thăm chị. Thấy chị nó lao đến và nhảy tọt vào lòng chị ư ử mừng mừng tủi tủi trông rất hay. Mừng một tý rồi nhảy xuống chạy vào góc phòng ngồi im nhìn nó rầu rầu thê thảm lắm. Chị tôi nói con Lyli giận chị đấy.
   
Rồi một lần khác nữa tôi cũng nhìn thấy giọt nước mắt rơi xuống từ mắt một con mèo già bị mù khi chủ nó bị chết và người nhà của bà ấy mang nó gửi vào một trại vật nuôi vô chủ.
   
Tôi lại càng khẳng định chân lý nước mắt không phải là điểm phân biệt giữa Người và động vật.
   
Từ đó tôi ít quan tâm đến nước mắt và rất sợ nước mắt trong hành trình làm Người của mình. Tôi chỉ chú ý "trau chuốt" cho nụ cười. Tôi chưa bao giờ thấy động vật cười nên tôi nghĩ có lẽ đó mới là điểm phân biệt giữa loài người và thú vật.
    
Bởi vì vậy dù biết rằng không còn biết nhỏ lệ là một tổn thất lớn của kiếp người phù du này nhưng tôi chẳng lấy đó làm quan trọng.
   
Vậy mà hôm qua tôi đã khóc khóc ngon lành nước mắt đầm đìa như đổ cả lít nước ra gối.
    
Giật mình tỉnh dậy vẫn biết là tôi đã khóc trong một giấc mơ nhưng cảm giác thống khoái vô cùng khi mắt tôi đã biết nhỏ lệ trở lại.
    
Tôi nhớ rất rõ mình mơ gì vì đó là một giấc mơ thuộc vào dạng hồi tưởng hình ảnh cũ.
   
Tôi mơ thấy mình hồi còn nhỏ và đang trò chuyện với Ba mình.
   
Giấc mơ hồi tưởng lại một chuyện có thực từ tuổi thiếu thời của tôi.
  
Ngày tôi cỡ độ 13 14 tuổi gì đó. Gia cảnh nhà tôi khó khăn lắm.
  
Mẹ tôi mất từ lâu trong chiến tranh. Ba lam lũ vất vả và bất đắc chí.
Việc mẹ tôi mất cộng với cảnh ngộ éo le của cuộc đời làm cho Ba rất trầm mặc. Từ một nhà hoạt động cách mạng tiền khởi nghĩa cùng thời với tướng Võ Nguyên Giáp Lê Duẩn..Ba tôi trở thành một người thợ đốt lò vôi vì bị qui kết là thành phần Địa Chủ. Rồi cảnh nhà tan nát vì chiến tranh nên trên khuôn mặt của ông rất ít khi xuất hiện nụ cười.
   
Hôm đó Ba đang lum khum đưa bổi tràm vào đốt lửa nơi cái lò vôi tọa lạc bên dòng Kiến Giang. Ba vừa làm vừa thầm thì hát. Rất hiếm khi thấy ông hát. Chỉ một vài lần hồi còn thơ dại tôi có thấy ông ôm đàn măng đô lin vừa đàn vừa hát cái bài hát có câu "..hình dung một chiếc thắt lưng xanh một chiếc khăn màu trắng trắng một chiếc vòng sáng lung linh..." (Sau này lớn lên tôi mới biết đó là bài "Nụ Cười Sơn Cước" của Tô Hải). Từ đó trở đi tuyệt nhiên không thấy ông còn hát nữa.
Nhưng hôm đó vừa cho bổi tràm vào lò Ba vừa hát say sưa "..nắng tỏa chiều nay chiều tỏa nắng đôi bờ anh ơi...kìa biển rộng con mực con măng lướt sóng chiều đôi bờ tung tăng con chuồn còn bay nơi nơi...con giang chiều gọi bạn đường khơi..."
   
Thấy tôi Ba đột ngột ngưng không hát nữa. Thái độ của ông bẽn lẽn như bị bắt quả tang làm một điều gì vụng trộm. Hồi lâu như để thanh minh ông đến xoa xoa vào đầu tôi nói:  "Bài ni hồi nớ Mạ mi hay hát ru mi lắm mi là đứa khóc dạ đề nhưng mỗi lần Mạ mi hát bài ni là mi nín liền". Nghe ba nói thế tôi mủi lòng và chợt òa lên khóc. Ba tôi lại xoa đầu và ôm tôi vào lòng vỗ vỗ lên vai tôi an ủi. Đó là một cử chỉ cực hiếm của Ba.  Hình như  đó là lần đầu tiên và cũng là lần cuối cùng Ba ôm tôi âu yếm như thế.
  
Tôi tỉnh dậy đúng vào lúc hình ảnh hồi tưởng khi tôi khóc rưng rức trong lòng của Ba.
  
Cho dù không biết vì sao mà tôi lại có giấc mơ ấy nhưng cảm giác được rơi những giọt nước mắt vào tuổi ngũ tuần thật là sung sướng và hạnh phúc.
   
Tỉnh hẳn ra lời bài hát ấy vẫn còn văng vẳng đâu đó quanh căn phòng trống vắng của mình. Tôi nhớ lời bài hát cho dù bài này dễ có gần 40 năm nay tôi chưa nghe lại lần nào.
   
Tự nhiên tôi thèm được nge lại bài hát này đến thế. Nhưng không thể nhớ được tên bài hát là gì để gõ vào mạng tìm vì vậy tôi nhảy vào Quê Choa cầu cứu các còm sĩ bên đó.
  
May mắn quá mọi người cho tôi biết đường link để tìm đến bài Xa Khơi của Nguyễn Tài Tuệ do Tân Nhàn hát.
  
Tôi bấm vào đường link và ngồi nghe lại bài hát này.
Bài hát hay chi hay đến lạ lùng. Tuyệt vời đến thế là cùng. Giọng hát tròn trịa mộc mạc chân phương mà truyền cảm đến chất ngất. Nghe đi nghe lại mấy lần tôi có cảm giác hình như các tuyệt phẩm nhạc cổ điển của Mozart Bach Bethooven Liszt..mà tôi thường nghe nó trở nên rất nhạt nhẽo.
  
Có lẽ sự thẩm thấu nghệ thuật của từng cá nhân ấn tượng cảm thụ cái hay cái đẹp của một tác phẩm ít liên quan đến chất lượng tác phẩm thì phải mà nó liên quan rất nhiều đến ấn tượng kỷ niệm của cá nhân đó với tác phẩm mà mình đang nghe.
 
Không thế sao lúc này trước bài Xa Khơi tôi có cảm giác Phạm Duy Ngô Thụy Miên Trịnh Công Sơn và kể cả Bach và Liszt...đều rất vô duyên và nhạt như nước ốc....
     
Bài hát Xa Khơi
 
_________
 
Bài hát Nụ Cười Sơn Cước
  
_________

     

More...

CON HƯ TẠI TRỜI...(Chuyện Đời)

By Lê Thuận Nghĩa


        Huệ Trí
____________________________
  

 Hà Đình Chung chủ nhân của Blog Mùa Thu Vàng một trong những Hànội Bloger khét tiếng người đã đưa món "Sâm Cầm Hồ Tây" lên thành tuyệt đỉnh "ẩm thực tình yêu". Mà đến nay đã thành huyền thoại với một đàn con cháu đông đúc góp phần vào công cuộc làm kẹt xe Thành Thăng Long tráng lệ... he he he.
  
HĐC từ Franfurt đến Hamburg bằng tàu nhanh ICE. Nghe kể lại vì quên cái điện thoại di động ở nhà cô em gái nên đến Hamburg thành ra "đời bơ vơ không biết về đâu" vì không có số điện thoại nào để gọi ai.
  
Ai biểu chảnh làm gì cách đây 35 năm anh ta vốn là dân du học ở Đức vậy mà chẳng biết luật Đức là gì cả đến đâu cũng phải gọi trước mấy ngày  cho "chủ nhà" chuẩn bị thời gian và điều kiện đón tiếp chứ. Cha muốn làm một cú bất ngờ cho nên xém chút nữa là bất ngờ ngủ đường rồi. May mà vốn là dân du học tiếng Đức nói như bão Hà Nội nên mới lần vào intenet cà phê chát về Hà Nội hỏi điện thoại cô em người bạn cũ lấy chồng và lập nghiệp ở Hamburg mới khỏi làm Cái Bang thành Hà- Bảo đấy chứ.
   
Đang làm thì điện thoại lạ réo bắt lên nghe thì thấy một giọng phụ nữ ngọt ngào như hương cốm làng Vòng mà ngân nga thánh thót như 6 câu vọng cổ miền Tây Nam Bộ. Định không nghe vì tính mình vốn nhát như thạch sùng nghe giọng phụ nữ lạ là cứ ngỡ như giữa trưa ngày tết Đoan Ngọ vậy. (Nhiều người trách móc và chê bai là nhát như thỏ đế có người còn nói mình là đa hệ nên mới không dám nghe điện thoại phụ nữ lạ. Còn mình thì không biết tại sao nhưng có ai cật vấn thì chống chế trả lời rằng "Vì sợ người ta bắt mình đi thử ADN để nhận con" ..he he.....)
  
Lại nói cái giọng nói đa ng nửa Bắc nửa Nam kia mới alô mấy phát là xưng ngay tên của sát thủ "Sâm cầm Hồ Tây". Nên mình mới không dập điện thoại. Lúc đó mới biết là HĐC đã đến Hamburg.
  
Hôm đó nhằm ngày thằng con trai bỏ Ba "bơ vơ" để đi học xa vừa nghỉ hè ghé về thăm. Định tối ấy hai cha con đi ăn nhà hàng đồ biển nướng. Nghe HĐC gọi nên đành dắt nó đi theo đến ngay chỗ HĐC ở.
   
Mình là dân Hà- Bảo (Hamburg) nhưng rất ít đi lại nên không biết cái tiểu khu Nordensted nó nằm ở chỗ nào. Nghe chỉ dẫn nhảy tàu điện ngầm phi tới. Ai dè chỗ ấy xa ra phết vừa đi vừa về mất gần 2 tiếng. Xót cả ruột..hì hì....
    
May mà đến đó không những được diện kiến lại Sát Thủ Sâm Cầm Hồ Tây HĐC mà còn được chiêu đãi một bữa ăn toàn đặc sản quê nhà trong đó có món canh chua rau muống rất tuyệt hảo. Ngoài ra còn được HĐC tặng một gói trà Thái Nguyên chính hiệu lại còn lời thêm cái áo phông trắng nữa chứ. Cái "lời" nhất vẫn là cuốn Tuyển Tập Thơ Hoàng Cát.
    
Nghe nói trước ngày bay sang Đức HĐC có cuộc hội ngộ hội Bloger nhỏ do nhà văn Nguyễn Quang Lập chiêu đãi vì bán được cái nhà ở Linh Đàm tậu được cái nhà xịn ở Sài Gòn. Trong cuộc hội ngộ này Nhà thơ Hoàng Cát xách đến cuốn tuyển tập Thơ này bắt HĐC phải đưa tận tay cho Thuận Nghĩa. Lúc trao sách HĐC nói "Anh mà không vì lời hứa với Hoàng Cát anh chả thèm gặp chú đâu vì chú có biết đâu khi sắp xếp va li cái đầu tiên anh bỏ vào kẻo sợ quên là cuốn sách này đấy vì biết chú nghiền thơ nghiền trà sang không có hai thứ ấy chú lại bảo đ. thèm tiếp". Mình biết lão nói đùa nên cũng hùa theo "Nếu chẳng có cuốn thơ và gói trà em cũng đếch thèm đến gặp anh đâu". Hai anh em cười xòa.
   
     
    
Cầm tuyển thơ nặng gần cả ký lô mình cảm động thật. Cảm động vì Nhà Thơ Hoàng Cát   người suốt đời lao đao lận đận vì kế sinh nhai do cái vụ án "Cây Táo Nhà Ông Lành" năm xưa. Cảm động vì nhà thơ nổi tiếng bạn chí cốt thâm giao của nhà thơ Xuân Diệu vẫn không quên thằng em vô danh tiểu tốt đang tha hương cầu thực xa xứ. Và cũng cảm động vì Sát Thủ Sâm Cầm Hồ Tây tận tình chu đáo và khá tâm lý khi kèm theo quà tặng là nửa ký trà Thái Nguyên. Cái đặc biệt là cha còn sợ mình nghèo không đủ cơm ăn áo mặc nên không quên "mang củi về rừng" tặng mình một cái áo dệt kim Đông- Xuân đặc sản Hà Nội he he....
   
Trong bữa ăn gia đình thân mật nơi HĐC trú ngụ khi gia chủ hỏi thằng con mình uống nước gì hắn buông một câu làm mình chấn động cả tâm hồn:-  Bia ạ!
  
Trời! xưa nay thằng này rất ghét người hút thuốc và bia rượu vậy mà hôm nay nó mới mở mắt cho mình biết thế nào là trưởng thành. Mình thì như muôn thuở không có trà thì chỉ có nước lọc ngoài ra không uống một thứ gì khác. Còn hắn thì ngang nhiên bia bọt thế mới kinh chứ.
  
Suốt bữa ăn mình cứ lấn cấn chuyện thằng này uống bia nên dù thức ăn ngon mà mình thì đang đói vẫn thấy không ngon miệng.
   
Lúc về ngồi trên tàu điện ngầm mình hỏi hắn:
- Con uống bia từ lúc nào đấy?
- Từ hồi lễ sinh nhật 18 tuổi- Hắn trả lời
Mình tin hắn vì thằng này xưa nay rất nguyên tắc nguyên tắc đến khô như ngói. Trẻ em bên này 16 tuổi mới được phép uống thức uống có cồn. 18 tuổi mới được phép mua bia rượu ở cửa hàng. Hắn là người rất nguyên tắc. Không bao giờ vi phạm luật lệ cho dù trong điều kiện khó khăn như thế nào.
- Con uống được nhiều không?
- Được hơn 1 chai
- Có hay uống không
- Thỉnh thoảng trong các cuộc hội hè thôi
- Ngon không?
- Cũng hay lắm!

Chết thật nó cảm thấy uống bia hay thế này thì nguy đấy.
  
Về nhà đến nhà dù đêm đã khuya mình cũng đem bịch trà HĐC  tặng ra uống thử cũng có ý bắt hắn uống thử trà xem có được không. Nếu mà hắn nghiền trà như mình thì chắc chắn các thứ nước uống khác sẽ không màng tới.
Pha trà ra mời nó uống nó bảo khuya rồi không uống uống sợ mất ngủ. Hẹn mai mới uống. Mình đành uống một mình cho dù còn lấn cấn chuyện hắn biết uống bia nhưng cảm thấy trà cũng ngon.
  
Trà HĐC tặng thuộc loại trà đóng gói trà chợ không phải trà thửa. Nhưng cái loại trà của công ty Tuấn Chè này uống cũng được. Không còn nguyên hương trà mạn như trà Hàng Điếu nhưng vị chát đằm không xóc nước sóng sánh xanh ngà cũng  được nước. Loại trà này kém hương nên pha nước cực sôi om hơi lâu một chút uống cũng khá lắm.
  
 
  
Sáng sớm pha ấm trà khác gọi hắn dậy nhâm nhi. Hắn nhấp một ngụm nói:
- Con không biết làm sao mà ba có thể uống nước cái thứ nước đắng ngoét này được nó lại vừa hôi vừa nóng có ngon lành gì đâu mà ba có thể ngày nào cũng uống và chỉ có uống nó mà thôi.
Mình thủng thẳng nói cho nó nghe muôn vàn tác dụng phi thường của chè xanh lại còn chỉ cho nó vào các trang web y tế để đọc hàng ngàn tác dụng như thánh dược của chè xanh. Nhưng hắn vẫn một mực bảo lưu ý kiến. Trà là thứ nước giải khát không thể nào chấp nhận được. Mình buồn.
   
Mình thấy hắn dạo này hơi bị mập. Nói với hắn là mập quá không tốt. Hắn nói hắn biết. Mình nói biết sao không kiêng cữ. Hắn nói khó lắm vì ở nội trú ăn toàn thức ăn sẵn và Mc. Donal. Nên dễ mập lắm. Mình dụ nó là uống trà cơ thể có thể tự điều chỉnh để có một vóc dáng lý tưởng. Hắn cười cười nói. Mập một tý không sao chứ uống cái thứ đắng ngoét ấy thì chịu. Chán thế!
  
Hắn năm tới là năm 13 và làm Abitur (tốt nghiệp phổ thông). Mình mong muốn nó theo nghề Y đề nghị hắn theo học trường Y. Hắn lắc đầu nói không thể. Hỏi vì sao?. Hắn nói hắn không thể đủ điểm để vào học trường Y được. Mình trố mắt lên nhìn hắn hỏi "Xưa nay con học lúc nào cũng đứng đầu lớp sao nói không đủ điểm được". Hắn cúi đầu ra vẻ ân hận nói "Đó là hồi học trường bình thường giờ vào trường chuyên khó lắm muốn vào được trường Y điểm bình quân của 3 năm học cuối cấp ít nhất là 1 3 tức là gần như tuyệt đối. Điểm bình quân của con may lắm thì chỉ được 1 6- 1 7 gì đó thôi". Hỏi hắn bây giờ studium cái gì. Hắn nói học Kinh Tế. Mình nói hay là học
Medizintechnik (Kỹ thuật Y tế) sau đó hàm thụ Y cũng được. Hắn nói "Hậu xét". Tức thế!
   
Hôm sau mình dẫn hắn vào phòng mạch giới thiệu với hắn các loại máy móc thiết bị y tế hiện đại nhằm mục đích gây hứng thú cho hắn. Hắn xem và nghe qua mình thuyết trình với thái độ rất dửng dưng.
  

      
Mình nói với hắn làm nghề y có nhiều cái hay lắm lỡ như mai này đời không may mắn không thành công ít có niềm vui thì khi chữa khỏi bệnh cho một người là có được một niềm hạnh phúc an ủi rồi. Hắn cười cười đáp "Hạnh phúc hay không là do thái độ của mình ra sao với cuộc sống chứ không phải cuộc sống có thành công hay thất bại". Kinh! nghe nó nói mà mình giật thột cả mình tưởng nó là Sư Phụ của mình chứ
   
  
Hôm qua chia tay để về lại trường hắn vỗ vỗ vai mình nói:
- Rảnh rỗi thì cố gắng ra ngoài đi dạo cho nó thoáng mát cứ ru rú ở nhà với đống giấy vụn là không tốt cho sức khoẻ . Mà hạnh phúc là niềm vui có được nhờ sự gạn lọc cảm xúc qua giao tiếp xã hội chứ không phải ngồi ôm cái bình trà đắng ngoét ấy là có được đâu. Cố gắng tự bảo trọng lấy nhé.
   
Tiên sư bố nó chứ mới 19 tuổi đời mà hắn lại dám dạy đời mình người đã trải qua hết mọi nẻo thăng trầm của cuộc sống.
  
Có lẽ là con hư tại Trời chứ không phải tại Mẹ. Vì thẳng thắn mà nói hắn có bao giờ được bảo bọc yêu thương từ một người Phụ Nữ nào đâu.Thậm chí còn bị xua đuổi ra khỏi tình Mẫu Tử từ lúc mới sơ sinh cho đến lúc lớn lên nữa chứ.
     
  
17.07.10
TN

More...

Thuận Nghĩa Cầu Mong Sự Góp Ý Chân Tình

By Lê Thuận Nghĩa

   
       Được sự động viên của sư huynh Thị Chơn và sự đồng ý của Viện chủ Học Viện Phật Giáo Âu Châu Phương Trượng và Trụ Trì  Viên Giác Tự- Đức Quốc. Tôi đang cố gắng hoàn thành bộ tranh dán giấy Thiền Tông Phật Giáo để triển lãm trong dịp Vu Lan năm nay.
    
Bộ tranh bao gồm 10 bức Mục Đồng Ca lấy ý tưởng từ Tranh Chăn Trâu của Thiền Tông (Thập Mục Ngưu Đồ). 
Một bức Tích Phước mô tả 108 con kiến đang tha một đài sen về tổ.
Một bức chân dung của Đạt Ma Sư Tổ
Và một bức về Mẹ lấy tựa đề theo câu hát của Trịnh Công Sơn: "Tin Buồn Từ Ngày Mẹ Cho Mang Nặng Kiếp Người"
   
Bộ Mục Đồng Ca làm đến bức thứ 8 xong thì lòng cảm thấy không yên tâm vì có gì đó chưa thỏa chí lắm nên tạm dừng.
  
Cứ chương tranh lên ngắm hoài mà vẫn không biết điều bất tòng tâm nguyện có nằm ở chỗ nào. Nên tạm ngưng và chuyển sang làm bức Tích Phước.
  
Ngày trưng bày tranh không còn xa mà công việc còn quá nhiều cứ lấn cấn hoài về Mục Đồng Ca. Vì vậy hôm nay tôi chưng lên 8 bức đã làm có trích lời dẫn là ý tưởng để thể hiện từng bức.
      
Mong bạn bè anh em bằng hữu xa gần chân thành góp ý hầu mong giúp cho TN một vài ý kiến thẳng thắn để tôi có thể biết được chỗ bất thành còn hoàn thành các bức cuối.
  
(Lưu ý: Mọi ý kiến khen chê đều được trân trọng và căn cứ vào đó có thể sửa chữa được vì tranh chưa hoàn thành giai đoạn cuối)
  
Vô cùng mong mỏi góp ý và chân thành cảm ơn mọi ý kiến
      
Quảng Nhẫn Lê Thuận Nghĩa kính bút.
     
    

  
  
_________
  1. 
  

  

    
 
   
   Dẫn: Xưa nay đâu có mất săn tìm mà chi? Bởi quay lưng lại với Giác mà thành ra lỏng lẻo sấn bước vào trần nên mới mất đi. Từ đó quê hương càng diệu vợi mà đường sá lại gập ghềnh. Cái lẽ được và mất đã cháy bừng bừng phải quấy mọc lên tua tủa.
__________
 
2.
  

   
 
   

   Dẫn: Mò Kinh để thấy nghĩa học Giáo để tìm ra tung tích. Rõ bao khí dụng chỉ một chất vàng. Hết thảy tạo vật chính là ta cả. Chính tà khỏi lựa chân ngụy khỏi phân. Bởi chưa vào được cửa đó nên mượn tiếng kêu là Thấy Dấu.
________________________
  
3.
   

   

   

    
  Dẫn:
Theo tiếng mà vào ghé mắt mà thấy! Cửa sáu căn tỏ rõ không nhầm ngay nơi động dụng rành rành hiển lộ- Chất mặn trong nước chất xanh trong màu. Vén lông mày lên là nó chứ ai
________
  
4.
   
  
    
 
    
 
   Dẫn: Từ lâu vùi lấp ngoài đồng hoang hôm nay đã gặp mi. Bởi cảnh đẹp nên khó lòng đuổi đắm say cỏ non mãi mãi không thôi. Cứng đầu còn quá lắm tánh buông lung chưa hết. Muốn cho chịu khép mọi bề cần cho roi vọt
 
________
  
5.
   

   
 
     
  
    Dẫn: Niệm trước vừa khởi niệm sau tiếp theo bởi đã Giác nên thành Chân. Bởi tại Mê hóa ra Vọng. Chẳng phải do cảnh mà có nhưng chính do tâm mà sinh. Xỏ mũi cùm đầu còn chần chừ chi nữa
________
  
6.   
  

    
 
     

   Dẫn:
Đã hết cuộc can qua đã rồi câu được mất. Hát bài ca đồng của anh đốn củi thổi diều khúc quê của chú bé con. Vắt mình trên trâu mắt mở nhìn mây trời vời vợi. Kêu réo không quay đầu kéo lôi cũng chẳng dừng bước.
______
  
7.
    

    

    

     Dẫn: Pháp không là pháp phân hai mất trâu là tông chỉ mượn tiếng "bẫy thỏ" để dụ cho dị danh lấy chữ "dò cá" để nêu cái sai biệt- như vàng ròng rút ra từ đống quặng như trăng tỏ vén khỏi cụm mây- Một đạo hào quang qua khỏi kiếp Uy-Âm vô thỉ
   
  _____________________
    
8.
   

   

   Dẫn:Buông bỏ tình phàm ý thánh cũng không. Chỗ có Phật cũng không thèm rong chơi chỗ không Phật cũng không thèm ngó lại- Không vướng đầu này hay đầu nọ không liếc xéo nơi này hay nơi kia. Hàng trăm con chim ngậm hoa thẹn sao là thẹn
 
_______
Lời dẫn ý tưởng cho hai bức cuối: bức thứ 9- Khải. Bức thứ 10- Thõng
  
Khải
 Dẫn:
Phản Bản Hoàn Nguyên
Bản lai thanh tịnh không vướng một mảy trần. Quán sát vẻ tươi và héo của những gì là hữu tướng an thân trong cảnh ngưng tịch của đạo vô vi. Không đồng với huyễn hóa cần gì phải tu phải trị. Nước biếc non xanh ngồi mà xem cuộc thành bại.
  
Thõng
Dẫn:
Vào Chợ Buông Tay
Khép cánh cửa gai một mình một bóng dù thánh hiền vạn cổ cũng không hay. Chôn vùi cái văn vẻ của riêng ta bỏ lại lối mòn của cổ đức. Mang bầu vào chợ chống gậy về nhà hàng rượu hàng cá dạy cho thành Phật hết.
 
_______
   

   Một phần đang dán của bức Tích Phước mô tả 108 con kiến tha 1 đài sen về tổ
  
_____
16.07.10
tn

   

 

More...

LỒNG LỘNG SẮC MÀU (Đọc Tuyển Thơ Bloger)

By Lê Thuận Nghĩa

 Người ta  nói về Hạnh Phúc người ta ca ngợi Hạnh Phúc khát khao Hạnh Phúc và đôi khi nguyền rủa Hạnh Phúc khi cuộc đời không còn có nó.
  
Nhưng Hạnh Phúc là cái gì? Bao nhiêu chữ nghĩa bao nhiêu lý luận tràng giang đại hải từ cổ chí kim cũng chỉ mơ mơ hồ hồ nói về Hạnh Phúc mà thôi.
  
Kể cả Thiên Đường Niết Bàn hay Miền Đất Hứa..trong giáo lý của các Tôn Giáo nói về chân nghĩa của miền Hoan Lạc Hạnh Phúc ấy cũng  "chi hồ giả giả" lắm. Mấy ai hiểu được bao người thấu đáo được rốt ráo và chứng nghiệm được cái cảnh giới vời vợi ấy.
  
Có lẽ Thiên Đường hay Niết Bàn là đây chăng:


  
 
Mỗi sáng mai thức dậy nghe tiếng chim sẻ líu lo ngoài ô cửa...
    

   
 
...nhìn bình minh rạng rỡ...
    

     

 ...hít hà làm mấy đường quyền   vài thế khí công...
     

    
  

   ... sau đó pha ấm trà mạn...
vừa nhâm nhi vừa đọc thơ...   
    
  

 
...vừa ngắm chậu Phất Kim một giống Thất Diệp Nhất Chi Hoa mới chiết trồng vừa ra hoa vào dịp hè...
        
Nếu hôm nào may mắn vớ phải bài thơ như vầy...chẳng phải là Thiên Đường rồi đó ư:
      
nào em thả nắng cho trời
trả hương cho đất rượu mời về sông
tay cầm cái khổng khồng không
hát cho một thuở trầu nồng vôi chua
   
em đừng thả gió vào chùa
thả anh vào giữa cơn mưa tơ hồng
thân cò lạc ở đằng đông
mơ con sông mẹ hái ngồng cải tơ
    
thì còn một cái lơ ngơ
ta đem đổi lấy nửa bờ cau non
anh xin anh một bồ hòn
ngậm cho củ ấu cũng tròn như em
   
đã rằng người ở miền đêm
như con sóng trắng vỗ mềm nỗi đau
đời là một trắng bông lau
gió mạnh thì nát gió nhàu thì xơ
    
bao giờ lại đến bao giờ
ta đi đến tận bến bờ đời nhau
rồi trèo lên sóng bạc đầu
ru đêm bằng khúc kinh cầu riêng ta...*

   
_______
  * Chú Thích
     
Bài lục bát trên là bài "Thả Gió Vào Chùa" của nhà Thơ nhà Báo nhà hoạt động Văn hóa Văn Công Hùng viết vào ngày mồng 5 tết Bính Tuất tức là ngày mồng 2 tháng 2 năm 2006 được in trong tập thơ "bốc phét"  "ĐÊM KHÔNG MÀU" của chính tác giả do Nhà xuất bản Hội Nhà Văn xuất bản vào tháng 9 năm 2009. Do nhà Văn Trung Trung Đỉnh chịu trách nhiệm xuất bản Biên tập Tạ Duy Anh Thiết kế Hồ Nguyên Nam.
  
    
  
 

Tập thơ này là một "tuyệt phẩm" mới lạ trong làng phát hành sách. Mới lạ vì cách trình bày rất đột phá ví dụ như khổ giấy in rất khác thường 20/22cm. Và được minh họa bởi những bức ảnh nghệ thuật trắng đen của nhiếp ảnh gia nổi tiếng Dương Minh Long. Đặc biệt là sự mới lạ trong những tứ thơ rất ngoạn mục của một tay bút quen biết. Và đương nhiên mới lạ cả trong giá bìa của tập thơ: 45000 Đồng ...he he...khá "khủng" so với những tập thơ xuất bản đương đại.
     
Sức cuốn hút của tập thơ là những đột phá ngôn ngữ và cấu tứ  từ "sắc màu cuộc sống"  hiện đại. Đó cũng là điểm "bốc phét" nhất của Tập Thơ. Vì Văn Tiên Sinh đặt tên cho tập thơ của mình là "ĐÊM KHÔNG MÀU". Nhưng lật ra trang nào đọc bài nào cũng óng ả màu sắc rất hoành tráng. Phải nói là rực rỡ muôn sắc màu cuộc sống thì có chứ "đêm không màu" cái nỗi gì. Thế chả là "bốc phét" là cái gì ...hì hì....
    
Nếu nhà thơ Văn Công Hùng không trách tôi "lật tẩy" cái Đêm Không Màu của Anh ta thì xin mời bà con cùng tôi lật từng trang của tập thơ sẽ thấy rõ điều mà Anh ta đã "bốc phét" nhé.
     
Từ bài đầu tiên "Gửi Mùa Đông Hà Nội". ...như không thể mùa đông/ phố gầy hơn trên bờ đê đầy gió/ lá rắc vàng lối đi. ...anh gặp em ngày xoan tím.....ngày mỏ quạ khăn đen mẹ gánh nước qua cầu.....
Rồi cứ lần lượt....hoa hồng phơi nắng/ phơi tình yêu phơi nụ cười (bài thứ 2: Valentine 2). .....đi đi/ những chớp trắng cánh chuồn chuồn trong bão/ hoa cải dầu vàng không dựng nổi giấc mơ....(bài thứ 3: Qua Sông)....ấy là lúc ta ngồi nghe mắt chớp/ chơi vơi dòng Đa Nuýp xanh....(bài thứ tư: Có Những Lúc)....đã rằng người ở miền đêm/ như con sóng trắng vỗ mềm nỗi đau/ đời như một trắng bông lau.....rồi trèo lên sóng bạc đầu/ ru đêm bằng khúc kinh cầu riêng ta....(bài thứ năm: Thả Gió Vào Chùa).....những tích tắc như giọt kiên nhẫn/ thả vào đầu xanh...(bài thư 6: Nước Mắt Đêm).....nơi người tình trở về/ ra đi một cơn mơ chợt trắng.....chợt trắng tay một giấc dã quì/ trắng những cơn bão đêm/ trắng mùa thu ngược dốc...(bài thứ 7: Giao Thừa Trắng) .....có một mùa thu lá vàng chưa kịp rụng/ người đi qua lặng lẽ phía ta chờ.....phía mùa thu ta hẹn cúc vàng/ gặp hoa cải lặng im cùng kỷ niệm....(bài thứ 8: Phía Bờ Thu).....em nâu như chiều Mỹ Thạch/ hương cà phê chua chúa nồng vang...Chư Sê lá trầu cay tâm tưởng/ hồ tiêu xanh như mắt cỏ chiều đông....em ước lệ một đời/ nhòa nhòa trắng đỏ....(bài thứ 9: Ngày Sang Gió)....mỏng một sắc vàng trong gió/ mùa xuân thấp thoáng bên đời...em tươi một sắc đào phai/ mưa phùn rắc như dao cắt/ triền đê cỏ xanh ngằn ngặt/ mình đi trong gió tơi bời....(bài thừ 10 : Và Mơ...) .......rồi bão đã không vào/ biển như xanh từ chín kiếp....em về trái bàng vuông chín tới/ con mắt lập thể/ có mầu đom đóm lập loè...(Bài thừ 11 : Bão Không Vào Miền Trung).....Em ở ngoài thông điệp của thời gian/ cứ trẻ mãi xanh như mầm cỏ nhú.....(Bài thứ 12 : Ngâu Đông).....vụt nhòa chiếc xe cứu hỏa/ đỏ như dâm bụt ngày mưa/ một gói cốm xanh mỏng mảnh/ bạn kéo mùa thu trở về (Bài thứ 13: Biên Độ Mùa Thu Hà Nội).....đêm không là bài hát/ những giấc mơ không màu...em tan chảy ta thành dệt bấc/ mái vòm xanh như chiêm bao....chiếc lá xoay vào im lặng/ đường gân nâu thẫn thờ/ thiêm thiếp nhớ/ hình như đen....(Bài thứ 14: Đêm Không Màu....gót giao chỉ vươn ngón cái/ như tia xạ mặt trời vươn khỏi mây/ ngày mặt trời mất máu/ em ở đâu chưa về....vòng đan sóng mắt ngâu/ kiến lửa da nâu...(Bài thứ 15: Vô Thanh).....Tấm màn xanh/ da màu trắng ...(Bài thứ 16: Vô Ngôn).....chiều nghiêng theo một xác lá vàng ...(Bài thứ 17 : Vô Xúc)...trong ánh trăng hoang dại/ lao tìm chân lao/ ngọn lúa xanh đến nghẹn đòng/ hạc đói....bông hoa cuối vườn/ vươn vào kiêu hãnh/ một nhúm trắng (Bài thứ 18: Vô Tri).....Cành đào mơ giấc tiên thiên/ Em nhâm nhi rét ở miền vợi xa....Ven sông hoa cải nở nhàu....Nắng tưng bừng thuở mối mai/ Có dăm nỗi nhớ cháy ngoài giấc mơ...(Bài thứ 19: Đồng Dao Mùng Một Tết)......Ngày mùa đông/ chợt vàng hoe..Ngày mùa đông em tu hành trong anh/ mõ khua như lá rớt/ nâu sồng giấc trưa...Cứ như là không phải ngày đông/ hàng cây xám và một hơi thở lạ...(Bài thứ 20: Ngày Mùa Đông)....những sợi thu ký ức/ trôi trong miền nguyên anh/ hoa cúc dại đỏ chiều biên ải...tím sim rồi nỗi chát chẳng vơi.....người ơi người ơi/ tơ hồng gót chân bện nhau rồi khát/ cười lên cho nắng xanh vườn....hoa hồng hỡi ta phải về trước bão/ một sợi nghiêng mây trắng dọc đường về (bài thứ 21: Mây Trắng Lắm Người Ơi)....xưa xa hoạ gạo mỏi mòn/ xưa xa le lói mùa ngâu....xưa đi/ thác trắng xoè tan bóng nắng/ ..một bồ câu xa hút đưa dâu....(Bài thứ 22: Xưa Xa)....Thì ra mặt tôi không vuông không tròn/ không đen không trắng ...(bài thứ 23: Trong Bóng Đêm)....lá vàng cuốn nắng đi tìm/ ngày dĩ vãng nổi nổi chìm trong nhau.....lá rơi chẳng biết cành đau/ nuớc trôi hòn sỏi nhuộm màu hớ hênh/ mùa đi chân mây nổi nênh/ một manh cỏ muộn xanh đành xanh thôi...(Bài thứ 24: Ngẫu Thu)....có cây cầu bảy sắc/ ánh sáng đen đặc...hai mươi tuổi còn xanh lắm/ mắt người yêu còn lấp ló bên hè ...(Bài thứ 25: Cầu Cần Thơ Đêm Thứ 2).....người thì ở phía mù khơi/ mông manh ngũ sắc bời bời trái ngang/ thì say đến độ lâng lâng/ thấy sông thành núi nhìn vàng ra tro...(Bài thứ 26: Ngồi Hát Với Một Đám Mây)....nở lại đi bông hoa dại ven đường/ cỏ Đà Lạt xanh mềm thiếu nữ....(Bài thứ 27: Chẳng Lẽ Mình Mãi Mãi Lạc Nhau)...tháng tư vông vang trắng đỏ/ tháng tư quằn quại trời xanh...cây xoan già ngơ ngẩn tím ngang sông....tháng tư cây vĩ cầm nguyên khai hát bài ca đuôi ngựa/ mơ thảo nguyên thắc thỏm quì vàng/ gửi cho nhau câu thơ bạt gió/ tinh khôi kim ngân vầng trăng mưa dại....có những lúc thấy mình như men rượu/ liêu phiêu nghiêng mờ tỏ bên trời/ chắp tay xá miền hoang mạc vô cực/ giữa trăng sao ly chén tưng bừng...(Bài thứ 28: Độc Ca Tháng Tư)...cỏ xanh chỉ một mình tôi/ một mình tôi với một tôi một mình...(Bài thứ 29: Về Miền Nguyên Hạ)....hôm nay xanh nhoè đồi/ cao su vút chân trời thấp lại/ em về tinh khôi lấp ló môi cười...Mùa thu người ơi hoa trắng mé đường/ bổng thức một năm nao mười tám...(Bài thứ 30: Mùa Thu Hoa Trắng)....về chị nhé/ Ngàn Phố vẫn xanh chị tắm thuở nào/ về chị nhé/ sáu mươi tuổi rồi chị bắt đầu yêu.....(Bài thứ 31: Về Đi Chị)....những bức tranh và những nụ cười/ rất có thể cả những giọt nước mắt...(Bài thứ 32: Vu Vơ Vũng Tàu)......thắp khuya cát trắng tự xưa/ bàn chân bước đến tận giờ chưa ngưng....những cồn cát trắng tiên thiên/ trải bao ấm lạnh mà liên kiếp về...(Bài thứ 35: Lục Bát Côn Đảo)...đen trắng nã nền/ đêm Sài Gòn nưng nưng trôi ....đen trắng/ em như thiên thần/ mướt mùa xanh...(Bài thứ 36: Đen Trắng Sài Gòn)...đã từng khóc đỏ cơn mong/ đã thôi ngọn nến cháy trong đốt ngoài...người đương bằn bặt sim mua/ người lên mạn bắc bỏ bùa phương nam/ trăm ngàn vạn ước mơ nằm/ những ngôi sao đỏ cháy thầm bên nhau...(Bài thứ 37: Những Dòng Nước Mắt Về Đâu)...sông quật ngược ngàn/ nụ cười Lào rợp nắng/ phù lưu nâu...Mêkông Mêkông Mêkông/ mê man mây trắng/ rưng rưng trái tim thao thiết nẻo về....(Bài thừ 38: Bất Chợt Mê Kông).....những bông hoa nhoè đỏ/ mắt bạn vuông vời vợi nắng chiều....trái ớt xanh nheo phỏng nõn chiều/ chiều đê mê mắt bò trước bão/ bông hoa đỏ cháy trong ngày viên mãn/ theo nhau đi hết cuộc đời/  màu đỏ cháy cuộc trùng phùng cũng cháy...Nguyên Mỹ nằm đây hoa mười giờ cứ nở/ hoa hồng cứ tươi hương vẫn cứ ngập tràn ....mãi mãi chia ly/ dẫu hoa đỏ vẫn ngỡ ngàng chao chát...Tam Kỳ giá mà đừng đến/ để cứ mãi thanh bình đôi mắt đen kia...nước sông cứ trôi gió vẫn cứ lang thang/ tất cả bình yên và mây trắng....( Bài thứ 39: Tam Kỳ Cứ Bình Yên Và Mây Trắng).....về đâu những dòng suối/ chân trời vàng lắt lay....cuối năm lòng như cỏ/ ngập ngừng/ đan nhau xanh...(bài thứ 40: Cuối Năm)....
Trắng cồn bãi trắng cơn mưa/ Cuối năm chiếc lá cũng vừa kịp xanh..(Bài thứ 41: Trước Mộ Ba Chiều Ba Mươi)....những bông dã quì/ quẫy vàng trời...thì ráng chiều nào mà chả thế/ nao nức rồi sập xuống phía không đêm/ để lại chân trời vỡ trắng/ ta đi về phía ấy để chờ em...(Bài thứ 42: Cao Nguyên Ngày Tôi Mới)....Ngày qua cầu rưng rưng cháy gió/ Đội rế lên đầu em hóa cô dâu/ Lá chanh hong tóc tìm nhau/ Bờ ao lập loè đom đóm....Sáng nay hoa đầy phố/ Người đàn bà răng đen...(Bài thứ 43: Sáng Nay)....những đau đớn trái quất xanh đứt cuống/ lặng lẽ rơi đêm vào ba mươi...hoa gạo đỏ mộc miên bến vắng/ khát vọng sông dài ngắn đời người....(Bài thứ 44: Chiều Cuối Năm Mưng Mưng Nắng).....sông xa trời lạ mây bay/ cái nhìn trắng phớ cái may vợt vờ/ níu nhau về phía bơ vơ/ bỏ quên hoa gạo bên bờ cỏ non...(Bài thứ 45: Vọng Xuân)...Hàng cây nào xanh đến chẳng thể hơn/ Tôi với em níu nhau bằng cái màu xanh không tưởng ấy...Ba mươi năm hoa Pangchéo vẫn vàng/ Vẫn liêu xiêu gốc sim già cuối dốc/ Vẫn nôn nao màu ve trưa nắng...Để  yêu nhau một lần bõ khát/ Mùa khô lang thang khơ khấc nắng vàng....Bây giờ hoa gạo nhoi nhói chiều hoang/ Bây giờ làn nước xanh soi lông mày em rửa nhớ luênh loang cánh chim trời chấp chới....Bây giờ hoa Tơpang tím ngẩn buôn buốt non xa...Mắt đa tình xênh xang áo ló vai trần ngực nõn da nâu rm Jrai thả vào ta cái nhìn trong tẻo thuở hồng hoang vũ trụ hiện con người...(Bài thứ 46: Ba Mươi Năm Xiêu Xiêu Nỗi Nhớ)....Hoa hồng héo trái tim ngồi thức/ Sô cô la mặn giấc vào khuya....Valentine mình đi nhuộm tóc/ thấy màu đen hiện ánh nghi ngờ...(Bài thứ 47: Ta Đã Già Rồi Em Vẫn Valentine)....trời buông sợi bấc mù mờ/ tơ hồng vương gió vẫn vờ sương bay...cõi người trộn cõi bơ vơ/ dắt nhau vào một mơ hồ trong veo....sim mua thắc thỏm đợi chờ/ trái tim hát giữa bụi bờ mà đau....(Bài thứ 48: Và Rồi Mây Gió Với Ta)
       

Đấy nhé!...Tôi không hề ngoa ngôn loạn ngữ tý nào đâu nhé suốt dọc từ đầu tập thơ cho đến hết hầu như không có bài nào là không có màu sắc thứ thiệt nhé. Không lẽ chỉ vì hai bài thứ 33 và thứ 34 là bài  Chiếc Váy Buồn Đêm Biển Nha Trang và bài Nằm Nghiêng Bên Sóng là le lói ít màu sắc nên Văn Công Hùng đặt cho tuyển Thơ này là Đêm Không Màu ư như vậy là quá đáng thế thì còn 46 bài còn lại trên tổng số 48 bài thơ trong tập mà bài nào cũng lồng lộng sắc màu thì không tính à...vậy cho nên mới nói tập thơ ĐÊM KHÔNG MÀU tựa đề của nó là "bốc phét". Cho nên mới nói " nhà Văn nói láo nhà Báo nói thêm nhà Thơ bốc phét" là vậy.
  
Cũng vậy cho nên mới nói Văn Công Hùng là người vừa Nói Láo vừa là người Nói Thêm vừa là người Bốc Phét.
Bằng chứng đây:
- Quê cha: Thừa Thiên-Huế
- Quê mẹ: Ninh Bình
- Sinh tại: Thanh Hóa
- Lập nghiệp: Pleiku
- Hội viên Hội Nhà Văn Việt Nam
- Hội viên Hội Nhà Báo Việt Nam
- Hội viên Hội Văn Nghệ Dân Gian Việt Nam
- Hội viên Hội viên hội VHNT các dân tộc thiểu số Việt Nam
- Nhà Thơ tổng biên tập báo văn nghệ Gialai-Kontum
Sách Đã Xuất Bản:
- Bến Đợi (tập thơ)
- Hát Rong (tập thơ)
- Ngựa Trắng Bay Về (trường ca)
- Hoa Tường Vi Trong Mưa (tập thơ)
- Mắt Cao Nguyên (tản văn và phóng sự)
- Gõ Chiều Vào Bàn Phím (tập thơ)
- Lời Vĩnh Cửu (trường ca)
- Đêm Không Màu (tập thơ)
...
He he...phen này mình lật tẩy Văn Công Hùng là người Nói láo Nói Thêm và Bốc phét..nhưng anh ta chả dám làm gì mình được bởi vì sự thật là như vậy biết làm sao được. Anh ta chỉ biết ngậm bồ hòn khen ngọt thôi.  
Cho nên:
"anh xin em một bồ hòn
ngậm cho củ ấu cũng tròn như em....
(thả gió vào chùa- Văn Công Hùng)
   

ặk..ặk ...lâu chưa được "chửì" ai bữa ni chửi được một bữa: Sướng!!!!!
 
___

  
   - Bài sau: "Cầu Mong Hạt Dẻ Thứ 5" -Bình tập thơ "Hạt Dẻ Thứ Tư" của Nữ Thi Sĩ TUYẾT NGA.
-  Những bài bình luận không thông báo trước cho Tác giả có gì mong lượng thứ.

 
10.07.10
TN

More...

NGƯỜI ĐÀN BÀ CÓ HẠT CHÂU SA- Phần 3 (chuyện Blog)

By Lê Thuận Nghĩa

  
Xem trước phần 1 ở đây:
http://thuannghia.vnweblogs.com/post/7291/238131  
_____
Xem trước phần 2 ở đây
http://thuannghia.vnweblogs.com/post/7291/238658
_____
3.
  Phút thảng thốt thất thần trước vẻ mỹ miều  hồng tuyệt của giai nhân rồi cũng qua. Với tôi là vậy đó   "Tứ Đại Giai Trà"  mà. (he he..vì chưa đạt độ "tứ đại giai không " thì giai trà thôi. Đơn giản!)
Với tôi vạn pháp rồi cuối cùng cũng qui về ly tách vậy là tôi lại thản nhiên thể hiện những thủ thuật công phu với ấm Bích La Xuân mà cả tuần này cứ thấp thỏm về việc được nhâm nhi nó.
    
Trà Nhân Hương lúc thưởng thức lấy hương làm trọng nó là thứ trà tiên hương hậu vị (ban đầu là hương sau mới là vị). Cho nên trước khi om trà cần phải  có thủ pháp  khử ly tách đặc biệt.
   
Ly ấm dùng uống trà nhân hương phải tụ nhưng không kết. Có nghĩa là có khả năng níu giữ hương lại nhưng không làm cho hương trầm trì lắng xuống dưới. Níu được hương nhưng vẫn cứ khuếch tán ra trong sự đằm đẹ thoang thoảng. Bởi vì lý do đó nên uống trà nhân hương người ta hay dùng ly tách đẽo bằng lõi gỗ là vậy. Và lúc tráng ly tách phải tráng nước thật nóng cho bay hết mùi tạp cũ sau đó trụng lại nước lạnh cho đằm khí. Lúc om trà thì không dùng nước sôi lần thứ nhất mà dùng nước sôi lần 2 (nuớc đun sôi lên để nguội lại rồi đun sôi tiếp lần nữa) và không nên để nước sôi đến cực điểm nước chỉ hòm hòm dôn dốt sôi cỡ 85-90 độ là được.
  
Vừa pha trà tôi vừa tàn tàn nói với lão Ba Đen:
- Trung nhạc (mũi) của bà ấy hài hòa không cao không thấp bồng bềnh như một quả khinh khí cầu mà lại có cảm giác như trĩu giọt xuống chín mộng  như trái trọng lâu của giống nhất chi mai. Không tròn mà tích tụ không nhọn mà sắc sảo   vừa thanh tao thống thoát như núm chuông sa vừa đầy đặn đủ đầy như xuân đàm ngậm nguyệt mới nhìn thoáng qua thấy tứa ra sự đằm thắm khoan nhiên như lục bát ngắm kỹ lại thấy viên chẵn như một tứ thất ngôn chiêm đắm một lúc lại  thấy hoàn lạc như tứ tuyệt. Thật là đệ nhất Tung Sơn trong chốn phàm trần.
   
Lão Ba Đen tiếp lời:
- Cái huyễn tuyệt nhất nơi Trung Nhạc của bà ta chưa hẳn là những gì như ông tả. Nét siêu phàm của nó là ở chỗ nó như thâu tóm tất cả thần khí của Ngũ Nhạc về một mối tại giọt châu rồi từ đó thần khí như một thẫm loan hương thấm tràn ngoạn sắc ra hai cánh mũi chảy dòng ra Tứ Nhạc. Bừng sáng lên lấp lánh ngũ sắc ở Nam Nhạc (trán). Tràn ngợp xuân tình ở Tây nhạc (gò má trái). Óng ả làn thu thảo ở Đông nhạc (gò má trái) và thăm thẳm miên man ở Bắc nhạc (cằm). Chưa hết   làn thủy các như lộ như  khép như chan như rót đào nguyên vào giọng nói trong veo thăm thẳm sâu xa tựa một ngày thu buồn nhưng lại gần gũi cận kề  đâu đó như tình mẫu tử.
- Ơ hay sao hôm nay cậu lại trọng về thần sắc thế nhỉ?
- Thì ông cũng thế tự nhiên chỉ chú ý đến hình thể.
    
Có lẽ điểm mê hồn diện tướng của người đàn bà này chính là ở chỗ đó. Ở chỗ nó đã làm cho tôi và lão Ba Đen thay đổi một cách vô tình mà diệu dụng sở trường của chính mình.
    
Rót ly trà đã pha ra ly nhấc lên đưa vào tận tay Ba Đen tôi nói tiếp:
- Dái tai buông trầm xuống đầy đặn và nhu hòa hồng ửng lên một cách nhiên tịnh như vậy ắt là phước đức mấy đời tổ tông có bao nhiêu bà này hưởng cả chẳng bao giờ biết đến ốm đau không sống đến trăm tuổi hạc tớ xé hết sách tướng số chuyển ngạch qua phong thủy ..hì..hì... Tôi mỉm mỉm cười cười nói
- Hai gò dịch mã sáng dậy như sao sa vận hạn hanh thông ước gì được nấy muốn gì cũng đến tay không những công danh sự nghiệp mình thành đạt vô lường mà còn giúp cho thân thuộc hưởng lây phần thái lạc nữa thật là khác thường.
- Chậc chậc..
- Chậc chậc..
 
Cả tôi và Ba Đen cùng đồng thời chậc lưỡi thán phục
- Nhãn thần...Tôi nói
- Tầm mi..Lão Ba Đen cùng một lúc thốt lên
- Không còn lời để tả..
- Chẳng thể lấy ngôn từ đo lường..
  
Cả tôi và Ba Đen đều cùng lúc đưa ly Nhân Hương lên nhắp
- Là cậu nói về trà hay người đàn bà kia vậy- Tôi hỏi
- Thế ông đang tả người đàn bà kia hay là tán tụng trà đấy.
  
Hai thằng cùng xòa cười. Ba Đen và tôi chẳng mấy khi trao đổi với nhau về chuyện đời hay chuyện riêng tư của nhau. Chơi với nhau mấy chục năm nhưng tôi không biết vợ hắn tên gì có mấy đứa con trai gái mấy lứa. Còn hắn cũng không biết tôi đã có vợ hay chưa đã mấy lần "vào tù ra khám"  trong hôn trường. Nhưng khi ngồi với nhau bên bình trà thì hình như mọi ngõ ngách tâm hồn bao nhiêu cảm xúc về cuộc sống chúng tôi đều quá cặn kẽ về nhau hết trọi.
- Uống đi- Ba Đen mời tôi
- Uống gì trà hay sắc mỹ nhân
- Nhân Hương!
- Mà này hình như thần sắc đi hơi chậm
- Hình thể quá tròn đầy không có vấp váp nên thiếu đi nét chấm phá.
- Tớ tiếp cận nhé chỉ kiểm chứng thôi- Tôi ngập ngừng
- Ông dám à không bị hút hồn đấy chứ
- Yên tâm miễn dịch rồi Liễu Hạ Huệ rồi.
  
Tôi cầm ly nhân hương trên tay thủng thẳng tiến về phía bàn người đàn bà kia đang ngồi. Tôi tiến tới một cách dũng mãnh và phi thường như một tráng sĩ đang đối đầu với muôn vàn hiểm nguy trên trận mạc như một  bậc Đạo Sư khoan nhiên bước vào cảnh giới địa ngục hừng hừng lửa loạn...
- Xin lỗi chị tôi có thể ngồi xuống đây uống ly trà này được không?
- Anh cứ tự nhiên tự nhiên như ly trà quí trong tay của anh vậy.
- Hình như chị đang uống trà  Tứ Phương Long Tỉnh thì phải.
- Nếu tôi nói là Mai Gia Ô Long Tỉnh thì anh nghĩ sao?
- Mai Gia Ô Long Tỉnh nước có màu xanh ngọc bích sóng sánh như mắt linh miêu. Còn trà chị đang uống lại có màu xanh hơi vàng như lá chuối non nhìn thấy là cảm giác ngay vị tươi nồng mà hương quyện lên có vẻ chậm và bền. Nên tôi nghĩ đó không phải là Mai Gia Long Tỉnh.
- Quả là danh bất hư truyền!
- Chị nói sao ạ- Tôi giật mình hỏi lại
- Dạ không có gì hình như anh có điều gì muốn hỏi.
- Sao chị lại biết điều đó
- Vì một người khi cầm ly Bích Loa Xuân trên tay không uống mà cầm xoay xoay ly trà thì chắc chắn có điều gì đó cần lý giải.
- Chị thấy cái ly gỗ này nên biết tôi uống Nhân Hương trà à?
- Không hẳn vậy vì Bích Loa Xuân có mùi hương không thể nào lẫn được. Mùi trà này nhẹ bồng nhưng có thể làm khuất lẫn đi mùi trà khác. Tứ Phương Long Tỉnh có hương bền mà cũng bị hương trà kia lấn lướt ắt hẳn đó là Nhân Hương trà chứ không sai.
- Vâng đó là Bích Loa Trà đấy thế chị có sẵn lòng cho tôi hỏi một điều được không?
- Anh cứ hỏi nếu tôi có khả năng trả lời thì không ngại.
- Chị rất đẹp!- Tôi thõng một câu không đâu vào đâu.
  
Còn bà ta thì không tỏ ra có gì bất ngờ trước câu cảm thán của tôi chỉ có chút gì đó thoáng e ngại chỉ thoáng qua mà thôi.
- Không lẽ điều anh cần lý giải chỉ có vậy?
- Chị có nghĩ rằng tôi nói vậy để tán tỉnh không nhỉ?
- Không tôi không nghĩ vậy vì một cao thủ về trà như anh người đã thấu ngộ được chân trà rồi thì sắc đẹp của Mỹ Nhân khó có thể làm lay động lắm.
- Có đấy cái đẹp của chị đã làm cho tôi và bạn tôi sững sờ vì sở học của chúng tôi.
- Vâng tôi biết là chỉ lay động sở học của các anh chứ không thể lay  động những lĩnh vực thường tình khác.
- Cảm ơn chị đã cảm thông. Cho hỏi một điều rất đơn giản thôi. Nhìn chị là biết ngay là người thành đạt thành đạt trong sự nghiệp hạnh phúc viên mãn trong hôn nhân và gia đình. Nhưng cung Thái Ất trên mặt chị quá thịnh vượng quá tràn ứ. Vậy là phước đức dày. Cho nên chỉ cho hỏi một câu là trong gia quyến của chị có phải là toàn sinh con trai và rất ít con gái phải không?
  
Tôi vừa hỏi xong thì một người đàn ông tây phương vạm vỡ đồ sộ như hộ pháp từ ngoài cửa quán tiến nhanh về phía bàn chúng tôi đang ngồi. Người này tiến tới tay đan vào nhau ở phía bụng dưới hơi cúi xuống và nói bằng một câu tiếng Anh
- Thưa bà xe đã tới ông nhà nói cần phải ra sân bay gấp cho kịp chuyến bay sang Paris ạ.
  
Người đàn bà đứng dậy lục trong túi xách tay lấy ra một tấm danh thiếp để xuống gần tách trà của tôi và nói:
- Thưa Yên Như cư sĩ ông đã từng nói từng đưa ra nhiều chứng cớ để chứng minh rằng không có cách gì trên đời này có thể cãi lại số mệnh được ngoài sự tu tâm tích phước theo lý lẽ "Đức năng thắng số".  Nhưng sự thật thì chưa hẳn là vậy. Bởi vì con người vẫn có thể làm chủ được vận số. Và vẫn còn có những phương pháp khác ngoài sự tích phước để cãi lại mệnh trời. Rất hy vọng có một ngày nào đó được gặp lại Yên Như cư sĩ để được đàm đạo về lạc thú bậc nhất trên thế gian này là Trà Đạo.
  
Nói xong bà ta hơi cúi người xuống chào tôi trên khuôn mặt kiều mỵ của bà ta một nụ cười hé ra như được thỉnh xuống từ vô tận bồng lai.
   
Bà ta đi rồi tôi vẫn còn thẩn thờ kinh ngạc vì mấy tiếng Yên Như Cư Sĩ thốt lên từ miệng bà ta. Tôi thẫn thờ lật tấm danh thiếp của bà ta lên đọc lại thẫn thờ và thẫn thờ...
  
Yên Như Cư Sĩ là bút hiệu của tôi trong những trang báo ở hải ngoại có liên quan đến vấn đề cổ học và Phật giáo
Yên Như Cư Sĩ hay Lâm Yên Như không phải là cái tên lừng danh khét tiếng trên "giang hồ". Nhưng "thương hiệu" của nó cũng đã có thời làm chấn động thế giới tri kiến của những người đam mê cổ học.

Người ta có thể biết nhiều điều về Yên Như Cư Sĩ về những chính kiến bất thường và nổi loạn trong thẩm mỹ nghệ thuật của cổ học qua Lâm Yên Như. Nhưng không một ai biết rằng Yên Như Cư Sĩ chính là cái thằng Đồ Gàn tôi. Và chưa từng một ai trên thế gian này ngoại trừ cái lão Ba Đen biết  Yên Như Cư Sĩ mặt ngang mũi dọc ra sao.
Thế mà hôm nay tại sao người đàn bà có giọt châu sa này lại biết  tôi cái gã gàn bướng nửa ông nửa thằng ba trợn ba trạo này chính là Yên Như Cư Sĩ người nổi danh về sự đạo mạo trang nghiêm như bậc tiền bối đã qua thời thượng thọ.
  
Bà ta là ai? Tại sao lại biết cái bí mật mà tôi đã cố tình che khuất bấy lâu.
Kỳ lạ thật!
 
Lão Ba Đen thấy bà kia đột ngột bỏ đi tưởng tôi có lời gì sàm sỡ xúc phạm đến mỹ nhân nên lật đật chạy tới. Thấy Ba Đen đi tới tôi vội vàng đút nhanh tấm danh thiếp vào túi.
- Có chuyện gì vậy có chuyện gì mà bà ấy bỏ đi đột ngột thế. Có phải tại ông nói gì không đấy?
- Cậu không thấy có người gọi bà ta đi à
- Ừ nhỉ trong tấm danh thiếp ấy ghi gì mà ông có vẻ thẫn thờ thế?
- Không phải vì tấm danh thiếp mà vì bà ta biết tớ là Yên Như Cư Sĩ.
- Sao? bà ta biết ông là Lâm Yên Như à sao lại biết!
- Thế mới nói hình như bà ta đã biết tất cả về tớ và cậu. Cách thức uống trà của bà ta giống như một sự chuẩn bị trước để vạch mặt tớ.
- Có lẽ đúng đấy vì bà ta vào quán chỉ để uống trà mà chỉ mượn ấm và xin nước sôi thôi chứ trà thì của bà ta mang theo. Tớ đã thấy nghi nghi rồi. Nhưng mà tại sao bà ta lại biết ông là Yên Như Cư Sĩ chứ.
- Cậu hỏi tớ tớ hỏi ai. Không chừng bà ta cũng biết danh thần tướng của Tú Xỉn ngươi đấy.
- Đưa xem cái danh thiếp bà ấy viết gì nào?
- Không cậu không thể xem tấm danh thiếp này được.
- Tại sao?
- Không tại sao hết chỉ có một điều là cậu không được phép đọc tấm danh thiếp này vậy thôi.
- Vô lý vậy ông định thửa làm "của riêng" đấy à.
     
Tôi không trả lời lảng tránh câu hỏi của Ba Đen:
- Thôi dẹp chuyện này đi uống tiếp Bích La Xuân đi nguội hết cả rồi.
  
Mặt Ba Đen hầm hầm nhìn tôi có vẻ tức tối lắm. Hắn tự rót ra một ly trà rồi ngửa cổ uống cái ực sau đó úp ly xuống.
 
Úi chà chà...Quen biết và chơi thân với Ba Đen bấy lâu nhưng chưa khi nào  tôi thấy hắn có hành động tương tự như này. Dùng một thứ ngôn ngữ cấp thấp trong trà đạo để bày tỏ thái độ bất phục. Cái vụ ngửa cổ dốc tuột ly trà và úp ly xuống có khác chi câu nói "Tiểu nhị tiễn khách" đâu.
  
Uí chà chà...hắn đã nổi cơn tam bành vì tôi không cho hắn đọc cái tấm danh thiếp của người đàn bà có giọt châu sa. Chắc hắn nghĩ tôi vì muốn chiếm đoạt cái sắc đẹp mỹ miều ấy để thưởng thức một mình chăng.
  
Thây kệ cho dù hắn nghĩ gì thì nghĩ cho dù hắn có nghĩ rằng hắn đã mất đi một người bạn trà thân thiết bấy lâu cũng được. Cho dù hắn không nói nhưng bây giờ hắn có chửi bới tôi thậm tệ có lấy chổi chà quét tôi ra khỏi quán cũng không hề gì. Nhưng nhất định tôi không thể để cho hắn đọc được những gì trên tấm bưu thiếp của người đàn bà có hạt châu sa ấy.
 
Không không! tôi không thể nào cho Ba Đen đọc tấm bưu thiếp này được. Vì như vậy là bất nhân là ác độc là khốn nạn...Ừ thì cứ để cho hắn nghĩ tôi là đứa phản bạn đứa háo sắc quên đi trà cũng được. Điều khó chịu do trà đạo bị xúc phạm và sự mất mát bạn trà hiếm hoi vẫn có thể chịu được vẫn có thể qua được. Nhưng để cho một người bạn trà tâm đắc phải đau đớn quằn quại trong nỗi thất vọng ê chề thì lòng rất  khó được sự an nhiên.
  
Thôi cứ để cái niềm tin ấy ở lại với hắn. Cái niềm tin tưởng chừng như vô vọng bấy lâu nay vừa mới nhen nhúm lại được. Không thể cướp của hắn đi không thể làm thui chột đi cái mầm nhú non tơ  của niềm tin vừa mới nứt mắt ra trong cõi đời khốn khó này.
  
Cứ để hắn nghĩ rằng cái giống lạ phía bên kia "giới tuyến" ấy vẫn còn chưa tuyệt chủng. Vẫn còn đâu đó trên thế gian này những người mà tướng số định mệnh của họ được tạo hóa ưu đãi vừa là bậc mệnh phụ phu nhân vừa có trí tuệ xuất chúng vừa tài hoa thông minh vững chãi trong sự nghiệp sánh vai cùng các đấng mày râu trên bất kỳ lĩnh vực nào vừa là người mẹ  dịu hiền  êm ái như một vầng trăng ngọt ngào trong buổi giao mùa vừa là người vợ hiền thục đoan trang thủy chung mà nồng nàn chất ngất như một câu lục bát. Và cái quan trọng nhất là biết ghen rất kém nhưng biết uống trà rất giỏi. Cứ để hắn nghĩ vậy đi. Nghĩ vậy mà mơ ước mà hy vọng.
  
Tôi không thể tưởng tượng được sự sụp đổ của Ba Đen sẽ dẫn đến hậu quả như thế nào khi hắn đọc được dòng chữ này trên tấm bưu thiếp :
  
"Phước Viên Giải PhẫuThẩm Mỹ Viện
Giáo Sư Tiến Sĩ Y Khoa:
Peter Nguyễn và Phu Nhân
"
 
Dốc cho hết kiệt ấm trà nhâm nhí chán tôi mới đứng dậy thu dọn bộ ly tách của mình và ra về.
  
Ra đến cửa đột nhiên tôi sực nhớ ra cái tên Viên Hạnh Nữ Sĩ một bloger khét tiếng đã từng có mấy trận tranh luận nảy lửa với Yên Như Cư Sĩ trên trang webs Vietshare.com về vấn đề thẩm mỹ liên quan đến việc xóa nốt ruồi trên mặt.
 
Biết được người đàn bà có giọt châu sa ấy là ai tôi cất tiếng cười khơ khơ khơ...  rung cả quán trước cặp mắt ngây dại có xen tý thù hằn ghen tỵ của lão Ba Đen.
   
28.06.10
tn
 

More...

NGƯỜI ĐÀN BÀ CÓ HẠT CHÂU SA- Phần 2 (chuyện Blog)

By Lê Thuận Nghĩa

Zu-Jong là một cô gái rất kỳ lạ. Theo như cô nói thì cô xuất thân từ một phả hệ người Hồi ở Nội Mông. Tổ tiên của phả hệ này là một cặp vợ chồng Peranak và Nyonya. Peranak và Nyonya là tước hiệu của hậu duệ công chúa Hán Lệ Bảo triều Minh vào giữa thế kỷ 15. Vào thời gian này Công chúa Hán Lệ Bảo của Minh triều (em gái của Minh Thành Tổ) được gả cho quốc vương của vương quốc Malacca vua Mansur Shah (Quốc vương Malacca là một triều đại nổi tiếng của Malaysia). Công chúa đi cùng với đoàn tùy tùng của mình - gồm 500 con trai của các quan và vài trăm cung nữ. Đoàn người này cuối cùng định cư tại Bukit Cina ở Malacca. Hậu duệ của những người này sinh ra từ các cuộc hôn nhân với dân bản xứ ngày nay được biết đến như là những người Peranak: Baba (tước hiệu của đàn ông) và Nyonya (tước hiệu của đàn bà)

More...

NGƯỜI ĐÀN BÀ CÓ HẠT CHÂU SA (chuyện Blog)

By Lê Thuận Nghĩa

Viết nhân kỷ niệm tròn 2 năm chơi vnweblog
 
1.
Không biết tôi nghiện trà từ lúc nào bây giờ ngồi nghĩ lui nghĩ tới cũng chẳng còn nhớ nữa.
  
Nói nghiện từ cái hồi theo Thầy rảo bộ khắp núi rừng miền Trung cũng không đúng. Vì hồi ấy tuy rằng hành trang trong đãy mang theo hành hương lúc nào cũng có bộ ấm chén và mấy lạng trà. Nhưng cũng chỉ để buổi sáng pha hầu thầy uống chứ tôi cũng chẳng thấy ngon lành gì.
  
Nghiện từ cái hồi Thầy qui tiên rồi tôi theo Thầy Chân Tế trên chùa Tường Vân tuần nào cũng có vài ba tuần trà pha hầu quí Thầy trong chùa để học Đạo cũng chưa hẳn là đúng. Vì sau đó có không được uống trà nữa cũng thấy bình thường không có thèm khát gì mấy.
  
Nghiện từ cái hồi theo  Nguyễn Thế Vinh Tôn Thất Thiện Trần Văn Thương mấy người Huynh Trưởng Gia Đình Phật Tử bên Tây Lộc. Hay là nghiện từ cái hồi theo Mùi Tịnh Tâm Phạm Văn Hội lên chùa Huyền Không học viết chữ thảo và bàn chuyện trà đạo..Cũng chưa hẳn là vậy vì sau đó về nhà uống nước mía nước cam nước rau má..vẫn thấy ngon
   
Không biết từ lúc nào nữa khi mà tôi không thể nào uống được một thứ nước gì khác ngoài trà vào miệng. Trà trở thành một phần cuộc sống của tôi. Tôi tồn tại với những điều kiện rất đơn giản. Ăn cơm- mặc áo quần- uống trà và làm việc. Ngoài 4 thứ ấy ra mọi thứ khác đều trở thành thứ yếu. Có cũng được mà không có cũng được. Chỉ riêng 4 thứ ấy là không thể thiếu thứ nào. Nếu thiếu đi một trong 4 thứ ấy thì tôi rất khó để tồn tại.
  
Đã kinh qua muôn kiểu uống trà chả có loại trà nào nổi tiếng trên trái đất này mà tôi chưa từng thử qua.
  
Từ cái kiểu Trà Đạo của Nhật với muôn thứ rườm rà rắc rối đến trà đạo của người Trung Hoa với đủ loại ly tách cũng chẳng kém phần cầu kỳ công phu lúc uống đến loại trà đen nấu trong ấm đồng to tổ chảng của người Nga đến trà uống rót trong ly thủy tinh của người Thổ Nhĩ kỳ kể cả kiểu uống trà với bơ và sữa dê của người Tây Tạng và Mông Cô tôi cũng chưa từng bỏ sót.
  
Cho đến khi ra đời hành nghề y không những tôi là người thuộc loại quái kiệt trong nghề thưởng thức trà mà còn là "ông tổ" của nhiều loại trà chữa bệnh khác nữa.
  
Ở bên này người Nhật người Tàu sành trà thỉnh thoảng cũng có thỉnh tôi tới các Trà Viên Trà Am của họ để thưởng thức. Nhưng tôi không khoái lắm. Tôi ghét sự rườm rà hình thức mặc dù đôi khi sự hình thức đó được phủ lên những tên gọi rất hoành tráng như Thiền Trà Kung-fu trà v..v...
  
Tôi là tín đồ của trường phái Vô Chiêu có nghĩa là không phải tầng lớp trà quí tộc. Cũng có thể là đã vượt ra khỏi cái cảnh giới ràng buộc của hình thức và tôn sùng Trà Đạo như một tôn giáo.
  
Tôi thưởng thức trà rất dân dã rất tự nhiên. Đã kinh qua không biết bao nhiêu kiểu cách uống trà nếm trải đủ thứ trà tuyệt hạng trên thế gian nhưng cuối cùng vẫn cứ phải quay về với trà mộc Thái Nguyên pha trong ấm gốm Bát Tràng. Đó mới là thứ Chân Trà đúng nghĩa của nó.
  
Chẳng cần Trà viên Trà am Trà thất gì cho nó mệt không cần phải Tokonoma chabana fukusa chakin kobukusa.. (trà thất và các dụng cụ trong Trà Đạo Nhật Bản) cho nó hao tổn sinh lực. Cứ buổi sáng mặc quần tà lỏn quất một ấm trà mạn Thái Nguyên pha trong bình gốm rót ra ngồi chồm hổm hít hà quắn mấy tách là lên tiên rồi.
  
Nếu nói về "Trà Đạo". Tôi vẫn khoái cái loại "chè chén" bên vỉa hè Hà Nội ngày xưa là thượng đẳng nhất. Nghe nói cái loại trà đạo vỉa hè này đã "tuyệt chủng" rồi bây giờ dân nghiền trà phía Bắc toàn đến các quán Trà Đạo lai căng thôi. Chán.
  
Nói thế thôi chứ uống trà mạn mãi lâu lâu cũng thèm một quả trà kung-fu pha mấy thứ danh trà uống chơi.
  
Trong nghiệp trà kung-fu của mình tôi vẫn còn giữ lại mấy bộ ấm trà danh tiếng đến cư ngụ chỗ nào cũng mang theo như bửu bối.
 
Cho dù là phái trà dân dã nhưng cũng không thể nào không chấp nhận cái lý của uống trà : Nhất Thủy Nhì Trà Tam Pha Tứ Ấm Ngũ Hữu Lục Ly Thất Qui Bát Tọa. (Uống trà ngon nhất là do nước pha thứ nhì là do chất trà thứ ba là cách pha thứ tư là do ấm thứ năm là nhờ bạn trà thứ sáu là do kiểu cách của ly thứ bảy là do nguyên tắc nâng ly và hớp trà thứ tám là do cách ngồi uống..)
  
Là dân trà nếu chưa cảm ngộ được 8 cách trà ngon đó thì coi như bỏ.
  
Cảm nhận được thứ nước nào pha loại trà nào thì ngon nước vùng nào pha trà ngon dở ra sao thì mới tạm gọi là sơ kiến (mới biết).
  
Phân biệt được hương vị từng loại trà khác nhau nên uống lúc nào trà nào mùa nào uống trà nào thì có thể gọi là viễn kiến (biết sơ sơ).
  
Biết cách pha phương pháp om trà cách châm nước rót trà...thì tạm gọi là cận kiến (biết gần rõ).
  
Cảm thụ được loại trà nào pha loại ấm nào thì ngon đó là nội kiến (biết đến vào trong).
  
Cảm giác được uống trà với ai thì trà trở nên có hương vị khác nhau đó là tri kiến (biết uống)
  
Phân biệt được loại ly nào dày mỏng cau thấp miệng khum miệng loe làm bằng chất liệu gì thì thích hơp với loại trà nào uống vào lúc nào mùa nào đó gọi là thấu kiến (biết rõ ràng).
   
Còn như cảm nhận được nâng ly lên lúc nào cách nhấp nhi từng loại trà và phương vị ngồi như thế nào để uống loại trà nào cho thêm phần ngon đó là hòa kiến ( biết rất thâm diệu).
  
Thực ra trong thập lộ Trà ngoài "bát kiến" đó ra còn có hai lộ nữa nhưng vì tôi chưa đạt được cảnh giới đó nên không dám lạm bàn đến. Đó là "Cửu hòa thập không". Có nghĩa là thứ chín là đã đạt đến cảnh giới uống trà nào cũng giống như nhau vì cái Tâm đã hóa thành nhất thể Trà rồi. Thứ mười là uống như không uống tạm hiểu là nôm na là ngộ ra chân Trà uống hay không uống đều như nhau..(he he...2 cảnh giới này em chưa dám mò tới vì em cứ phải có trà mạn mà phải là cái thứ trà ngon mới cảm nhận được là ngon...)
  
Trong mấy bộ ấm trà của tôi có 3 bộ phải nói là đúng là "bảo khí" quí hiếm lắm.
  
Đó là bộ ấm sứ Giang-Tây có từ đời Khang Hy dùng để uống trà Long Tỉnh của bà chủ một tiệm đồ cổ rất nổi tiếng ở Đức biếu tôi vì tôi đã chữa cho bà ấy khỏi cái chứng thiên đầu thống.
  
Bộ thứ hai tuy không phải đồ cổ nhưng là được gọt đẽo từ lõi cây bạch đàn trên đỉnh Bích La phía đông Động Đình Hồ bên Trung Quốc. Bộ này do một người bạn đồng nghiệp tặng tôi nhân ngày sinh nhật 40 tuổi. Bộ ấm bạch đàn này dùng uống trà Nhân Hương tục gọi là Hàng Châu Bích La Xuân là hợp nhất. Bộ ấm này tôi chỉ mới dùng có vài ba bận rồi đóng gói cất kỹ vì chẳng mấy khi có cái thứ trà Nhân Hương ấy.
   
Bộ thứ ba là bộ trà làm bằng đá Hồng Thạch Điểm Tuyết là thứ đá có ở vùng An Khê Phúc Kiến thứ đá này có vân màu hồng có điểm mấy nốt hoa trắng li ti như hoa tuyết trong đẹp lắm. Đẹp nhưng rất khó dùng vì nó chỉ hợp để pha trà Quân Sơn Ngân Châm một loại trà cực kỳ quí hiếm. Nghe nói loại trà này ngày xưa chỉ rót vào trong chén làm bằng chuôi lông chim hạc. Lúc rót ra hơi hương quyện lên hình chim hạc uống thấy thanh thoát vô cùng. Tôi cũng có đôi lần uống trà này này trong bộ ấm Hồng Thạch Điểm Tuyết nhưng chẳng thấy hạc đâu chỉ thấy mùi ngầy ngậy là lạ cũng hay lắm. Nhưng pha thử trà này trong các loại ấm khác thì cảm giác chẳng thấy gì đặc biệt cả.
  
Ngoài ra tôi còn mấy bộ làm bằng đá gan gà Ngũ hành sơn đá mã não...nữa nhưng chẳng có gì đặc biệt lắm.
  
Thường ngày tôi chỉ dùng ấm gốm Bát tràng để pha trà mạn Thái Nguyên thôi.
  
Tuần trước có cô đồng nghiệp cũ người Trung Quốc tên là Zu-Jong. Cô này là một thầy thuốc trị bệnh bằng thuật thôi miên bằng mắt và hát dân ca Hoa Hạ như đọc chú vậy. Cô ấy nghỉ phép về quê sang có mang biếu tôi 1 lạng trà Hàng Châu Bích La Xuân (còn gọi là trà Nhân Hương).
  
Biết đây là thứ trà quí nên tôi mới lục lọi lôi bộ ấm bạch đàn ra kỳ cọ lau chùi để có dịp pha uống.
  
Lần lữa mãi vẫn chưa có dịp pha hôm nay nhân ngày Khai Hạ (bên Đức ngày này mới đúng là ngày mùa hạ bắt đầu Sommeranfang. Nói là bắt đầu mùa hè nhưng bên này vẫn còn lạnh lắm).
  
Thông thường uống trà mùa hè thì người ta thường dùng chén thấp miệng rộng để tan nhanh hơi nóng. Uống vào mùa đông thì dùng chén dày cao để giữ nhiệt. Tuy đã mùa hè nhưng thời tiết ở Đức còn lạnh lắm cho nên bộ chén bạch đàn tuy thấp miệng rộng nhưng dùng vẫn hợp. Và cái quan trọng là uống trà Nhân Hương trong chén gỗ mới hay mới toát được cái mùi hương huyền diệu của nó.
  
Cô Zu-Jong biết tôi nghiền trà và chỉ thích uống trà mạn mà chỉ có thứ trà Thái Nguyên sao tay mới thích. Nếu có uống loại trà khác thì phải loại cực kỳ đặc biệt mới uống. Bởi vậy cô ta mới lùng cho được Hàng Châu Bích La Xuân biếu tôi.
    
Trà Hàng Châu Bích La Xuân xuất xứ  ở vùng Thái Hồ Động Đình sơn huyện Ngô Giang Tô. Cái tên Bích La Xuân có từ rất lâu đời. Theo ghi chép Thanh Gia lục có truyền thuyết rằng: Núi đông Động Đình có đỉnh Bích La trên vách đá dựng đứng có vài cây trà mọc hoang dã. Mỗi năm người dân trong vùng lại tới hái lá trà về uống. Bấy giờ khi tiết hái trà đến gần mọi người lên núi thấy cây trà cành lá mọc xum xuê ai cũng thi nhau lấy giỏ tre đựng không đủ bèn giắt cả vào ngực áo. Lá trà ấp vào ngực gặp hơi nóng tỏa ra từ cơ thể phát ra mùi hương kỳ lạ. Mọi người nhất loạt thốt lên: Nhân hương . Từ đó về sau mỗi lần hái trà mọi người không dùng giỏ tre mà đều ôm vào ngực. Loại trà mang tên Nhân hương - ý là chỉ mùi thơm lá trà phát ra từ cơ thể con người. Vùng núi có người tên là Chu Chính Nguyên rất thông thạo cách chế trà Nhân hương . Nhân Hoàng đế Khang Hy du ngoạn Thái Hồ người dân dâng trà Nhân hương vua mê mẩn với tách trà cảm thấy tên gọi không ưu nhã liền đổi thành Bích La xuân .
  
Sợ uống trà Nhân Hương một mình phí của giời nên tôi gọi lão Ba Đen một người bạn trà có cái quán ăn đặc sản Việt Nam tên là Mr.Le đem ra quán lão pha uống.
  
Chiều nay tan sở tôi bỏ luôn coi word cup xách bộ ấm bạch đàn ra quán lão.
     
Vừa vào quán thấy mặt Ba Đen (hỗn danh là Tú Xỉn) mặt nghệt ra như ngỗng ỉa miệng lầu bầu than vắn than dài:
- Tuyệt chủng rồi tuyệt chủng rồi!
  
Thấy lão tay cầm mấy cuốn tạp chí Geo (Địa Lý).( Đây là một cuốn họa báo rất nổi danh về các ảnh chụp về phong cảnh và đặc biệt là các ảnh nghệ thuật về các giống cây cỏ lạ và thú vật hoang dã. Nhờ tập tạp chí này mà tôi đã quen được một tay phóng viên và xin ông ta được các tấm ảnh của 12 loại Thất Diệp Nhất Chi Hoa để làm tài liệu nghiên cứu về thứ thảo dược có tác dụng chống ung thư này).
  
Thấy lão tay cầm tạp chí miệng lầm bầm như tụng kinh "tuyệt chủng tuyệt chủng..." .Tôi tưởng lão than vì một giống vật nào đó trong sách đỏ đã bị tuyệt tự nên hỏi lão.
- Lại có loại con gì biến mất trên trái đất à?  
Lão ta mặt ngây dại hất đầu về phía góc quán nói
- Nhìn kia kìa.
  
Tôi đảo mắt ra góc quán chẳng thấy gì chỉ thấy một người đàn bà trạc tuổi trung niên đang ngồi uống trà một mình.
- Là gì chứ- Tôi hơi ngỡ ngàng hỏi lại
- Ông mù à nhìn kỹ xem.
 
Tôi chú ý nhìn kỹ người đàn bà kia rồi thốt lên:
- Tướng cực đẹp!
- Ừ cực đẹp loại này tuyệt chủng rồi chỉ thấy trong sách tướng chứ chưa bao giờ thấy ở ngoài đời.
  
Lão Ba Đen và tôi vốn thích cổ học mỗi đứa có một sở trường riêng. Tôi thì chuyên về Tử Vi Kinh Dịch còn lão thì khoái Nhân Tướng Học. Nói là sở trường là vì sở thích vậy thôi chứ trong hai lĩnh vực tôi và lão cũng đều có bề dày nghiên cứu khá uyên thâm.
  
Đối với Tử Vi tôi thường nói đùa với lão: "Trong lĩnh vực Tử Vi tớ đứng thứ nhì thì không có ai đứng thứ nhất" lão cười hề hề đáp lại "Còn trong tướng pháp tớ chưa bao giờ xếp hạng thứ nhì". Nói xong hai thằng cười rất thống khoái và đương nhiên nói thế là vì đang có hứng khi đưa cạn mấy tuần trà ngon. Nổ chơi cho sướng mà.
  
Bởi vì cái nhân tướng học ấy mà tôi và Ba Đen có cái thẩm mỹ về phái đẹp rất khác người chẳng giống ai. Người mà thiên hạ khen lấy khen để là đẹp kể cả hoa hậu thì tôi và lão phải phát ói vì nhân tướng quá xấu không lăng loàn thì cũng là phường xướng ca vô loài may lắm thì là loại "hồng nhan bạc phận". Người mà tôi và lão cho là đẹp thì thiên hạ lại cho là "Chung Vô Diệm" hay là "quỉ dạ xoa". Bởi vậy cho nên về lĩnh vực "chân dài" tôi và lão thuộc vào loại lập dị.
   
Lại thêm trong cái trong lĩnh vực Nhân Tướng Học tôi và lão cũng có nhiều điểm bất đồng. Ba Đen thì coi trọng về "hình pháp" tức là coi trọng đường nét lấy đường nét làm trọng trong khi luận tướng. Còn tôi thì chủ về "Thần" tức là lấy thần sắc làm chủ lý.
  
Lấy hình pháp thì chuẩn mực và dễ chính xác hơn còn chủ về thần thì dễ sai lầm vì thần sắc của thân chủ hay bị biến động mà cái cảm của mình cũng dễ nhầm lẫn vì còn tùy vào tâm trạng của chính mình. Bởi vậy mà về Nhân Tướng Ba Đen cao siêu hơn tôi.
  
Ba Đen thì mặt nghệt lên sững sờ còn tôi thì quá kinh ngạc vì người đàn bà kia có cái tướng thật hoàn hảo. Để được một lúc cả tôi và cả lão cùng tán thưởng. Thì có lẽ đúng như lão nói cái giống này chắc đã tuyệt chủng.
  
Vậy mà hôm nay chẳng biết vì nhân duyên gì mà trong quán của lão lại xuất hiện người đàn bà có cái tướng đẹp một cách lạ lùng vậy. Không lẽ là vì nhân duyên khởi lên ngẫu nhiên vì ấm trà Nhân Hương mà tôi định mang ra uống cùng lão nhân ngày khai Hạ.
  ...
 
(Còn nữa)


22.06.10
tn

More...

LỜI CỦA TÀN TRO - Phần Kết (Đọc Thơ Trần Tuấn)

By Lê Thuận Nghĩa

Phần 3: Kết Luận
 
Hoan hô Bách Việt !!!
Việc từ chối những khuôn mặt "kinh điển" những phong cách "kinh điển" để chọn những khuôn mặt mới phong cách mới trong Thi Đàn Việt Nam đương đại để trao cái giải thưởng "khủng" cho cuộc bình chọn lần thứ nhất. Có lẽ đây là giải thưởng đầu tiên dành nguyên vẹn cho THƠ chứ không phải vì "Cái Gì Đó" viết bằng Thơ.
  
Hoan hô Hội Đồng Thẩm Định Giải Thưởng Thơ Bách Việt lần thứ nhất. Vì đã chọn đúng Ma Thuật Ngón để trao giải nhất trong 5 tác phẩm vào chung kết. (Nhưng không hoan hô Thi Sĩ Phùng Tấn Đông vì Ông đã viết một lời bình không chính xác với Ma Thuật Ngón để giới thiệu tác phẩm khi xuất bản và phong cách viết lời bình luận cũng không phù hợp với cái phong cách "Không Kinh Điển" của giải thưởng)
  
Sau khi gằm mặt xuống phê như một thằng nghiện xì ke vừa hít xong cái chất bột trắng để đọc Ma Thuật Ngón một lèo từ đầu tới cuối. Tôi vươn vai đứng dậy thoải mái hét toáng lên lời một bài hát đã tự chế " vielen dank für die Blumen....vie..len...dank ....vie..len...dank... Bách Việt". (lời bài hát  "cảm ơn vì những bông hoa...cảm ơn...cảm..ơn..." của chú chuột Jerry trong bộ phim hoạt hình Tôm & Jerry)
   
Cảm ơn CT Sách Bách Việt vì đây là một công ty sách tư nhân một doanh nghiệp dám đầu tư vào "cuộc làm ăn" lỗ vốn.
  
Ma Thuật Ngón in ra 1000 cuốn bán giá bìa 30.000 đồng. Nếu bán hết toàn bộ thì tổng số tiền thu hồi được sẽ có 30 triệu đồng. Trong khi tiền thưởng là 30 triệu đồng hỗ trợ thêm toàn bộ kinh phí cho thủ tục in ấn nếu cộng thêm tiền thù lao cho Hội Đồng Thẩm Định nữa chắc chắn cú này lỗ gấp hàng chục lần so với lợi nhuận thu lại. Thì cứ cho là Bách Việt  làm để quảng cáo đi. Nhưng vào thời buổi kinh tế thị trường này mà dám đặt hy vọng lợi nhuận vào "Thơ" thì quả thật là đáng nể phục. Hành động này chắc chắn là sự hy sinh đích thực vì loại Thơ Đích Thực.
    
Chậm hơn thời điểm trao giải thưởng cho Ma Thuật Ngón một tý là cơn sốt hà rầm dư luận về cuốn "Thơ Đến Từ Đâu" của Bác sĩ Nhà thơ Nguyễn Đức Tùng. Một tác phẩm văn học mà cho đến bây giờ các nhà nghiên cứu Văn Học cũng không biết nên xếp nó vào thể loại gì. Không phải Thơ không phải Truyện không phải là Tiểu thuyết không phải là Tiểu luận phê bình không phải tin tức báo chí...mà là một tổ hợp mấy chục cuộc phỏng vấn các Nhân Vật Văn Nghệ  đương đại để đi tìm câu trả lời cho mệnh đề : Thơ đến từ đâu?
  
Tách riêng ra từng cuộc phỏng vấn. Cho dù đó là sự đối đáp giữa chủ thể (người hỏi) và khách thể (người trả lời). Theo nguyên tắc người hỏi định hướng ý tưởng cho câu trả lời phục vụ ý đồ của chủ thể. Nhưng phải nói từng cuộc phỏng vấn đều có giá trị rất lớn trong việc đánh giá tổng kết ..và định nghĩa về Thơ  đương đại (mặc dù Thơ vốn không cần phải định nghĩa). Nhưng mục đích tối hậu là lý giải cho câu hỏi "Thơ đến từ đâu? thì tổ hợp phỏng vấn này không quan tâm. Hình như cái tựa đề ấy chỉ là một cái gì đó như xiêm áo cho một mục đích khác. Tôi không biết mục đích đó là cái gì nhưng tôi khẳng định là không phải để giải quyết cho cái tựa đề "Thơ Đến Từ Đâu". Vì cuốn sách có hai nội dung: Một nội dung xuất bản trong nước và có một nội dung khác khi xuất bản ở hải ngoại.
     
Cuốn Thơ Đến Từ Đâu và cơn sốt dư luận không giải quyết được cho câu hỏi như mục đích tối hậu mà nó đã đặt ra. Trong khi đó giải thưởng Thơ Bách Việt  trao cho Ma Thuật Ngón đã nhẹ nhàng lý giải cho câu hỏi tưởng chừng như "Đại Phức Tạp" nhưng vô cùng đơn giản và không cần câu trả lời đó.
      
Giải thưởng Thơ Bách Việt dành cho Ma Thuật Ngón (hay là có dành cho "Đêm và những khúc rời của Vũ hay là  "Thức ăn cho ngày hôm nay" hay là "Những ngọn triều nhục cảm"....  đi chăng nữa - Các tác phẩm vào chung kết) đã trả lời cho câu hỏi ấy là: Thơ đến từ Con Người và Cuộc Sống.Thơ về với Cuộc Sống và Con Người.
Hoan hô Bách Việt hoan hô Ma Thuật Ngón...vielen dank für  die Blumen ...(cảm ơn những bó hoa...."
 
______
 
Phần Phụ Lục:

 

Cuốn Ma Thuật Ngón và những tài liệu về Kosmosmedizin mà tôi đang đọc.
  
 Ở một phương diện nào đó Ma Thuật Ngón ở trong Thơ đương đại Việt nam cũng giống như Kosmosmedizin trong Y Khoa hiện đại vậy mà tôi đang đắm đuối mê muội vì nó.
 
Kosmosmedizin lấy Y Lý Cổ Truyền Á Đông làm nền tảng kết hợp với lý giải của học thuyết gen để hình thành một phương pháp chẩn trị và chữa bệnh Toàn Cầu trên nguyên tắc: những cơ thể khác biệt có hệ thống gen khác biệt tất có cơ chế nhiễm bệnh khác biệt. Vì vậy phải có những phương pháp đặc thù khác biệt nhau thích ứng với từng cơ thể khác nhau. Phù hợp với hệ thống gen của từng người khi đó mới phát huy được tối ưu liệu trình điều trị.
  
Một toa thuốc một thứ dược liệu dùng đặc trị cho một thứ bệnh để dùng chung cho nhiều người cùng mắc một thứ bệnh. Là một phương pháp chữa bệnh Risiko. Có xác suất hiệu quả dao động từ cực thấp 0% cho đến 100%.
  
Phương pháp đó đã lỗi thời mặc dầu nó đang thịnh hành và được gọi là Y Học Hiện Đại. Tìm ra một phương pháp khác mà xác suất hiệu quả đạt đến chỗ tối đa Kosmosmedizin đáp ứng được điều đó và chỉ có Y Lý Cổ Truyền Á Đông mới có thể hình thành nền tảng lý luận để ứng dụng vào thực tiễn cho phương pháp này. Cho dù phương pháp này cũng ứng dụng các thành quả của nền Khoa Học tân tiến như kỹ thuật gen chẳng hạn.
Vậy thì gọi Phương Pháp Kosmosmedizin này là Phương Pháp Cổ Truyền hay Hiện Đại. Hay là tống cho nó một cái tên gọi là Hậu Hiện Đại như người ta đã đặt tên cho một phong cách Thơ vậy.
 
Người ta phân tích và lý giải cái Hiện Đại như là một sự chối bỏ Quá Khứ không dính dấp đến quá khứ. Người ta lý giải cái Hậu Hiện Đại như sự dung nạp Quá Khứ vào Đương Đại và Tương Lai để nói để mổ xẻ để qui nạp Thơ vào những Trào Lưu. Mà chẳng có cái trào lưu nào hết ngoài sự thể hiện khác nhau với cảm xúc từ sự trải nghiệm và nhận thức cuộc sống của những cá thể (người làm thơ) khác nhau.
Kosmosmedizin đơn thuần chỉ là một phương pháp trị liệu hơi khác với các phương pháp trị liệu đương đại. Nó không có gì mới hơn hết trong hệ thống nhận thức Thời Đại nó chỉ chưa kịp thích ứng với hệ thống nhận thức đang trải nghiệm mà thôi. Cũng như Thơ chỉ là Thơ thôi tại sao lại phải qui nạp vào những trào lưu kỳ quặc ấy để đứng trên tư thế của sự đối đãi Nhị Nguyên mà cổ vũ cái này mạ lỵ và đào thải cái kia. Rồi bám vào cái gọi nôm na là Kinh Điển để đánh giá nó là Thơ hay không phải là Thơ.
 
Tôi hết sức thông cảm với Ma Thuật Ngón vì tôi cũng được đồng nghiệp cho rằng là một gã điên rồ vì bị cuốn hút vào vào Kosmosmedizin. Cũng như Ma Thuật Ngón bị coi là thần chú bùa mê và Trần Tuấn là Gã Thầy Pháp man dại.




______
   


  

Bậy quá bậy....Phùng Tấn Đông viết thế này là quá bậy. Viết vậy là không hiểu gì về Trần Tuấn chưa đi vào Ma Thuật Ngón rồi. Như vậy là ngộ nhận về Thơ rồi.

..."Như một kẻ trên đường thơ Trần Tuấn khao khát một cuộc tạo sinh mới bằng cách đi tìm những tương hợp mới những tương hợp giữa thực với siêu thực hữu thức và vô thức nhằm mở ra một dang dở kêu đòi chắp nối một cũ càng đòi được thanh tân. Phải vậy chăng mà ở đó có "một nhói trắng" của hoa "xác của những giấc mơ" "những ý nghĩ mọc lên" "những ý nghĩ thở nhẹ" "những ý nghĩ đi lại trụi trần" "những cơn buồn ngủ đã chết" "sự phục sinh những âm thanh" đã mất "lau một tiếng nói" đã từng.... Đọc Trần Tuấn có lẽ người đọc ít nhiều chia sẻ nỗi khổ của người viết khi thường trực phải kêu lên "đơn giản tôi là rối rắm phức tạp là hỗn độn mờ nhoè...". Khổ vì phải mang vác bao nhiêu nghĩa vụ bảo tồn với lớp người trước khổ vì phải đắn đo trước hấp lực cần xác lập một trật tự mới - trật tự phi trật tự của lớp trẻ đương thời. Đọc "Ma thuật ngón" vì thế ta thấy khi thì tác giả có vẻ như muốn "giải tác giả" để sự vật hiện tượng tự lên tiếng hòng phá vỡ giọng điệu cao đạo cũ khi thì tác giả buộc phải lộ diện trong lớp áo cũ hòng thoát khỏi nguy cơ đồng nhất hoá bởi sự diễu nhại sự tái chế văn bản được "phổ cập hoá" trong thời buổi tiêu dùng.." 


Trần Tuấn chả có cái khao khát về  một cuộc tạo sinh mới nào cả cũng chẳng đi tìm một sự tương hợp nào mới hết. Ma Thuật Ngón chỉ là những phát tiết từ sự trải nghiệm đời sống của Trần Tuấn trong giai đoạn hiện tại mà thôi.
Từ  Cầm Gió đến Ma Thuật Ngón chỉ là những trải nghiệm cuộc sống của Trần Tuấn từ 10 năm trước và nay mà thôi.
Cầm Gió có những trải nghiệm trong nhận thức cuộc sống ở giai đoạn đó Ma Thuật Ngón là những trải nghiệm cuộc sống bây giờ. Có thể nói sự trải nghiệm cuộc sống của Trần Tuấn cảm xúc đời sống của Trần Tuấn có sự thay đổi. Trần Tuấn không bảo thủ vì những định kiến cố hữu của nhận thức không bị ràng buộc bằng những qui định của thói quen không lệ thuộc vào những định luật kinh điển không bị chi phối với sự nuối tiếc quá khứ. Sự trải nghiệm cuộc sống của Trần Tuấn theo thời gian mà lớn lên mà rộng lớn ra mà kết tinh lại và phát tiết thăng hoa cảm xúc thành Ma Thuật Ngón. Trần Tuấn không tìm tòi không thiết lập sắp xếp ngôn ngữ Trần Tuấn không tạo dựng một cái gì hết không sáng tạo một sự tương hợp nào hết. Ma Thuật Ngón chỉ là những dòng chảy tự nhiên tâm thức. Không lệ thuộc vào sự chế ngự của ngôn từ và thoát ra khỏi cái ràng buộc của cái gọi là thể loại và trào lưu. Mà điều đó mới chính là Hồn Thơ đích thực của Thơ Hay. Ma Thuật Ngón có tàng trữ nguyên lực đó.
Nói Trần Tuấn tìm tòi sáng tạo từ ngữ sáng tạo phong cách là một xúc phạm đến Ma Thuật Ngón. Vì Ma Thuật Ngón không có điều đó và không làm điều đó.
Nếu như Thi Sĩ Phùng Tấn Đông cứ hụych toẹt nói thẳng ra cái hạn chế của Ma Thuật Ngón thì đôi khi lại hay hơn tốt cho Trần Tuấn và Ma Thuật Ngón hơn là viết những lời có cánh không đúng thực tế ấy.

"Ma thuật ngón" tự thân cũng hàm chứa nhiều hạn chế như có lúc có nhiều lúc tác giả làm người đọc mệt mỏi khi sa đà vào "triết luận" - tạm liên tưởng đến chữ nhà Phật gọi là "cơ tâm" rằng có lòng thành nhưng hơi "trình diễn". Thơ Trần Tuấn không vui đã đành nhưng một dư vang buồn cho cả tập thì quả "nhọc lòng". Thơ cũng cần phải hân hoan phải gọi mời mọi người vui sống chứ.

Còn nhiều điều hạn chế nữa tất nhiên. Điều khó nói nhất là đôi khi những hạn chế ấy cũng dự phòng vào một mưu toan nào đấy của kẻ viết biết đâu!?
Cứ nói hụych toẹt ra cái hạn chế để xem Trần Tuấn mưu toan cái gì trong Thơ mưu toan "trải nghiệm" cái gì trong đời sống. Có phải thế mới là một sự Phê Bình đúng nghĩa không?
 
Tôi chưa từng có ý định xuất bản Thơ. Nhưng đến một lúc nào đó cũng in cho mình một cuốn kỷ niệm những tháng ngày mê Thơ chắc chắn trong tập thơ của mình tôi sẽ dùng lời bạt là những cái hụych toẹt ấy ví dụ như bài Thơ "Lọc" - người bạn tôi viết  ra từ cảm hứng khi đọc Thơ của tôi. ( Bài thơ " Lọc" mô tả âm thanh của một lần đi nhà cầu khi bụng ăn khó tiêu.)

Phùng Tấn Đông viết lời tựa cho một giải thưởng thơ về Những Khuôn Mặt mới. Nhưng lời tựa quá "phê bình kinh điển" : lấy khen làm mục đích.


_____
  



   - Hay hay...hay...Đỉnh Rỗng quá hay. Hành trình nhận thức của một con người và cho cả một thế hệ cũng vậy. Kể cả việc thấu ngộ tông chỉ của một Tôn Giáo hay thẩm thấu cái đích thực của Chân Thiện Mỹ cũng vậy mà thôi. Nhồi nhét vào cho đầy cuối cùng cũng chỉ để làm "rỗng" hất toẹt đi tất cả cho "rỗng". Có "rỗng" mới tàng chứa được tất cả. Ha ha....Trần Tuấn cho dòng chảy tri thức vào trong Đỉnh Rỗng thật ngoạn mục...Khá đấy chú em ạ...Mặc ai chửi bới thoá mạ Đỉnh Rỗng như thế nào thì anh vẫn bỏ một phiếu rất hoành tráng cho Đỉnh Rỗng.
  
_____
   
 


   - Ô là là...Đúng thế đúng thế...GS Hoàng Ngọc Hiến viết về sự "đi" và "về" trong Ma Thuật Ngón đọc nghe thống khoái thật.
Bấm vào đây đọc thêm: 
 http://nguyentrongtao.org/di%e2%80%9d-va-%e2%80%9cv%e1%bb%81%e2%80%9d-trong-t%e1%ba%adp-th%c6%a1-%e2%80%9cma-thu%e1%ba%adt-ngon%e2%80%9d-1-c%e1%bb%a7a-tr%e1%ba%a7n-tu%e1%ba%a5n.xml   
____
  
 

- Ừ ừ..cứ vậy đi Trần Tuấn đừng nghe ai nói nghe ai xếp Ma Thuật Ngón là Thơ Hậu Hiện Đại đồng với các loại thơ vứt bừa ra trên giấy nào là cứt đái chim cu tử cung núm vú lông nách bựa răng....mà buồn và tệ hại hơn nữa là ngộ nhận. Chú cứ vậy mà tuôn chảy ra những trải nghiệm về đời sống đi. Viết về những "Sinh linh" hiện hữu như ngón tay móng tay lông chân cái thìa lanh canh trong ly cà phê ...về cái lỗ tai đồng hành trên một bữa nghe thấy con đường vậy là hay lắm rồi. Cảm ơn Chú vì việc anh cũng đã từng nghĩ vậy mà không viết ra không phát tiết ra được một cách tự nhiên mà có hồn như chú được. Anh vẫn còn lúng túng trong sự ràng buộc của ngôn ngữ trong sự khống chế của thể loại. Chú khá lắm.
Cảm ơn Trần Tuấn.
   
Lời cảm ơn Trần Tuấn đồng thời như lời cảm ơn đến nhà Thơ Văn Công Hùng đã gửi cuốn Ma Thuật Ngón với cước phí gấp 4 lần giá bìa vượt nửa vòng trái đất đến tôi. Thay cho lời kết bài tập làm văn viết trong ngày Quốc tế Thiếu nhi này.
TN

____
Ngày Quốc tế Thiếu Nhi
01.06.10
TN

More...