IN DẤU GIANG HỒ 1 (Tiếp Cái Thùng Đạn Đại Liên)

By Lê Thuận Nghĩa

                                                      
                                                               
                                                                    

 Trong một lần tham dự hội thảo Giáo Dục Về Vấn Đề Năng Lượng Trong Nhà Trường (1988) người ta lấy Trung Tâm Hướng Nghiệp nơi tôi đang giảng dạy làm đề tài trọng điểm. Tôi là người có tham gia vào việc chế xuất các thiết bị thử nghiệm về  mô hình sản xuất khí đốt từ nguyên liệu rác thải nên được mời đi theo để báo cáo về chức năng kỹ thuật của các loại hầm phân hủy nguyên liệu hữu cơ (phân bò lợn rau cỏ và rác thải). 
   
 Tan một ngày hội thảo tôi ra cái giếng xây trong khu tập thể Giáo viên để tắm. Ở đó đã có mấy Thầy và mấy Nhà giáo dục từ Trung ương về cũng đang hì hục múc nước tắm. Có một tiến sĩ tâm lý học trẻ măng tốt nghiệp đại học và bảo vệ luận án tiến sĩ ở Tiệp người có bản báo cáo rất hấp dẫn trong hội thảo ông cứ nhìn tôi chăm chăm xoi mói tôi từ đầu đến chân như nhìn một quái vật lạ lẫm từ hành tinh khác lạc xuống trái đất vậy. Tôi bực bội và rất khó chịu nhưng vì nể nang nên không có phản ứng gì. 
   
 Cho đến khi tôi cởi áo đánh trần ra ông ta nhìn thấy cái nốt ruồi đỏ tròn nổi cộm lên như viên bi nhỏ ngay chính giữa trung tâm ngực của tôi thì ông ta nhao đến định sờ vào đó. Tôi dang tay thủ thế cản lại nói : "Ơ kìa anh này muốn làm cái gì đấy". Ông ta đứng sựng lại rồi chìa tay ra bắt rối rít : "Xin lỗi xin lỗi vì tôi thấy lạ quá nên khiếm nhã mong anh thông cảm". Tôi bình tâm và thong thả nói : "Người tôi có chi lạ mà anh nghiên cứu dữ vậy? Ông ta thẳng thắn nói ngay : "Lạ lắm chứ tôi đọc thấy ngày sinh của anh trong danh sách báo cáo viên lại biết anh có tham gia mấy công trình giáo dục. Thú thật với anh nhìn thấy cái tướng số và ngày sinh của anh thì anh không thể là giáo viên được anh có tướng số của người hà tiện không ăn mày ăn xin khá lắm thì là người làm công làm mướn vai u thịt bắp thôi chứ không thể nào là người có nghề liên quan đến đèn sách trí thức được".
    
 Nghe ông ta nói vậy tôi bật lên một tràng cười thật sảng khoái : "Anh giỏi lắm nói chuyện như anh mà bây giờ vẫn còn nguyên hàm răng là may lắm đó anh đã biết tôi là người không có tướng số trí thức tất là có tướng giang hồ bụi bặm mà vẫn có gan thốt lên câu đó ngang nhiên thật". Ông ta cũng bật cười lên khanh khách và rất chan hòa nói: "Có cái nốt ruồi trước ngực anh làm hộ mạng nên tôi sợ gì không dám nói".
    
  Tôi sửng sốt trước tài tướng số của ông này bởi vì ông ta không phải là người đầu tiên quan tâm đến cái nốt ruồi kỳ dị này . Sư phụ tôi là người đầu tiên quan tâm đến cái nốt ruồi đó nhất khi tôi gạn hỏi Thầy nói đó là cái huyệt giải số mệnh của tôi rồi cười cười có hỏi gì thêm Thầy cũng không nói. Bây giờ có một người lạ hoắc lạ huơ học hành tận bên Tây đột nhiên quan tâm đến vấn đề huyền linh này nên tôi cũng tò mò hỏi: " Lạ quá nhỉ cái nốt ruồi của tôi sao lại hộ mạng cho anh được ? ". Ông ta chậm rãi trả lời: "Cái nốt ruồi đó gọi là Từ Tâm Nhất Điểm hiếm lắm phải là tròn xoe màu đỏ hoặc màu hồng nằm chính giữa lòng ngực trên Nhâm mạch  chia đôi khoảng cách từ huyệt Thủy đột đến huyệt Cửu Vĩ. Nếu nó là màu đỏ au như màu huyết dụ mà lá số Tử vi có Thiên không ngộ Hồng loan thì tất là một bậc đạo sư nức tiếng từ bi bác ái. Còn chỉ là màu hồng nhạt  hay nâu sậm thì là người có tướng Thầy thuốc mát tay chữa đâu lành đó. Còn nó màu đen láng hoặc bị lệch không chính tâm thì chỉ là người ưa hoạt động xã hội làm việc từ thiện mà thôi. Anh có cái tướng chết yểu lại sinh năm Kỷ hợi đàn ông mà sinh năm này thì chỉ có lang bạt kỳ hồ dăm ba bận ngồi tù là cái chắc. Tôi không hiểu tại sao anh lại nhơn nhơn là một nhà giáo giờ thấy cái nốt ruồi mới biết là có phá cách. Cái cách của anh là cách hà tiện nốt ruồi kia phá được cách hà tiện nên anh mới nên người. Cái nốt ruồi ấy là tướng của người hiền đến nói nặng với người khác còn không dám nói chi đánh người nên tôi đâu có sợ". 
   
   Nghe ông ta nói vậy tôi cúi mặt giấu vẻ bối rối. Sao ông ta nói y hệt Ba và Thầy tôi đến thế ? Ba thì nói tôi có cái tướng phản loạn chết đường chết chợ. Thầy nói tôi có kiếp nạn của kẻ khố rách áo ôm phải nhờ tích phước mới đổi được kiếp số. Không biết cái bằng tiến sĩ của ông này nghiên cứu cái gì mà ổng phán y hệt một ông thầy tướng số. Chuyện tôi học Đông y ngay đến người nhà tôi còn giấu sao ổng nhìn cái nốt ruồi mà biết tôi có duyên với Y nghiệp? Vào thời kỳ đó dù cố gắng bí mật đến đâu tôi cũng không tránh khỏi mấy trường hợp tác nghiệp nghề Y. Nhờ ơn trên tôi cũng mát tay thật. Mấy căn bệnh nan y của một vài người quen thân tôi chỉ có vài tác động nhỏ mà khỏi. Điều kỳ quái là cái ông ất ơ ở đâu chỉ nhìn cái nốt ruồi mà biết mới thiệt là tài chứ.
   
   Tắm xong lúc về ông kia cứ bám theo tôi hỏi chuyện. Thấy ông có am tường về Y lý và triết học Á đông cái bộ môn mà tôi đam mê từ thời niên thiếu nên tôi cũng rất thoải mái trò chuyện với Ông. Hóa ra bố ông ta vốn là một Lương y ở ngoài xứ Thanh ông  xuất thân từ nòi giống khoa cử lớn lên theo học Tây học nhưng vẫn mê đắm cổ học của tiền nhân. Hơn nữa ông lại là người hâm mộ những công trình nghiên cứu về huyền học của Giáo sư Nguyễn Hoàng Phương nên cũng có tìm hiểu và nghiên cứu về các môn tướng số tử vi kỳ môn độn giáp. Được có người cùng sở thích tôi trò chuyện với ông tâm đắc lắm. Ông cũng không ngờ một người có bàn tay chai sạn vì kìm búa như tôi lại có am hiểu không tệ về cổ học nhất là những lý luận về y lý cổ truyền. Ông cứ há hốc mồm nghe tôi lý giải về bệnh lý nhất là khi nghe tôi bày tỏ quan niệm về Mạch Thái Tố (bắt mạch để định người sang hèn thậm chí còn biết được trước kiếp nạn hạn số một môn học rất huyền vi trong Đông y). Lúc chia tay ông khuyên tôi nên bỏ nghề giáo mà chuyển sang học nghề y thì có cơ hội phát huy sở trường. Tôi vẫn giấu chuyện tôi lúc đó đang mang trọng trách phát huy quang đại Thanh Long Y Phái mà Thầy tôi giao phó nên cứ ậm ừ nói: "Dạ! thì khi nào có duyên thì đổi nghề xem thế  nào"

                                                                             
                                                                                                                                     
  (nốt ruồi Từ Tâm Nhất Điểm)                                                      
                                              
    Ai không tin thì thôi chứ tôi thì tin lắm. Điều gì lớn lao thì chưa biết nhưng cái vụ tướng số bần hàn thì tôi tin. Tôi không có cái tướng của quí nhân có nghĩa là không có phong cách sinh hoạt của giai tầng thượng lưu. Tôi có phong cách ăn uống nằm ngồi đi đứng của loại người dưới đáy. Cho đến khi sau này lập nghiệp công việc bắt buộc phải giao tiếp với tầng lớp khoa bảng trí thức giao tiếp với tầng lớp thượng lưu nhưng tôi cũng không thể nào hội nhập được lối sống của họ. Tôi buông tuồng và cẩu thả trong ăn mặc trong cách nói năng. Tôi ơn ớn ngượng nghịu khi phải dùng những từ ngữ bóng bẩy lịch thiệp nhưng lại rất thoải mái khi dùng từ ngữ của giới đứng phố ngồi hè. Tôi chẳng thiếu chi điều kiện để tận hưởng sơn hào hải vị hay phương tiện sinh hoạt của giới quí tộc nhưng tôi không thích thú tý nào mà vẫn khoái những nhu cầu rất tầm thường của giới bình dân thảo dã. Một chai rượu chát Pháp lâu năm đối với tôi giá trị không bằng một tách trà nhảo. Một bữa ăn thịnh soạn ở khách sạn 5 sao đối vơi tôi chẳng thể nào thích thú bằng việc ngồi chồm hỗm  dùng tay bốc rau cuốn bánh tráng rồi bưng bát nước chấm húp rồn rột. Đó là cốt cách tướng số của người hạ tiện dù tôi có thay đổi được môi trường sống thay đổi được thân phận đi chăng nữa thì cốt cách phong thái cũng không thể nào thay đổi được.
   
   Chính vì vậy mà tháng 10 năm 1978 khi Thầy tôi từ giã Huế ra Vinh theo tôi ông trọ ở nhà một người quen trên Hưng Vĩnh trên đường đi Nam Đàn. Thầy ra Vinh không cho tôi biết chỉ khi mọi chuyện ổn định xong xuôi Thầy mới đến tìm tôi.
   
   Thầy đánh chiếc xe ngựa chở khách mới sắm đến cổng trường Dạy Nghề nhắn tôi ra. Trời! gặp lại Thầy tôi mừng đến luống cuống cả tay chân. Tôi nhào đến ôm lấy Thầy khóc hù hù như con nít. Không biết vì sao tôi vốn là đứa trẻ kiên nghị  máu đổ thịt rơi vẫn tưng tửng nói cười như không nhưng gặp lại Thầy tôi lại bỗng thấy mình nhỏ bé và thơ dại đến thế. Thầy cười hiền lành nhắc nhở: "Nhớ là đừng kêu là Thầy hí nói là Ông Bác trong quê mới gặp lại". Biết Thầy mới sắm xe ngựa để làm kế sinh nhai tôi mê mẩn cả người đề nghị ngay: "Con bỏ học về đánh xe ngựa với Thầy nghe ?"  Thầy nghiêm mặt trách: "Con lại rứa nữa rồi học hành cho nên người đàng hoàng không muốn  suốt ngày chỉ nghĩ đến mần chuyện tầm phào người ta mơ ước thành ông này bà nọ thì không có điều kiện con có điều kiện thì chỉ mơ đi làm đứa sửa xe đạp hay làm người đánh xe ngựa là răng? đúng là định số mà". Tôi buồn xo ôm cổ con ngựa nũng nịu nói: " Nhưng mà đánh xe ngựa có chi không tốt ?" Thầy nói : " Làm xà ích là kế sinh nhai tạm thời trong thời buổi khốn khó nhiệm vụ của con là học hành ra đời như một người bình thường có chỗ đứng vững chắc trong xã hội mới có cơ hội để thi thố nghề y được đó là con đường con phải bước tới mới khỏi phụ lòng của Thầy ". Tôi thiu thỉu vâng dạ nhưng vẫn nài nỉ Thầy cho tôi được một tuần vài buổi thay Thầy đánh xe lấy cớ là để cho Thầy nghỉ ngơi. Thấy tôi mê làm xà ích vậy Thầy đành nhượng bộ nhưng vẫn còn lẩm bẩm. " Đúng là mạng số mà có cãi lại cũng không phải ngày một ngày hai được".
   
   Từ hôm đó mỗi tuần mấy bận tôi có cơ hội làm nghề đánh xe ngựa chở khách  không biết tại sao cái nghề hạ đẳng đó nó cuốn hút tôi dữ vậy. Có phải đó cũng là một phần cốt cách hạ tiện trong tướng số của tôi hay không. Không kể nghề châm cứu và xem mạch bốc thuốc sau này khi mỗi lần thoái lui một căn bệnh hiểm nghèo tôi sung sướng vui vẻ và an lạc thì cái nghề đánh xe ngựa năm nào là cái nghề đưa lại cho tôi cảm giác đam mê và thích thú nhất. Nghề giáo viên và các nghề khác tôi đã từng trải qua như nghề đầu bếp thợ rèn thợ hàn thợ làm nước đá họa sĩ hay là nghề tạc tượng v..v.. không làm cho tôi thoải mái và ham thích đến vậy.
   
    Hồi đó học chuyên nghiệp phải ở nội trú. Nội qui nội trú rất nghiêm ngặt trong tuần muốn ra ngoài ban đêm phải làm đơn cán bộ lớp chứng nhận đưa lên Thầy chủ nhiệm ký  sau đó trình lên ban giám hiệu đóng dấu cho phép. Khi ra cổng trường trình giấy phép mới được ra vào. Tôi trình bày hoàn cảnh mồ côi không có ai giúp đỡ ăn học nay có ông bác họ già cả không có con cái  hai người nương tựa nhau nên xin phép mỗi tuần được ra ngoài 3 tối để phụ Bác làm thêm kiếm tiền ăn học. Vì vậy mà tôi có được giấy phép dài hạn và thêm tối thứ 7 và ngày chủ nhật tự do nữa để vi vu với cái nghề mà mình thích.
   
     Vào những thập niên sau giải phóng thành phố Vinh vẫn còn đơn sơ và hoang tàn. Chiến tranh tàn phá không còn một căn nhà cao tầng như ngày trước. Mang tiếng là thành phố nhưng nhà cửa và đường sá không khác gì một thị trấn nhỏ heo hút. Chỉ có khu phố Quang Trung là khu phố do Cộng Hòa dân Chủ Đức đầu tư xây dựng là mang dáng dấp của thị thành còn lại các phường quận nhà cửa đều như nông thôn. Xe chở khách của công ty xe khách nhà nước chỉ phục vụ các tuyến xa còn việc đi lại giao thông trong cả thành phố chỉ có xích lô và xe ngựa là phương tiện chính. Hồi đó vẫn chưa có xe lam và xe ôm như trong Nam. 
   
   Vì vậy lực lượng xích lô và đặc biệt  xe ngựa   là một mảng cấu trúc phố thị không thể thiếu được. Hình thức giao thông bằng xe ngựa trở thành một nét đặc thù riêng biệt của thành phố Vinh. Trên mọi nẻo đường về các trung tâm giao thông hay đến chợ lúc nào cũng có tiếng lộc cộc ngộ nghĩnh hoang sơ của vó ngựa nghe rất thú vị.
   
    Tôi không biết hình thức giao thông bằng xe ngựa có còn tồn tại ở Vinh không? Nếu người ta nghĩ rằng hình thức đó làm mất vẻ cảnh quan của một thành phố hiện đại mà dẹp đi thì uổng phí đến nhường nào. Đó là một nét văn hóa cổ truyền rất đặc thù của thành phố nắng lửa này. Cũng như việc dẹp bỏ vạn đò ở Huế hay việc cấm xích lô vào nội thành của các thành phố lớn tôi có cảm tưởng như họ đã chôn vùi đi một  mảng của đời sống văn hóa cổ truyền. Sự phồn thịnh và văn minh của một quốc gia hình như không dính líu đến việc tồn tại những nếp sống và sinh hoạt có tính cổ truyền đó thì phải.
    
   Trong đêm tối bình yên chiếc xe ngựa treo ngọn đèn bão trên mui vó ngựa nước kiệu đều đặn gõ vào nền đường như một bản nhạc bình dị dân dã tay cầm ngọn roi thỉnh thoảng quất hờ vào không khí người lắc lư theo nhịp vó thong thả chạy vào những con đường hun hút bóng cây xà cừ ta sẽ có cảm giác như bồng bềnh trôi vào một miền cổ tích xa xăm nào đó. Nhất là những đêm trăng sáng đánh xe ngựa chở khách lỡ chuyến xuôi từ ga hay bến xe xuống phà Bến Thủy thì lại càng ngoạn mục và lãng mạn hơn. Sau này khi sang châu Âu ngồi trên những chiếc xe hạng sang như BMW Audi Mercedes...tôi thấy nó tù túng rất khó chịu cứ mê mẩn ước được ngồi lại vắt vẻo trên càng xe ngựa như ngày nào.
    
  Việc học hành ở trường không làm khó được tôi vì trường dạy nghề nên lý thuyết cũng không nhiều. Chủ yếu là thực hành tay nghề vì vậy tôi có nhiều điều kiện để theo Thầy học Y. Nhà Thầy cư ngụ ở phía nam thành phố trường tôi thì ở chót hướng đông ngoài bìa làng Hưng Dũng gần tận Hưng Hòa nơi dòng Lam chảy ngang qua. Thời gian đầu thì Thầy hay đến đón tôi. Nhưng sau vì theo Thầy học thiền hành vừa đi vừa tịnh tâm phá công án ngay trên sự ồn ào của Phố  nên Thầy không đi xe ngựa đến đón nữa khoảng thời gian đi bộ xuyên qua thành phố từ cửa Đông (Trường thi cũ) cho đến của Nam là khoảng thời gian tôi có nhiều gặt hái nhất trong nhận thức. Những kiến thức về y lý kinh mạch huyệt đạo trong những bài giảng của Thầy và đọc được trong y thư đều được tôi tổng hợp và khắc ghi vào trí nhớ trong những lúc trôi bồng bềnh đi qua phố như vậy.
   
   Thầy hiền lắm lại rất thương và chăm chút lo lắng cho tôi nhưng khi học thuốc và học Đạo thì rất khắt khe và khó tính. Trước khi tôi từ trường lên Thầy đã chuẩn bị xe ngựa chu đáo cho tôi cả rồi. Cho ngựa ăn cháo nếp và cỏ mật no căng đầy đủ trước khi tôi lên con Tía (tên con ngựa của Thầy) hí lên một tràng dài gõ móng liên hồi ra chiều thúc dục muốn chạy ngay. Lúc nào tôi cũng ôm cổ nó cạ cạ mặt vào cái bờm hung sẫm trò chuyện với nó mấy câu rồi mới vào nhà thỉnh an Thầy. Có lần Thầy thấy vậy trêu tôi: "Con lên đây vì con Tía chứ có phải vì có Thầy mô hỉ?"  Tôi chắp tay trước ngực  cúi đầu nói : " Mô Phật  Thầy lại chọc con rồi không biết sao con thương con Tía rứa không biết có nhiều khi khách đông năn nỉ ngồi thêm lên xe dù nể họ nhưng sợ con Tía nặng con không nhận  mấy người xe bạn cứ nhìn con nói con ngu mần ăn kiểu nớ có mà chết đói". Thầy không nói gì chỉ xoa đầu tôi. Thầy rứa đó rất ít khi Thầy khen tôi. Cho dù tôi có những biểu hiện khá phi thường trong việc học thuốc nhưng Thầy cứ xem như đó là một chuyện hiển nhiên bắt buộc chỉ khi nào Thầy rất hài lòng lắm mới xoa đầu tôi mà chẳng nói gì cả. Có lần tôi đột phá tanh banh cuốn Bát Pháp (tám phương pháp trị bệnh theo đông y)  đến tận ngõ ngách thâm sâu nhất chỉ trong vòng 2 tuần lúc khảo bài Thầy hỏi vặn đến đâu cũng không bắt bí được tôi cuối cùng Thầy cũng chỉ xoa đầu rồi bỏ đi pha trà. Tôi hậm hực trách Thầy sao không khen tôi giỏi Thầy nói: "Tính con hảo ngọt ưa khen  đó là cái bã làm cho bản ngã trỗi dậy trong sự phù phiếm của danh vọng con thích Thầy khen răng đây hỉ?" Tôi xuề xòa lả chả ôm vai Thầy pha trò:" Thì thỉnh thoảng Thầy khen một câu cho con có đà". Thầy cười: "Anh nhắc người ta khen anh thẳng thừng mà không biết ngượng miệng là chứng tỏ anh cũng hiểu được cái chất kịch độc trong lời khen rồi còn giả bộ đòi hỏi nữa mần chi ?". Tôi thừa biết Thầy rất hài lòng mới xoa đầu tôi nên thật sự cũng chỉ trêu Thầy thôi.
   
   Thông thường sau khi tra bài xong  tôi và Thầy phải qua thêm một thời tọa Thiền nữa  sau đó mới nghe bài giảng mới. Tôi ngồi kiết  già mắt nhắm hờ tâm trí hoàn toàn trống rỗng chờ nghe lời thầy giảng về y lý. Tiềng Thầy trầm bổng như  tiếng thì thầm đọc kinh vậy. Tôi tiếp thu y lý theo cách đó chứ không có sách vở gì cả. Hôm sau gặp lại Thầy không những phải nhắc lại những kiến thức mà Thầy đã truyền dạy mà còn phải tự đưa ra những chính kiến của riêng mình về vấn đề đó. Thầy nghe xong đính chính uốn nắn lại những định kiến sai lạc bổ sung thêm những thiếu sót. Học theo kiểu ấy thấu ngộ nhanh lắm nhưng thỉnh thoảng đầu cũng bị ong ong rất nặng nề. Tôi thì cứ khi nào Thầy đứng dậy đi pha trà biết là buổi học kết thúc phi nhanh ra nhảy lên càng xe nói với con Tía : Mình đi Tía. Con Tía quen lệ  tôi vừa nói xong là nó đã phì một tiếng như đồng lòng và cất vó lộp cộp nước kiệu đi vào mạn trung tâm thành phố. Một buổi tối kỳ tuyệt của tôi và con Tía trong thế giới của lớp người dưới đáy xã hội lúc nào cũng bắt đầu như vậy....
   
(Xem tiếp phần 2)
17.11.08
    
 
   
  

More...

LỠ TAY

By Lê Thuận Nghĩa

lỡ tay vuột mất ngày rồi
đành ôm trăng lạnh đắp lời gió rong
lỡ tay chạm một mé sông
giờ con sóng vỗ đục trong chân chiều
 
lỡ tay ngắt một nhành yêu
nỡ sao cắm giữa hoang liêu hồn mình
           
            
 
  06.11.08

More...

CÁI THÙNG ĐẠN ĐẠI LIÊN (2)

By Lê Thuận Nghĩa

Mùa hè 1978....
  
 .. Chiếc xe khách ì à ì ạch trên đoạn đường có thể nói là xấu nhất trên trục lộ 1. Con đường đã bị bằm nát trong chiến tranh. Sau giải phóng người ta vẫn chưa kịp tu bổ lại nên xe không thể chạy nhanh được. Tôi lên xe ở phà Bến thủy lúc chiều tối mà mãi cho đến tận gần trưa hôm sau xe mới tới được Đèo Ngang.
 
   
  Trên đỉnh  đèo có một bãi đất rộng hầu như xe nào cũng dừng lại để nghỉ ngơi. Ở đó có vài cái quán nước lèo tèo và có rất nhiều con nít bán sim. Sim chín mọng tím sẫm như những quả chuông nhỏ có lẽ bọn chúng vừa mới hái từ đâu đó quanh đồi mang lại. Nhìn những rổ sim tươi  đều rắp trăm trái như một mũm mĩm phơn phớt da như màu khói tai sim chưa khô quắt chúm chím như nụ cười ngộ nghĩnh tôi rất thích và mua một mớ nhỏ. 
Cầm đầu tai sim đưa trái sim vào miệng cắn cái bụp vị sim ngọt lừ bắn tứa vào lưỡi mùi sim nồng khắt mùi núi rừng xộc lên mũi làm cho mình có cảm giác lâng lâng rất khó tả. Gió từ dưới biển thổi trào lên giữa trưa hè trên đỉnh đèo mà cứ rười rượi đến đê mê. Tự nhiên tôi lại trở chứng "ma nhập". Vị sim gợi nhớ hương sắc của núi đồi trong kỷ niệm của tuổi thơ gió lộng rân rân trên mặt gợi cảm vô cùng. Bài thơ của Bà Huyện Thanh Quan chợt òa về trong tôi như một hơi thở thần tiên. Tôi bỗng sang sảng vung tay hào hứng đọc to lên như một thằng điên: "..Bước đến đèo Ngang bóng xế tà cỏ cây chen đá lá chen hoa....". Mọi người trố mắt lên nhìn kệ tôi cứ đọc tôi đọc hết bài này đến bài khác đọc hết thơ  của người này đến người kia từ Phan Thị Thanh Nhàn Lâm Thị Mỹ Dạ Hoàng Vũ Thuật cho đến Ngô Minh Xuân Quỳnh ....Trong đó có một bài thơ của ai tôi không còn nhớ nữa hình như là của Nguyễn Đức Lập hay là Nguyễn Quang Lập gì đó bài thơ có câu: "..Ai cũng gọi là đèo Ngang  nhưng con đèo thì chạy dọc..". Tôi cứ lẩm bẩm nhắc đi nhắc lại câu đó hoài cho đến khi mọi người hú gọi lên xe mới sực tỉnh lại. Lên xe ai cũng nhìn tôi lom lom. Tôi biết mình gây cho họ sự nghi ngại vì cái khùng khùng của mình nên hai tay xoa xuýt vào nhau nói: " Bà con thông cảm không phải cháu bị điên đâu mà thỉnh thoảng mới bị ma nhập vậy thôi". Có một cô gái cũng cỡ trạc tuổi tôi hay lớn hơn một tý cứ nhìn tôi tủm tỉm cười. Cô gái ấy sau này tôi tình cờ gặp lại trên một chuyến xe ngựa lúc tôi thay Thầy làm xà ích ở Vinh. Và cô ta đã góp phần không ít xô đẩy tôi vào dòng đời đầy giông bão.
    
    Vào những thập niên 70 việc thông tin liên lạc còn hạn chế lắm. Tôi về Ba đồn không báo trước  nên chị Cả rất bất ngờ cứ ôm lấy tôi mà khóc. Chị Cả nghiêm khắc khó tính nhưng hay khóc. Nạt nộ la mắng cũng khóc vui mừng cũng khóc. Tôi là đứa trẻ lớn lên trên đòn roi nhưng chẳng khóc bao giờ cứ thấy nước mắt là sợ đến sởn da gà. Chị Cả thương tôi lắm vì tôi là út ít mà không được nâng niu chiều chuộng như mấy đứa trẻ khác. Gặp lại tôi chị mừng mừng tủi tủi đem tôi đi khoe cậu út với tất cả mấy dãy nhà tập thể của CT thương nghiệp Ba đồn. Chị lo lắng chăm bẵm o bế tôi dữ lắm. Và cũng nhờ chị mà lần đầu tiên tôi biết thế nào là vị phở dù là phở quốc doanh của cửa hàng ăn uống không giống phở Hà nội như thầy Hồng kể nhưng mà hồi đó đối với tôi đã là một tuyệt phẩm của ẩm thực rồi. Ở Ba đồn với chị được dăm ngày thì tôi thấy chan chán vì tính tôi hiếu động tự lập từ nhỏ không quen sự chăm sóc đùm bọc âu yếm. Ở với chị phải tuân theo giờ giấc tắm rửa ăn ngủ rất tù túng. Một phần nữa vì chị quá gọn gàng sạch sẽ ngăn nắp mà tính tôi thì cẩu thả chây bửa nên làm khó chịu cho cả hai. Nhân một bữa tôi đi xuống dưới ngã ba Quảng hòa để tìm hỏi cái thùng đạn đại liên nơi mấy quán sửa xe đạp gặp việc lăn xả vào học nghề sửa xe luôn. Tối về mặt mũi lem luốc cái áo xanh sỉ-lâm chị mới may cho vương  đầy dầu mỡ. Chị mắng tôi một trận vì tội đi rong cả ngày và không biết bảo trọng áo quần. Lấy cái cớ đó làm mặt giận tôi bỏ Chị từ giã Ba đồn vào Cộn thăm Cô ruột tôi ở đó. Rời bỏ Ba đồn hôm đó nhưng sau này tôi lại lưu lạc về Ba đồn rất nhiều lần nữa cái duyên với Ba đồn vẫn chưa hết cho đến tận bây giờ vẫn còn dây dưa dính líu đến cái vùng quê đúng nghĩa chang chang cồn cát ấy. Cái vùng quê có phụ nữ đi chợ về chân nam đá chân chiêu và ăn cái gì cũng phải có bánh đa nướng. Cái vùng quê có cơm rượu ngọt lừ và nồng khắt đến lạ được ủ từ thứ men bí truyền của làng Thổ Ngọa.
    
 ..  Cô ruột có 3 thằng con trai thằng đầu trạc tuổi tôi đang học đại học kiến trúc ngoài Hà nội thằng thứ hai học ở học viện quân sự thằng út đang học lớp mười. Chồng cô làm việc bên quân đội nhà lúc nào cũng có xài đồ của lính tôi nghĩ chắc chắn là có cái thùng đạn đại liên. Tôi đoán quả không sai nhà Cô có đến 2 cái lận đều dùng để đựng đồ nghề sửa xe cộ. Tôi mân mê hỏi thăm cu Lượng (con út của Cô) xin một thùng. Cu Lượng hứa sẽ xin mấy chú bên Thành Đội cho tôi một cái. 
   
    Ở nhà Cô đến ngày thứ 3 chiều đó tôi và cu Lượng chơi tâng bóng trong nhà  vô tình tôi sút một cái quá mạnh trái banh đập  vào tường dội ngược lên bàn làm vỡ nát cái phích Trung quốc. Hai thằng hốt hoảng đứng sượng trân. Thấy cu Lượng tần ngần lo lắng tôi nói với hắn : - Mi cứ nói là tau làm có chi mô mà sợ O la. Chừ tau đi khi O về không chộ tau nữa là hết la. Nói xong tôi lại xốc cái ba lô lộn ngược lên vai ra đi. Cu Lượng chạy theo níu lại nói :- Rứa còn cái thùng đạn đại liên thì răng? Tôi nói : - khi mô mi kếm được cứ để dành đó tau ghé lại lấy. Lại giã từ Cộn- Đồng Hới tôi vào Quảng trị thăm anh Ba đang làm giáo viên ở đó.
    
   Số anh Ba cũng khổ bản tính thật thà hiền lành không biết nịnh bợ chạy vạy. Ra trường mới gần 2 năm mà đổi đi đổi lại mấy trường. Đầu tiên thì về dạy ở Triệu Tài được mấy tháng lại chuyển về Triệu Độ. Hết năm học lại chuyển về Triệu Trung. Được đâu mấy tháng  nữa lại chuyển xuống Triệu Trạch. Có nghĩa là anh cứ nhích dần từng tý một từ Triệu Tài gần trung tâm Thành Cổ nhích dần xuống  cho đến chót cùng dưới vùng biển hoang vu  toàn trảng cát và mảnh bom.
    
    Từ ga Thành Cổ xuống Triệu Trạch không có xe phải cuốc bộ. Vừa đi vừa hỏi đường gần cả ngày trời tôi mới đến trường của anh dạy. Thấy tôi  anh Ba cứ nước mắt ngắn nước mắt dài vừa nắm tay tôi bóp chặt vừa lắc lắc : "Răng mi vô không báo trước tau chỉ đường cho đi mi xuống ga Đông Hà rồi bắt xuồng máy chạy ngả Cửa Việt  là đi ngang qua gần đây nói họ ghé vô bến đi bộ cỡ một tiếng là tới".
    
    Có lẽ không kể tầng lớp vô gia cư đầu đường xó chợ  những người ăn mày ăn xin thì tầng lớp Giáo viên sau 75 ở vùng Quảng Trị là tầng lớp bần khổ cơ hàn nhất trong xã hội. Họ chỉ hơn những người tù đày cải tạo cái tự do nhưng lại thua người tù cái khoản đói no thất thường. Không phải chỉ ở Triệu Trạch mà mấy xã lân cận cũng vậy giáo viên được ở trong những khu nhà tập thể mái tranh vách đất. Các dãy phòng ngăn cách nhau bằng phên cót mỏng. Họ ăn bếp cơm tập thể có cấp dưỡng và quản lý hẳn hoi như kiểu công nhân nông trường hay trại lính ngoài Bắc thời chiến tranh vậy. Có cấp dưỡng nhưng lấy gì mà nấu. Trừ các Cô các Thầy đã lập gia đình mới được phép có bếp riêng còn hình như các Cô Thầy độc thân phải bắt buộc ăn bếp ăn tập thể thì phải. Bữa ăn tối  có khách từ xa đến là em ruột của một Thầy trong trường làm cho chị cấp dưỡng cuống cuồng cả lên. Thấy chị tất ta tất tưởi chạy vào trong xóm gom đâu được ít rau khoai và một mớ ngọn bí. Bữa ăn thật đạm bạc nhưng vui vẻ ấm áp.
   
   Ở tại trường anh Ba dạy tôi được chứng kiến một cảnh tượng rất thơ mộng như chuyện Tiên Dung và Chử Đồng Tử thơ mộng đến nao cả ruột. Cảnh một Cô giáo dạy xong một tiết học phải hớt hải chạy nhanh về để thay cái quần lụa đen còn lành lặn cho Cô giáo bạn mình mặc để lên lớp giờ kế tiếp. Có nhiều người sẽ cho rằng tôi bịa chuyện. Nhưng những ai đã từng là giáo viên trong giai đoạn này ở vùng Quảng Trị sẽ làm chứng cho tôi những chuyện tương tự như vậy.
   
   Ở chơi với anh Ba thêm mấy ngày một đêm nằm đọc sách trong căn phòng phên lá tôi nghe tiếng thì thào to nhỏ ngoài hiên sau của dãy nhà tập thể giáo viên. Tôi vạch lá nhìn ra thấy anh Ba đang nói chuyện với mấy đứa học sinh của mình. Có một đứa đưa cho anh Ba một gói khăn mùi xoa lùm lùm bằng bụm tay rồi thì thầm gì đó. Hồi lâu anh Ba vào cất cái gói ấy vào hộc bàn rồi đi đâu đó với mấy đứa học trò. Tôi nghi nghi trong bụng dậy mở cái gói khăn ra xem thì đúng như mình dự đoán anh Ba đi mượn gạo của phụ huynh học sinh. Hồi chiều thấy cái dáng băn hăn bó hó của chị cấp dưỡng tôi đã biết. Lúc ăn cơm các Thầy  Cô mới bới lưng bát ai cũng đứng dậy kêu no để nhường cơm lại cho khách. Làm sao mà họ qua mặt tôi được. Khoản gì không nói chứ cái khoản đói tôi có "kinh nghiệm giang hồ" hơn họ nhiều. Nhìn cái bọc gạo bằng khăn mùi xoa lòng tôi sắt lại mắt cay xè. Anh Ba sợ tôi đói nên khuất mình chịu lụy đi vào xóm làm "công tác dân vận" mà thậm thụt dấu tôi.
  
   Ngày hôm sau tôi từ giã anh Ba nói có việc vào Huế thăm mấy thằng bạn quen làm nghề rào dây kẽm gai hồi ở ngoài Vinh để nhân tiện kiếm luôn cái thùng đạn đại liên. Hồi đó nghề rào dây kẽm gai cũng hốt bạc lắm. Họ thâu lượm dây kẽm gai từ đồn bốt cũ nối lại từng khoanh nhúng vào nhựa đường chống rỉ rồi chở ra Bắc  hợp đồng rào khuôn viên cho nhà cửa hay cơ quan nhà nước. Tôi quen biết mấy đứa và có mách nước giúp chúng nó đánh lẻ rào vườn mấy nhà người quen nên bọn chúng mời tôi rất nhiệt tình vào thăm Cố đô.
   
   Anh Ba đưa tôi ra một bến đò gần Triệu trạch để ngược lên Đông hà. Tôi nhảy tàu từ ga Đông hà vô Huế. Đó cũng là chuyến tàu định mệnh để cho tôi nổi danh sau này với cái biệt hiệu mà bạn bè và người thân ban tặng là "đứa con của đường sắt" (anh Ba là người đặt biệt hiệu này cho tôi)
    
   Ga Đông Hà không nằm trong thị trấn mà nằm ngoài rìa ngoại ô  hướng Nam trên một vùng đất vẫn còn dư âm của chiến tranh rất đậm đặc đây đó vẫn còn lại bóng dáng của cứ điểm quân sự. Những cái hố đào bới sâu vào lòng đất nhộn nhịp như công trường xây dựng của những người sống bằng nghề bới rác. Họ lật tung các cứ điểm ngày xưa của Mỹ và Quân lực Cộng hòa để tìm kiếm những gì còn sót lại. Sắt thép vụn mảnh đạn bom áo quần đồ hộp trang thiết bị quốc phòng trang thiết bị cá nhân v..v..tất cả đều được móc lên và hóa thành cơm áo gạo tiền cho họ trong cái thời buổi khó khăn ấy. Xung quanh ga Đông hà phải nói có hàng chục cái "công trường" như vậy làm cho bầu không khí nát tan như thời chiến tranh.
   
  Tàu chợ từ mạn ngoài xình xịch chạy vào nêm chật cứng người trên trần tàu cũng la liệt hành khách đứng ngồi lố nhố. Dưới sân ga thì gần mấy trăm người cũng chen chúc lấn chỗ để nêm người tiếp lên trên con tàu như cái cối xay thịt. Con tàu với một dãy toa dài cà rịch cà tang nhưng có sức chứa vô tận. Nó vẫn cứ nêm người và oằn mình lúc lắc chạy như một con cuốn chiếu khổng lồ với hàng chân là những thân người toòng teng bám vào xung quanh nó. Tôi không thể nào chen nổi lên tàu nên đành phải bám vào thanh chắn cửa chỉ có một chân là len vào được trên bậc lên xuống.
   
   Trong cái cảnh chen lấn hỗn độn đó tôi phát hiện ra mấy thằng choai choai đang lén lút thò dao lam rạch ba lô của một anh Bộ đội. Tôi la toáng lên báo động. Mấy thằng nhanh như chảo chớp đu mình qua cửa sổ lộn người lên trần.
    
Vì bám nơi cửa tàu nên cứ đến ga tôi lại phải nhảy xuống nhường lối cho hành khách lên xuống. Khi tàu chạy lại bám tiếp. 
   
  Tàu đến ga Mỹ chánh thì trời nhập nhoạng tối tôi đang đứng vơ vẩn dưới sân ga thì có tiếng huỳnh huỵch của mấy người chạy đuổi nhau chưa biết chuyện gì xảy ra thì có người chạy va vào tôi và sau đó tôi nghe buốt nhói ở mạng sườn. Hóa ra là tôi bị mấy thằng rạch túi hồi chiều cho một dao dằn mặt. Không ai biết không ai thấy và tôi cũng không la lối om sòm lấy tay bóp chặt vết thương đu lên tàu và cố gắng lần vào trong. Vết thương không sâu nhưng máu chảy nhiều. Vào gần đến Huế thì cầm máu.
   
  Rạng sáng tôi lần theo địa chỉ của mấy thằng rào kẽm gai bên An cựu. Tìm đến được nhà tụi nó thì tụi nó đã đi Thanh hóa. Không quen biết ai ở Huế tôi đành phải lang thang một mình thăm Cố đô. Huế với Sông Hương núi Ngự trong truyền thuyết trong văn học. Huế với bến Vĩ dạ của Hàn Mặc Tử ở trong thơ lần đầu tiên tôi chứng kiến bằng mắt nên háo hức lắm. Tôi thăm hết Đại nội lại về Đập Đá qua thăm "lá trúc che ngang mặt chữ điền"  của Cụ Hàn. Tôi vốn học nghề Đúc nên mày mò lên tận Nguyệt Biều thăm tượng cụ Phan Bội Châu và xem phường đúc họ đúc xoong nồi nhôm như thế nào. Tối về theo chân tụi giang hồ đến đài Thương Bạc ôm gối ngủ. 
   
  Ngày hôm sau khi tôi muốn quay ra lại Ba đồn với chị Cả thì vết thương mưng mủ người gai gai sốt đến trưa thì cơn sốt lên cao cả người hầm hập mồ hôi vã ra như tắm. Đầu cứ biêng biêng ngầy ngậy mò sang đến bên đường Lê Lợi lết vào công viên gần trước trường Quốc Học leo lên ghế đá nằm nghỉ. Tôi thiếp đi bao lâu không biết khi tỉnh dậy thì trời đã tối. Lết lại ra đường vẫy xích lô lên ga. Vừa ghé chân định bước lên xe thì mắt mũi tối sầm đổ sụm xuống. Trước lúc thăm thẳm cuốn vào trạng thái mơ hồ tôi còn kịp thều thào dặn Bác xích lô : "- Có chuyện đừng đưa vào nhà thương chở cháu lên ga là được rồi". Nói xong tôi không còn biết gì nữa cả.
   
   Khi tỉnh dậy thì thấy mình nằm trong một căn nhà gỗ khá đơn sơ nhưng rất gọn gàng và tao nhã. Trên tấm phản gỗ rộng  choán gần nửa căn phòng tôi đang nằm thấy bày la liệt các chai lọ  và thuốc cây cỏ. Mùi thuốc Bắc nồng nồng gây cảm giác rất dễ chịu. Mở mắt nhìn đáo quanh một tý rồi tôi lại từ từ thiếp đi trong mệt mỏi.
  
  Khi tỉnh lại lần nữa   tôi nghe văng vẳng có tiếng chuyện trò từ phòng bên vọng lại. Tiếng một người đàn ông trầm đục thong thả nói: "- Thầy biết người ta là ai. Dù rằng cứu một mạng người còn hơn xây bảy cái phù đồ nhưng đưa về đây là rất nguy hiểm. Thân Thầy đang gặp trọng nạn dính dấp vào ân oán giang hồ càng lụy phiền thêm trong thời buổi mạt pháp ni". Tiếng một người đàn ông khác cũng có cái kiểu cách ăn nói từ tốn trầm đục như vậy trả lời:"- Bạch Thầy không phải là con muốn phiền lụy đến Chùa mình mà tại bởi chuyện quá cấp bách. Lúc chú Tư đưa chú nhỏ này đến cho con  thì đã trong tình trạng nguy cấp nên con không thể chối từ được. Chú Tư còn dặn chú nhỏ trước lúc ngất xỉu khẩn thiết yêu cầu không đưa tới nhà thương. Nên con mới lạm phép Thầy đưa vào đây chữa trị khi qua hết cơn nguy kịch con sẽ dàn xếp với chú Tư đưa xuống nhà Chú ấy ngay". Tiếng người đàn ông kia đáp lại: "- Mô Phật!  Thầy ở vai vế trưởng thượng gặp buổi loạn ly mà ra nông nỗi ni. Xin Thầy đừng xưng hô rứa Đệ không kham nổi tội bất hiếu mô đó là là đệ chỉ lo cho đạo huynh thôi"..
   
   Tôi không đoán được họ có quan hệ như thế nào vì người này gọi người kia bằng Thầy người kia cũng gọi người này bằng Thầy rồi lại xưng Huynh Đệ rồi lại xưng Thầy xưng con không biết đường nào mà mò. Nhưng tôi đoán là tôi đang ở tại một ngôi Chùa. Trong hai người đó có một người đang gặp nạn  mà người ấy chính là người cứu tôi. Việc cứu tôi và giữ tôi ở lại đây sẽ có gì đó đưa lại nguy hiểm cho họ nhất là cho ân nhân của tôi. Nghĩ vậy nên tôi trằn trọc không ngủ được thấy người đã tỉnh táo không còn sốt nữa. Tôi lấy mảnh giấy viết lại mấy chữ đại ý nói rằng cảm ơn sự cứu mạng và vì đã nghe lén được cuộc chuyện trò tối qua sợ liên lụy đến ân nhân nên đành từ giã hẹn ngày trở lại tạ ơn...đại khái na ná như vậy chứ tôi không còn nhớ rõ ràng là cụ thể là đã viết như thế nào. Viết xong găm mảnh giấy vào mớ thuốc bắc trên phản tôi len lén chuồn qua hàng rào tìm đường ra ga.
   
  Tàu chưa có nên tất cả hành khách phải ngồi đợi ờ ngoài sân ga. Tôi kiếm một góc khuất bên hè nhà ga lót cái ba lô lộn ngồi xuống nghỉ ngơi. Người không còn sốt nhưng vết thương lại nhức nhối dữ dội. Tôi chịu đau rất giỏi nhưng vết thương cứ nhói buốt thúc giật lên mạng sườn rất khó chịu. Nghiến răng bặm môi một hồi mồ hôi lại tứa ra dầm dề. Ngày xưa tôi có vài ba kinh nghiệm trấn áp những tình trạng bất lực của cơ thể rất hay. Đó là những kinh nghiệm tình cờ có được khi tôi dầm mình trên dòng Kiến giang để cho cá mương rỉa vết thương đòn roi hay là kinh nghiệm bình an sau cơn ngủ quên trên thuyền lặn cát thủa nào cũng như khi tôi lâm vào tình trạng mà tôi thường gọi là " ma nhập". Những lúc đó tôi có một tâm trạng kỳ dị hết sức. Đó là cái cảm giác lâng lâng bồng bềnh rất khoái lạc. Những lúc đó dù cơ thể ờ trong bất kỳ tình huống nào cũng đều có sự thoải mái thanh thản rất chi là hay.
  
  Để trấn áp cơn đau này tôi tĩnh lặng ngồi hồi tưởng lại tất cả cái cảm giác thống khoái đó. Sự hồi tưởng lại cảm giác kỳ diệu của cơ thể trong những lần có sự cố ấy đã làm nhẹ bớt cơn nhức đi rất nhiều. Tôi cứ miên man trong hồi tưởng như ngậm ngải an thần.
   
  Cho đến khi nghe bên tai có tiếng rầm rì như ai đọc chuyện tôi từ từ nhướng mắt ra nhìn thì thấy có một ông già ngồi bên cạnh đang nhắm mắt lim dim ngủ phía trước mặt ông ta có để một cái thùng đạn đại liên. Mắt ông ta nhắm nhưng miệng hình như lép nhép nói mơ điều gì đó. Tôi mỉm cười vì ngỡ mình hoa mắt nhìn nhầm vì mấy bữa nay lúc nào cũng nghĩ đến cái thùng đạn đại liên nên có lẽ trong lúc mơ màng mình vọng tưởng mà nhìn ra như thế. Nghĩ thế rồi tôi lại nhắm mắt trôi theo dòng hồi tưởng của mình.
  
  Nhắm mắt giữa mơ mơ thực thực tôi lại nghe tiếng rì rầm rỏ hơn. Tôi cố gắng lắng nghe đeo đuổi theo  xem cái tiếng tiếng rì rầm đó từ đâu phát ra càng lắng nghe lại càng thấy rõ nhưng không thể định hướng được từ đâu đưa lại có một điều kinh ngạc là khi tôi đeo đuổi theo tiếng rì rầm đó thì cơn đau lại nhẹ bớt đi và có khi không có cảm giác đau nhức nữa. Nhưng khi tôi lơ là để vuột mất tiếng rì rầm đó thì cơn đau lại trỗi dậy. Không biết tôi ngồi vậy bao lâu chỉ đến khi tiếng rì rầm kia chấm dứt và cơn nhức nhối của tôi hầu như đã biến mất tôi mới hoàn toàn tỉnh táo. Nhìn sang bên cạnh thấy Ông già vẫn ngồi đó  không nhắm mắt nữa mà nhìn thẳng vào tôi rất trìu mến. Đôi mắt của ông ấm áp đến lạ lùng. Thấy tôi mở mắt ra ngơ ngáo nhìn cái thùng đạn đại liên ông cười hiền lành hỏi :"- Có phải đó là cái thùng mà cháu cần không". Nghe giọng nói tôi nhận ra ngay là người đã cứu tôi trong Chùa hôm qua. Tôi mùng rỡ thốt lên:"- Bác là người cứu cháu hồi hôm à mà sao bác lại biết cháu cần cái thùng ni". Ông nở một nụ cười như nụ cười của ông bụt mà người ta thường kể trong chuyện cổ tích chậm rãi trả lời " - Thì hồi hôm cháu sốt miên man nói mê trong cơn sảng cứ ao ước kiếm cho được cái thùng đạn đại liên sáng ni đi tìm cháu bác lại tình cờ thấy nó trong đống sắt vụn người ta chở đi cân nên mua lại làm quà cho cháu đó thôi". Tôi sửng sốt nói "- Răng mà hay rứa hè cháu đi tìm mỏi mắt không có Bác không tìm mà lại có. Nhưng mà răng Bác lại quan tâm đến cháu rứa hồi hôm cháu nghe nói cứu cháu là nguy hiểm cho bác mà". Ông bình thản hỏi lại tôi "- Vậy theo cháu thì vì sao cháu tìm mãi cái thùng này không có mà Bác không tìm thì lại có". Tôi nhanh nhẩu trả lời "- Là tình cờ là bác có duyên bác tốt bụng nên trời thương". Ông cười khà khà "- Đó đó  vấn đề ở chỗ đó  bác quan tâm đến cháu vì chữ duyên". Tôi vốn đã thuộc nằm lòng cái cuốn "Phật Giáo Vấn Đáp" nên cũng họa theo "- Là thiện duyên Bác hỉ cháu đội ơn Bác suốt đời vì cái cú thiện duyên ni đây". Ông nghiêm mặt nói "- Ai đội ơn ai không quan trọng cái quan trọng là cháu có theo bác về để bác chữa lành vết thương cho đã ơn nghĩa mình bàn sau hỉ". Tôi không chần chừ nhận lời ngay "- Về nhà Bác phải không ạ".  "- Không! về Chùa mới có điều kiện chữa trị được" Ông ôn tồn trả lời.
  
   Tôi đứng dậy theo ông tay xách luôn cái thùng đạn đại liên nghiễm nhiên như đồ sở hữu của mình. Ông đưa tay vỗ nhè nhẹ lên đầu tôi  âu yếm "- Mình lên Chùa hỉ" . "Dạ" tôi trả lời và bình thản bước theo Ông.
   
   Vừa đi ông vừa hỏi tôi vì sao mà bị đâm vào sườn. Đã một năm học chuyên nghiệp trôi qua. Nhưng chuyện của tôi bạn bè trong lớp không hề biết. Tôi hầu như không kể cho ai nghe cái đoạn đời lao khổ thời thơ ấu của mình. Ngay cả mấy đứa bạn học cùng lớp 10 D đang học bên Sư phạm Vinh thỉnh thoảng có gặp nhau chuyện trò qua lại vậy thôi chứ bọn chúng cũng không biết gì hết. Việc kiếm cái thùng đạn đại liên chị Cả anh Ba cứ gặng hỏi để làm gì tôi cũng không nói. Vậy mà mới gặp Ông này có hơn một ngày Ông vừa mới hỏi vì sao tôi bị đâm vào hông thì tôi đã tuồn tuột kể ra hết ngọn nguồn. Tôi kể chuyện thời thơ ấu ra sao. Tôi kể chuyện vì tôi mà Ba tôi mất. Tôi kể chuyện trốn đi học chuyên nghiệp và chuyện mấy đứa vá xe đạp hứa cho tôi nhập băng vá xe ở phà Bến thủy và chuyện tôi vô tình hô hoán vạch mặt mấy đứa rạch túi nên bị chúng nó thù cho một dao dằn mặt. 
   
   Ông già lắng nghe tôi kể rất chăm chú đầu cứ gật gật chứ không hỏi gì cả. Khi tôi ngưng kể Ông mới hỏi cặn kẽ về tuổi thơ của tôi. Tôi có gì cứ nói nấy không một tý ngại ngùng. Khi tôi kể về Ba thì ông hỏi rất kỹ cứ hỏi xoáy vào việc Ba đánh đòn tôi một cách rất bài bản việc Ba đào luyện tôi trong công việc vất vả của người lớn nhất là việc Ba giấu cuốn sách của tôi như thế nào. Tôi kể tường tận từng tý một. Ông vừa nghe vừa gật gật nói: -" Có lý có lý người ấy không có duyên gặp Phật pháp để mà khai ngộ". Tôi không hiểu ông nói gì nên hỏi lại:- Bác nói rứa là răng con nỏ hiểu chi cả". Ông lại từ tốn "-Sau này trưởng thành rồi con sẽ hiểu".
   
   Đường lên Chùa phải vượt qua  dốc Bến ngự. Khi lên đến đỉnh dốc có ngôi Chùa thật lớn tên là Chùa Từ Đàm góc sân chùa có một cây cổ thụ lớn lắm. Tôi dừng lại đứng nhìn cây cổ thụ ấy như bị hút hồn. Ông già đến đứng bên tôi cũng thành kính ngước nhìn lên trên tán lá sum sê. Hồi lâu ông chậm rãi nói. "- Cây Bồ đề đấy cháu ạ. Nghe nói cây ấy lấy giống từ cây Bồ đề bên Ấn độ đem về đây trồng đó". Tôi hỏi: - " Cây Bồ đề bên Ấn độ là cái cây nơi Phật thành Đạo phải không Bác". Ông nói: "-Đúng rồi Bác đã hành hương tới đó. Cây Bồ đề hơn bốn ngàn năm vẫn còn sống cháu ạ". Tôi kinh ngạc thán phục thốt lên:-" Bác đến đó rồi thiệt hả mần răng mà Bác đi được." Ông cười "- à là hồi Bác mới thí phát qui y lận Bác làm thị đồng cho Sư phụ đi hành hương Tứ Đại Thánh Địa Phật Giáo bên ấy". Tôi trố mắt lên nhìn Ông thèm khát. Ông lại xoa đầu tôi."- Mai hậu cháu cũng sẽ có dịp ấy như Bác thôi". Tôi lại hỏi Ông "- Thì ra trước đây Bác là Thầy Chùa răng chừ bác không mần Sư nữa". Ông cười hiền lành "- Thầy Chùa là danh từ người tục thế dùng để nhạo báng khi nhắc đến Sư Sãi còn người trong Đạo chỉ xưng Thầy hay là Sư Thầy Thượng Tọa Hòa thượng thôi". Tôi nhắc lại "- Hồi hôm nghe cái ông kia gọi bác là Thầy có phải là vì bác là Sư Thầy không? Mà răng Bác cũng gọi ông nớ bằng Thầy lại xưng con". -" Người hồi hôm là Thầy Trụ Trì còn Bác trước đây là Tỳ kheo nhưng chừ đã hoàn tục nên phải xưng Thầy Trụ Trì là Thầy bác  chừ là tục gia nên phải xưng con. Cháu cũng vậy khi gặp người xuất gia nên gọi là Thầy và xưng con đừng xưng hô bác bác cháu cháu người trong Đạo nghe không quen". Tôi hỏi :" Rứa chừ cháu phải gọi Bác bằng Thầy và xưng con à?"  Ông cười ha hả "- Chứ răng nữa gọi rứa chứ răng nữa".
   
  Kể từ lúc đó cho đến sau này và có lẽ vĩnh viễn không bao giờ thay đổi tôi luôn gọi Ông bằng Thầy và xưng con.
   
   Rời chùa Từ Đàm chúng tôi lại đi tiếp về phía Nam giao. Sắp đến Chùa Ông dừng lại căn dặn tôi một số điều. Như khi gặp Sư Trự Trì thì phải chắp tay trước ngực cúi đầu và nói " A-di-đà Phật bạch Thầy ạ" . Chứ đừng có nói cháu chào Bác hoặc các Chú Tiểu có nhỏ hơn cũng phải làm vậy.
   
  Thầy tôi ( Ông ấy sau này là Thầy tôi) dẫn tôi vào Chùa giới thiệu tôi với Thầy Trụ Trì và chư Tăng cùng rất nhiều Chú Tiểu Khác.
 
   Thầy đưa tôi vào phòng hôm trước chữa bệnh cho tôi bảo tôi ngồi đợi. Thầy đi đâu khoảng độ hơn một tiếng đồng hồ. Khi về có dẫn theo chú Tư xích lô chở tôi hôm nọ. Giao tôi cho chú Tư chăm sóc căn dặn chú Tư mấy việc rồi Thầy lại đi.
  
   Chú Tư mặc áo lam cài khuy bên nách đến bên tôi cầm tay tôi mân mê lẩm bẩm: "- Thiệt là phước đức con thiệt là có phước" Tôi không hiểu gì gạn hỏi : "- Chú nói rứa là răng chú Tư cháu không hiểu". Chú Tư nói "- Thầy Chơn Tr. tính ngày gặp Pháp bảo i boong à". Tôi càng hồ đồ không hiểu ất giáp gì bực bực nói "- Chú cũng như Thầy cứ úp úp mở mở con không hiểu chi hết". Chú Tư ôn tồn: "- Ừ để Chú nói cho con nghe Thầy Chơn Tr. là một danh y trưởng Phái Thanh Long Thầy gặp trọng nạn muốn tìm học trò truyền nghề nhưng chưa có duyên. Tính ngày tính tháng thấy đúng cái ngày chú đưa con lên nhờ Thầy cứu thì thấy Thầy đã bày sẵn thuốc kim thang chờ cứu người từ ngày hôm trước rồi. Người mà thầy chờ cứu là con và sẽ trở thành học trò nối nghiệp của Thầy." Tôi sững sờ kinh ngạc thốt lên: "- hèn chi hèn chi..". Chú Tư cuống cuồng hỏi "- hèn chi răng". Tôi nói " - Thấy có cái thùng đạn liên là cháu thấy có chuyện ly kỳ rồi vừa thấy Thầy là cháu có cảm giác thân thuộc và gần gũi ngay". Chú Tư đắc ý nói :" Chứ răng nữa rứa mới gọi là có duyên có phước".
  
   Mấy hôm sau Thầy về tôi mân mê đến bên Thầy và ôm lấy tay Thầy nói: "- Con muốn qui y Tam bảo". Thầy hỏi "- Con đã hiểu được giáo luật của người Phật tử chưa". Tôi nói chú Tư dạy cho con hết rồi. Và tôi vanh vách đọc cho Thầy nghe và giải thích cặn kẽ Ngũ giới cho hàng phật tử được đà bao nhiêu hiểu biết xưa nay về Phật pháp tôi tuôn ra hết từ Tứ Diệu Đế cho đến Thập Nhị Nhân Duyên..Nghe một hồi Thầy bảo tôi đừng nói nữa đi tắm rửa sạch sẽ rồi lên Chánh điện lễ Phật.
  
  Chú Tư đến đưa cho tôi một bộ đồ lam như Chú đang mặc nhưng vừa khít với tôi. Chú ngắm nghía tôi một hồi rồi nói: " Con mang cái bộ áo Tràng ni có duyên lắm. Tôi theo Thầy và Chú Tư lên Chính điện. Ở đó đã có rất nhiều người có Thầy Trụ Trì Chơn T. mặc áo lễ màu vàng có thêm ba nhà Sư nữa cũng ăn mặc như thầy Trụ Trì Thầy tôi chú Tư thêm một người nữa cũng trạc tuổi như chú Tư và 7 chú Điệu có một chỏm tóc dài trên đầu tất cả đều mặc áo Tràng màu lam.
   
   Tất cả buổi lễ hôm đó được chuẩn bị từ trước để làm lễ Qui y cho tôi. Tôi được đặt cho Pháp danh là Quảng Nhẫn. Thầy tôi là Thầy Giáo thọ. Thầy Chơn H. to cao như hộ pháp mặt nhu đức Di lặc làm trợ giáo. Thầy Chơn Th. chịu trách nhiệm quản thúc tôi trong chuyện học hành giáo lý.
 
   Buổi lễ Quy y hôm đó tôi chưa tụng được kinh khi tiếng mõ tiếng sách vang lên mọi người theo thầy Trụ Trì chủ lễ đọc kinh kệ rì rầm theo giới luật của một buổi Qui y thì tôi chỉ biết nhìn các Chú Điệu đứng lên quì xuống như thế nào mà làm theo. Một lúc sau tâm thần tôi như chìm trong không khí huyễn hoặc của nhang khói và lời kinh. Rồi không biết vì sao tôi cũng rì rầm đọc nhưng chỉ mấp máy đọc theo tiếng rì rầm mà tôi cảm thụ được hôm Thầy tôi đọc cho tôi nghe ở ngoài sân ga.
  
  Cuối buổi lễ Thầy Trụ Trì đến bên tôi hỏi: "- Quảng Nhẫn học kinh Dược sư từ khi mô mà biết tụng giỏi rứa hè". Tôi trố mắt lên "- Bạch Thầy! đó là kinh Dược Sư a con đâu có biết trong đầu có răng thì đọc rứa thôi chứ con có học khi mô mô". Thầy tôi đứng bên cạnh bỗng nhiên cất tiếng cười rất giòn trước đây chỉ thấy Thầy mỉm cười chứ không thấy cười thành tiếng hôm đó thầy cười rất mỹ mãn. Cho đến những năm tháng sau này tôi không còn được nhìn thấy Thầy cười như vậy nữa.
    
    Ngày hôm sau Thầy Chơn Th. dẫn tôi lên thư phòng có thể gọi đó là Tàng Kinh Các cũng được. Tôi sững sờ mắt hoa lên nhìn những cái gáy sách chìa ra trên giá. Tôi vồ vập hỏi  Thầy Chơn Th. "- Con được phép đọc tất cả sách ở đây phải không Thầy". Thầy Chơn Th. tủm tỉm nói "- Tham đọc cũng là tham đó con". Nói xong Thầy chìa ra một chồng sách ân cần bảo "- Muốn đọc sách trên đó thì hãy đọc trước mấy cuốn ni đã nì" . Nhìn chồng sách chỉ có 5-6 cuốn gì đó tôi chủ quan:"- Bạch Thầy chỉ chừng nớ cuốn con mần 2 ngày là xong" . Thầy cười: "- Quảng Nhẫn tự ngã dữ hỉ". Tôi biết lỡ lời nên chỉ tay lên giá sách chống chế "- Bạch Thầy mấy cuốn sách trên nớ mần con náo nức quá mới rứa thôi". Thầy lại nói "- mê sách cũng là si đó con". Khổ rứa đó mới nhập môn chưa được mấy ngày mà tôi đã nổi tiếng Tham Sân Si rồi thì làm sao mà thấu ngộ đường huyền vi của Đạo.
  
    Thầy tôi lại đi đâu đó mấy ngày sau mới ghé lại. Tôi thì chỉ có buổi sáng và buổi tối theo các Chú Điệu lễ phật với hai thì công phu khuya và sớm còn tất cả thời gian còn lại đều ở thư phòng. Đọc mấy cuốn sách nhập môn Y học của Thầy Chơn Th. đưa cho không khó lắm nên tôi chỉ nắm các ý chính rồi lao vào giá sách quần thảo với mấy pho truyện chưởng. Hôm tôi đang say sưa với bộ Thần Điêu Đại Hiệp thì Thầy tôi tới thăm. Thầy không trách tôi lơ là mà hỏi tôi có cảm nhận gì về hai pho võ công trong Bộ sách liên hoàn của Kim Dung: Anh Hùng Xạ Điêu và Thần Điêu Đại Hiệp đó là pho Cửu Dương Chân Kinh và pho Cửu Âm Chân Kinh. Tôi đoán biết là Thầy khảo bài hỏi về hai pho võ công huyễn hoặc ấy chỉ là cái cớ. Vì vậy tôi cứ cái đạo Âm-Dương Ngũ hành trong Hoàng Đế Nội Kinh mà nói ứng dụng Ngũ hành Âm dương vào kinh mạch và huyệt vị cũng như lục phủ ngũ tạng. Với cái biệt tài kể chuyện chưởng của thời thơ ấu tôi phăng ra tá lả để giải thích hai cái pho Võ công của Kim Dung. Thầy lắng nghe một hồi rồi khen tôi có ngộ tính.
 
  Thấm thoát đã hết kỳ nghỉ hè tôi xin Thầy và Thầy Trụ Trì trở lại trường học. Hôm đó Thầy tôi mới kể cho tôi nghe tường tận về nguồn gốc của Y phái Thanh Long. Và đặt kỳ vọng vào tôi rất nhiều về việc phát huy sở trường cùa môn phái trong việc chữa trị bệnh tật cho người bạc phước. Thầy nói rất nhiều về duyên Sư đồ của chúng tôi. Thầy đánh giá rất cao về cách nhìn người của Ba tôi. Thầy nói Ba tôi đã biết trước tôi có cái số giang hồ cái số bần hàn chết đường chết chợ. Nhưng biết mài giũa tích Phước thì cãi được số trời vì vậy Ông mới khắc nghiệt trong việc  dạy dỗ tôi hồi thơ dại. Thầy nói tôi không có căn duyên xuất gia ăn mày cửa Phật vì còn mang nặng nhiều nghiệp trần phải trả. Nhưng biết khéo tu thân tích phước thì  không những thoát khỏi cái số ăn mày chết đường chết chợ mà còn làm được năm thứ Thầy của thiên hạ.  (Đến giờ tôi nghĩ mãi vẫn chưa ra tôi đã làm Thầy giáo dạy chữ làm Thầy thuốc thầy dạy Võ và Thầy Tử Vi - Phong Thủy nhưng còn thứ Thầy gì chưa làm nhỉ không lẽ là Thầy Chùa...?)
   
   Thầy dặn tôi cứ yên tâm học nghề. Còn việc học thuốc thì tùy duyên lúc nào đến hẵng hay. Việc tôi Quy y theo Thầy học thuốc phải tuyệt đối giữ bí mật. Vì thời buổi ly loạn Thầy đang phải trốn tránh trút áo tăng lữ để nhập thế vào đời nên chưa phải lúc để khuếch trương môn phái.
  
  Tiễn tôi ra ga trở lại Vinh có Thầy và chú Tư. Tôi bùi ngùi chia tay Thầy nhưng trong lòng thật thư thái. Hình như phía trước mặt có một con đường tràn ngập ánh sáng bình yên đang chờ đón tôi. Và từ ngày đó tôi bắt đầu sống một cuộc sống của hai thân phận. Cái thân phận của đời thường hỉ nộ ái ố thường tình với người thân và bạn bè xung quanh như một đứa trẻ mới lớn chập chững bước vào đời. Một thân phận lẩn khuất chìm lắng nhưng dịu ngọt và an lành với Thầy tôi.
  
(Hồi ức kỳ sau: In dấu Giang hồ )
 
30.10.08
Quảng Nhẫn Lê Thuận Nghĩa.

More...

CÁI THÙNG ĐẠN ĐẠI LIÊN (1)

By Lê Thuận Nghĩa

Hè năm 1978
   
  Với cái ba lô lộn ngược vắt vẻo trên vai đầu đội cái mũ dạ tá chân đi dép sam-pô 4 phân mặc cái áo bay Nga quần pho ống đứng ly lật tôi như một tay chơi thứ thiệt. Những thứ tôi mặc trên người hồi đó là cái mốt rất thời thượng của lớp trẻ đàng hoàng ở thành phố Vinh. Còn thanh niên hơi bụi một tý thì lại có cái mốt cao cấp hơn. Cái mốt thịnh hành của những tay chơi phía Bắc đó là quần áo lính Tô Châu rộng thùng thình dép nhựa Tiền phong mũ cối chính gốc của Trung quốc.
  
Thời đó là thời của vải ka-tê may áo vải pho may quần thời của tông Lào thời của thuốc Jet và A đỏ. Những thớ đó chỉ thích hợp với tầng lớp trung lưu và dân thành thị. Còn đã là tay chơi chính thống thấp thì áo bay (áo bay này màu cứt ngựa của Phi công Nga chứ không phải áo Pi-lốt của lính Mỹ) mũ dạ tá (mũ dạ dành cho cấp tá trong quân đội). Còn cao thì  phải là đồng phục Tô châu dép nhựa trắng Tiền phong mũ cối thế mới gọi là sành điệu.
   
 Bộ đồ tôi sắm sửa được để mặc là nhờ vào cầu một quả buôn nước bọt trút một xe hàng quá cảnh Lào cho Mẹ thằng bạn học  có sạp la-ghim trên chợ Vinh. 
      
Sắm được bộ đồ vía trong túi lại rủng rỉnh chút đỉnh tôi hoan hỉ xúng xính xuống phà Bến thủy bắt xe về quê trong dịp nghỉ hè.
  
  Dạo đó tôi cũng đã có tý kinh nghiệm nhảy tàu lậu vé nhưng vì ở quê không còn ai. Khi Ba mất anh Hai lại đi học lớp Kế toán Tài chính. Anh Ba thì vẫn đi dạy trong Quảng trị. Chị Cả thì làm việc ở Ba- đồn Dì thì chuyển về quê ngoài Phú thủy. Bởi vậy mà những ngày hè đầu tiên tôi tìm về Ba đồn với chị Cả. Về Ba đồn đi tàu rất bất tiện vì  đường tàu chỉ chạy ngang vùng Quảng hóa trên rừng. Đi xe thì qua khỏi Ròn là tới.   
    
  Tôi xuống phà Bến thủy nơi mà tất cả các xe từ Bắc vào Nam phải dừng lại đợi Phà hoặc đợi cầu phao. Lúc đó là lúc thuận tiện nhất để gạ gẫm xin quá giang.
   
   Bên này Bến thủy là núi Quyết nơi vua Quang Trung định dời đô từ Phú xuân ra nên gọi là Phượng Hoàng Trung Đô. Bên kia là bắt đầu chân núi Ngàn Hống (Hồng Lĩnh). Dãy núi có chín mươi chín ngọn theo truyền thuyết là nơi mà thời thượng cổ Vua Hùng cũng định đóng đô ở đó. Chuyện cổ kể lại rằng Khi Vua cho dời 100 ngọn núi về trong một đêm. Ngọn núi thứ 100 chưa kịp chuyển đến thì chim Phượng hoàng gáy báo sáng nên công việc bị lỡ dỡ. Hòn núi để lại bên này sông gọi là núi Quyết. Vua Hùng thấy không đủ duyên nên không đóng đô ở đây nữa. Chẳng biết vì sao cái vùng đất linh thiêng sông núi hùng vĩ thế mà không có cái tượng Đế Vương để rồi Ông vua nào cũng chỉ có ý định dời đô đến đó rồi sau lại thôi.
   
   Phà Bến thủy một trọng điểm oanh tạc của máy bay Mỹ thời chiến tranh. Phà Bến thủy cầu Hàm rồng ngã ba Đồng Lộc là những nơi xảy ra những trận chiến đất đối không có lẻ là dai dẳng nhất ác liệt nhất và rùng rợn nhất trong lịch sử chiến tranh của nhân loại. Phà Bến Thủy nơi tôi bắt đầu chớm bước vào giang hồ nơi có mối tình đầu của tôi nơi có 3 lần tôi đã nhìn thấy thần chết nơi lần đầu tiên tôi dính dáng đến pháp luật nơi tôi đáng để kiêu hãnh và cũng là nơi tôi nếm mùi tủi nhục 
   
  Ngày tôi rời khỏi Việt nam Bến thủy chưa bắc cầu đến bây giờ tôi vẫn chưa một lần nhìn thấy cái cầu đó như thế nào. Hồi đó khi vào mùa nắng hạn thì xe cộ và người xuôi ngược bằng cầu phao vào mùa mưa lụt thì qua lại bằng phà.
   
   Cầu phao được nối bằng một dãy phà bằng sắt lại với nhau. Từ bờ Bắc đến bờ Nam dài hàng mấy trăm mét chiếc cầu phao bập bình ấy chỉ toàn bằng sắt. Xe từ trong ra phải đợi xe từ ngoài vào hết lượt. Rồi xe từ ngoài vào phải đợi hết lượt xe từ trong ra mới chạy được. 
   
  Còn về mùa mưa lũ dù có chạy mấy phà qua lại đi nữa thì cũng không thể nào đáp ứng được lượng xe lưu thông. Có khi con nước lớn xe ùn tắc xếp hàng dài hàng mấy chục cây số. Xe đợi từ ngoài đi vào trong có khi dài qua khỏi thành Vinh ùn tắc ra tận cầu Rầm ngoài Diễn châu.
   
   Nơi nào có cánh lái xe tụ hội là nơi đó có chuyện chẳng lành là nơi xảy ra thường xuyên chuyện bất lương. Cho nên phà Bến thủy trở thành một cái chợ Giang hồ.
   
   Tôi định lợi dụng khi xe dừng lại đợi phiên qua cầu phao để xin quá giang vào Ba đồn. La cà gạ gẫm hết cả một ngày mà vẫn chưa bắt được xe vào. Sang ngày thứ 2 hơi thất vọng tôi mon men đến chỗ mấy đứa vá xe đạp ở đầu cầu ngồi xem tụi nó làm. Tụi nó khôn thật chọn cái địa điểm vá xe rất đắc địa. Thời đó xăm lốp rất hiếm lại toàn đồ dổm. Chiếc xe đạp nào cũng bó lốp như bó bánh tét xăm thì vá hàng chục chỗ. Trời mùa hè ở thành phố Vinh thì khỏi phải nói nắng và gió lào nóng đến sợ. Cái cầu phao bằng sắt hấp nắng nóng như chảo rang. Xe đạp dắt qua đó khác nào như bị nung hấp vậy là xì xẹp hết. Mấy thằng vá xe làm không hết việc. Thông thường bọn sửa chữa vá xe đạp hay vá chỗ này đâm chỗ kia để kiếm thêm việc. Riêng mấy chú ở phà Bến thủy không cần đến cái thủ thuật đó vẫn không làm hết .
   
    Thấy mấy thằng múa chân múa tay như chớp mà khách chờ quá đông tôi cũng lăn xả vào giúp một tay cho vui đỡ ngồi sốt ruột. 
    
 Chiều về hơi vãn khách mấy thằng thấy tôi lụi cụi với tụi nó mà không đòi hỏi gì chúng hỏi tôi thuộc băng nào dạt vòm về đây làm ăn tôi nói tôi là học sinh nghỉ hè xuống đây bắt xe về quê mà chưa được. Mấy thằng nhìn tôi cười hô hố nói: " cái mặt mi thì hiền như bột ăn mặc thì như người của công ty 2 ngón mần răng mà xin được xe một là mi như nhà quê người ta thương tình người ta cho đi hai là mi bặm trợn như ăn cướp người ta nể sợ mà cho đi nhờ đằng ni mi nửa dơi nửa chuột ai mà cho mi đi mấy thằng lái xe ưu tiên nhất là gái nhì là tiền thứ ba là chấn lột mi không phải là gái  cũng không có tiền cũng phải là chấn lột cứ chú ơi chú cho cháu đi nhờ vào Ba đồn thì đến rằm cũng không xin được xe". Tôi hỏi : - Chừ mần răng? Tụi nó nói : - Mi thay bộ đồ nớ đi tướng mi không làm chấn lột được mô để đến tối rảnh rảnh bọn tao kiếm xe cho. Cảm ơn tụi nó rối rít tôi lại lân la hỏi: Răng chỗ ni mần ăn được mà người ta không đến đây sửa xe hỉ chỉ có tụi bay thôi? Chúng nó thì thầm : - Có phải ai cũng được làm đây đâu phải nộp "thăn" (nộp tiền phạt hay tiền bảo kê cho đầu nậu) mới được yên mà làm ăn đó chứ. Tôi hỏi nếu tôi xin làm cùng với tụi nó có được không chỉ làm chủ nhật kiếm thêm tiền học thôi. Chúng nói không được nhưng nếu có cái thùng đạn đại liên để đựng đồ nghề "cúng tổ" thì tụi nó cho làm ké ngày chủ nhật.
  
  Tối đó tụi nó nhờ một thằng đầu nậu ép một chiếc xe khách liên vận của hãng Tiến Lực trong Nam cho tôi quá giang vào Ba đồn với một cái giá rất phải chăng. Chia tay với tụi nó tôi hứa tôi sẽ kiếm được cái thùng đạn đại liên để được vào hội vá xe  mấy thằng cười nói : - Răng mi thiệt thà rứa có Ông Tổ vá xe mô mà cúng cúng là cúng cho tụi tau đó thấy mi ham rứa thì khi mô ra đây lại xách cái thùng đại đại liên đến đựng đồ nghề mà làm.
   
   Tôi lên cái xe khách chật cứng như nêm lòng cứ nghĩ về cái thùng đạn đại liên có nó tôi sẽ không còn lo về vấn đề tiền bạc cho mấy năm học sau này nữa...
  
17.10.08
(còn tiếp phần 2)
________________
TN rất bận chỉ post bài đã soạn thảo không kịp trả lời comment mong quí bạn hữu thông cảm

  

    
   
 

More...

NUỐT NGƯỢC VÀO TRONG (Tiếp Thời Hoang Dại)

By Lê Thuận Nghĩa

Tỉnh hợp nhất
Huyện hợp nhất
Hợp tã xã hợp nhất
Cả ba thằng chúng tôi hợp nhất
Bụng cồn cào ngắm trăng Mỹ trạch
Nước dưới chân cầu róch rách
Bụng ba thằng róc rách
Đệm nhạc cho ước mơ
Nếu một mai tung cánh bốn phương trời
Có thằng nào hiển hách
Hãy nhớ thời cơ cực bây giờ
 
  Đó có phải là bài thơ đầu tiên của tôi hay không tôi không còn nhớ nữa. Nhưng chắc chắn đó là bài thơ xuất khẩu đầu tiên mà tôi có ghi lại trong cuốn vở tập viết của tôi.
 
  Bụng ba thằng róc rách... Ba thằng đó là tôi thằng Diệu và thằng Thiên. Hôm đó ba đứa làm xong công việc ở lò gạch rủ nhau xuống tắm sông. Đêm  tháng 5 trăng sáng đẹp lắm. Cả ba thằng mò lên đứng trên lan can cầu Mỹ trạch nhìn xuống dòng sông Kiến giang lấp lánh dưới ánh trăng lượn lờ uốn khúc trôi về phía Xuân bồ. Thằng Thiên thở dài ngao ngán nói :
- Thanh niên chúng mình đáng ra lứa tuổi này phải nói chuyện dời non lấp bể chứ có phải suốt ngày cứ nghĩ đến cái đói như thế này đâu. 
  Câu nói đó của thằng Thiên làm tôi và thằng Diệu gật gù tán thưởng là chí lý. Tôi có cảm hứng và xuất khẩu nên bài thơ trên.
  
   Học hết học kỳ 1 tôi bỏ học. Tỉnh hợp nhất 3 tỉnh cũ Quảng bình Quảng trị Thừa thiên thành Bình- Trị- Thiên. Huyện hợp nhất 2 huyện trù phú nhất miền trung (nhất Đồng nai nhì hai huyện) là Lệ thủy và Quảng ninh thành huyện Lệ-Ninh. Theo phương châm đó các đội trong HTX  hợp thành một đội. Các HTX nhỏ kết hợp thành HTX lớn. HTX gạch- ngói- vôi Lệ-bình cũng kết hợp với hai HTX thủ công nghiệp khác là một HTX vận tải đường sông và một vạn đò chuyên hành nghề sông nước thành một HTX mới và chọn một lòi đất hoang nơi miền trung du chớm dưới dãy Trường sơn làm nơi đóng đô. Hợp nhất mưa lũ hợp nhất hạn hán hợp nhất gió lào và hợp nhất đói khổ.
    
   Gia đình tôi và một số gia đình khác gắn bó với HTX từ hồi mới thành lập cũng rời bỏ Xuân thủy để chuyển dời về địa điểm mới  gần cầu sắt Mỹ trạch chiếc cầu rất nổi tiếng trong lịch sử chống Pháp nơi xảy ra trận chiến mà 500 lính Lê dương phải vùi thây trong một lúc (Trận Xuân bồ). Và đó cũng là thủ phủ của Đại đoàn Trường sơn (Sư 559  do ông Đồng Sĩ Nguyên làm sư trưởng) trong chiến tranh chống Mỹ.
   
   Chúng tôi vừa chặt cây vỡ đất khoanh vườn làm nhà vừa xây dựng lò gạch và lò vôi để tiếp tục sinh tồn. Tôi thì đã bỏ học nên trở thành xã viên chính thức. Còn thằng Diệu và thằng Thiên buổi sáng vẫn phải cuốc bộ về Xuân thủy tiếp tục học buổi chiều cũng phải phụ giúp gia đình làm thêm công điểm.
   
    Trong thời gian đó thầy Hồng qua thằng Diệu vẫn gửi bài vở cho tôi học và ôn thi. Thầy lo toàn bộ hồ sơ xin thi tốt nghiệp phổ thông  theo diện thí sinh tự do cho tôi  trong đó có cả việc khai báo hồ sơ dự thi vào đại học nữa.
   
    Thời đó khai hồ sơ thi vào đại học là cả một vấn đề rất cam go. Có hàng chục mẫu đơn phải điền trong đó có phần khai lý lịch là quan trọng nhất. Lý lịch khai từ đời ông cố cho đến cha mẹ anh chị em. Ai sinh năm nào lớn lên ở đâu năm nào học ở đâu làm gì tất cả phải thật cụ thể nếu sai sót một chi tiết nhỏ thì ban kiểm duyệt hồ sơ loại bỏ ngay. Bản khai lý lịch khi gửi lên Phòng Giáo Dục thì sẽ được đóng vào phong bì gửi tới cho từng Ủy ban Xã xác nhận đóng dấu trong chế độ bảo mật.
  
    Thầy Hồng qua thằng Diệu liên lạc với tôi để hoàn tất hồ sơ. Có vấn đề rắc rối là việc tôi ôn thi tốt nghiệp phổ thông và ôn thi đại học phải tuyệt đối bí mật. Vì hồi đó sau cái vụ Ba đốt sách tôi cứ nghĩ là Ba sẽ ngăn cấm không cho tôi thi nữa. Mà trong hồ sơ phải khai quá trình hoạt động của Ba và Mẹ. Tôi thì không dám hỏi Ba cho nên cứ lần lữa hoài mà hồ sơ vẫn không khai xong. Cuối cùng nghĩ ra được cái kế nói với Ba là làm hồ sơ phấn đấu vào Đảng nên cuối cùng cũng qua lọt được.
   
   Tôi qua được kỳ thi phổ thông nhờ vào một thời gian luyện chữ rất cam khổ. Ngày đi thi đại học lại phải lập mưu nói với Ba là đi rừng đốn củi ở lại. Vì hồi đó phải đi xuống tận dưới Đồng hới vừa đi vừa về  vừa thi cử phải mất 3 ngày lận.
   
   Tôi đăng ký thi vào trường Đại Học Lâm Nghiệp Đông Triều nơi có thằng Hào Tờn bạn nối khố của tôi đang học nguyện vọng 2 là trường Giáo viên Dạy Nghề ở Vinh. Thi 3 môn tôi được 13 5 điểm. Điểm chuẩn vào Đại học Lâm nghiệp là 15 điểm. Tôi trượt vào đại học nhưng đủ điểm chuẩn để vào học trường Dạy nghề.
   
   Giấy báo nhập học do thằng Diệu đem về. Đêm đó tôi và thằng Diệu cùng thằng Thiên thức trắng đêm tại nhà O Hằng bàn cách để làm sao cho tôi được đi mà Ba không cấm cản. Cuối cùng cả 3 thằng quyết định là bí mật ra đi không cho Ba biết.
   
   Ngày đó Ba đã yếu lắm rồi. Ba bị viêm dạ dày mãn tính và áp suất máu cao. Suốt ngày chỉ ôm gối nằm trên giường. Bà nội thì xuống ở với Cô ruột dưới Đồng hới. Dì có em dại tính tình lại thay đổi chửi bới càm ràm suốt ngày. Cuộc sống đói kém khó khăn lắm. Nếu tôi bỏ đi không có ai làm công điểm đời sống gia đình nhất định sẽ gặp nguy. Tôi có nghĩ đến điều đó. Nhưng vì những cơn đói dày vò dai dẳng vì cuộc sống quá lao nhọc đời sống tinh thần bị đọa đày tôi vẫn quyết tâm thoát ly. Tôi nhờ thằng Thiên xuống dưới huyện đánh cho anh Hai một cái điện tín. Anh Hai đã xuất ngũ và đã nhập học ở trường Đại Học Xây Dựng Hà nội theo cái giấy báo trước ngày nhập ngũ. Chính vì cú điện tín ấy  khi biết tôi bỏ nhà đi học chuyên nghiệp anh Hai sợ Ba ở nhà không có ai chăm sóc nên bỏ học về quê. 
   
   Ai đi học chuyên nghiệp hay đi thoát ly dù nhà nghèo đến đâu cũng có một cuộc liên hoan chia tay chòm xóm. Tôi thì không. Ngày mai đi hôm nay vẫn đi đốt gạch bình thường. Đồ đạc giấy tờ và mấy cuốn sách bất ly thân gửi ở nhà thằng Thiên. Tất cả chuẩn bị sẵn sàng chờ đến ngày là ra tàu biến.
  
   O Hằng (mạ thằng Thiên) và O Phức ( mạ thằng Diệu)  thương tôi như tụi nó nên cũng hùa theo tôi. Dù bọn tôi có thậm thà thậm thụt nhưng làm sao mà qua mặt được. Các O biết nhưng không nói ra thôi. Tôi ky cóp tiết kiệm được hai đồng mốt. Trước ngày tôi đi O Hằng cho một đồng rưỡi. O Phức cho hai đồng và O Phô mạ thằng Ngọc  cho đến 3 đồng. Tổng cộng tất cả được tám đồng sáu. Tám đồng sáu (8 6 đồng) hồi đó cũng lớn lắm rồi vì đồng tiền to nhất thời ấy cũng chỉ là đồng 10 đồng có hình Bác Hồ mà dân nghèo ít khi thấy được họ chỉ  có thành kính mơ ước gọi tờ mười đồng là đồng Cụ Mượt mà thôi.
    
   Tàu chợ xuôi ra Bắc đậu ở ga Mỹ trạch vào 4 giờ chiều. Tôi đã chuẩn bị sẵn sàng. Giấy tờ sách vở và mấy cái quần đùi một bộ áo quần cũ chưa rách tất cả nhét vào một cái bao cát (bao đựng cát xây phòng tuyến trong chiến tranh) để đằng nhà thằng Thiên. Buổi sáng tôi vẫn đi làm ngoài lò gạch đến 2 giờ chiều tôi nói với mọi người là đau bụng xin nghỉ để ra tàu đi. Trước lúc đến nhà thằng Thiên lấy đồ tôi tạt qua nhà thăm Ba lần cuối. Tôi không có ý định nói với Ba chỉ là muốn thấy Ba lần cuối trước khi đi thôi. Về nhà không thấy Ba đâu cả tôi tưởng Ba sang mấy nhà hàng xóm chơi nên chạy tìm khắp mà không thấy đành ngậm ngùi ra đi. Đến nhà thằng Thiên lấy cái bao cát đựng đồ thì thấy con Lý em thằng Thiên đang đợi sẵn hối tôi:- Nhanh lên anh Nghĩa tàu sắp tới rồi đó. Chụp cái bao cát nó đưa tôi lao về hướng ga.
   
   Đến đầu chân cầu Mỹ trạch trên con đường ra ga tôi thấy Ba đứng đó chăm chắm nhìn dọc theo đường tàu với đôi mắt vô hồn. Tôi sững sờ đứng khựng lại. Ba thấy tôi không tỏ vẻ gì ngạc nhiên cả ôn tồn nói : - Con không có cả đôi dép mà mang à đi học chuyên nghiệp mà đi chân đất rứa không sợ người ta cười hỉ ? Tôi ấp úng vì bị bắt được quả tang. Thấy tôi lừng khừng Ba tới vuốt tóc tôi nói : - Ba biết hết từ lâu rồi chỉ là Ba không nói thôi con có chí rứa là tốt sau ni mới nên người được đúng là con nít mà có cái gì mà qua mặt được người lớn hở con. 
   
  Ba đưa cho tôi một cuốn sách cuốn sách 2 năm về trước tôi bị mất cuốn sách mà làm tôi ấm ức khóc mấy ngày vì tiếc nuối hóa ra là Ba đã lấy của tôi giờ mới trả lại. Cuốn Phật Giáo Vấn Đáp không còn bìa  có ghi năm xuất bản là tháng 6 năm Nhâm thìn Lịch Phật 2515 do Ngài Hải Thi Đạo Nhân ghi chép lại. Thấy cuốn sách tôi lại ấm ức lần nữa nói:- Té ra là Ba ăn cắp của con. Ba mỉm cười gõ lên đầu tôi : - Có ai là con cái mà nói cha mẹ ăn cắp đồ của con bao giờ ba chỉ tạm cất giữ cho con thôi vì cuốn sách đó chưa hợp với tuổi con cái tuổi của con đọc nó chỉ làm cho tâm tính yếu hèn đi thôi chứ không có ích gì nên mới không muốn cho con đọc trong cuốn sách Ba có kẹp mấy thứ giấy tờ cần thiết con coi cẩn thận kẻo mất. 
   
   Tôi nhìn Ba trân trân hóa ra xưa nay ông rất quan tâm đến sự học hành của tôi. Việc đốt sách vở chỉ là cái kế khích tướng cho tôi tập viết mà tôi không hề nghĩ ra tâm ý của ông. Cho đến khi tôi định thoát ly vẫn còn ôm hận mà  đi không cho Ba biết ai dè Ba đã đứng đợi tôi từ trưa nơi con đường ra ga này rồi. Ba móc ra mấy tờ bạc nhàu nát chỉ là tiền hào ước độ vài ba đồng gì đó định đưa cho tôi. Nhưng tôi chối đây đẩy nói là mọi người cho nhiều lắm rồi Ba giữ lấy mà phòng thân. Ba nghiêm mặt lại định quát tôi phải cầm nhưng vừa lúc đó có tiếng còi tàu từ xa vọng lại tôi sợ trễ tàu nên vùng chạy về phía ga vừa chạy vừa ngoái đầu giơ tay vẫy vẫy : - Con đi nhé Ba nhớ giữ gìn sức khỏe đấy.
   
  Tàu chạy ngược lại phía cầu tôi vẫn thấy Ba đứng đó bên mố cầu tay cầm mấy tờ giấy bạc nước mắt dàn dụa trên khuôn mặt khắc khổ của Ông. Tôi bám tòng teng bên cửa hông tàu  gọi với xuống : - Ba về đi  nhớ giữ gìn sức khỏe mai mốt con về. Ba cũng hét lên trên tiếng xình xịch kót hét của đường ray : - Hay là con ghé lại Đồng hới thăm Mệ (bà) và O rồi xin  thằng Văn thằng Lượng mấy bộ quần áo mang theo mà mặc.... Tôi giơ tay lên cao thành nắm đấm rồi kéo giật xuống làm một cử chỉ đầy bản lĩnh  hét vọng lại : - Ba yên tâm thằng con của Ba không cần nhờ cậy ai đâu mà sẽ nên người. Tàu chạy từ từ ra xa tôi thấy Ba ngồi thụp  gục đầu xuống bên mố cầu. Một mối thương cảm chợt trào lên lòng tôi. Tàu đang chạy chậm vì qua cầu tý nữa là tôi đã nhảy xuống và quay trở lại. Hình như số mệnh đã an bài. Nếu như tôi nhảy tàu quay trở lại thì có thể Ba không chết. Và cái buổi tiễn đưa đó hình bóng của Ba như đổ sụm xuống bên đường tàu không phải là hình ảnh cuối cùng của Ba trong tôi.
   
   Tết đó tôi không về từ Vinh vào Lệ thủy không xa mấy. Nhưng hồi đó tôi chưa có kinh nghiệm "nhảy tàu". Lại không có tiền nên không thể về được. Một mình tôi ở lại với cả một khuôn viên trường Giáo Viên Dạy Nghề rộng lớn ở làng Hưng Dũng phía bắc thành Phố Vinh. Ngày xưa dù nhà nghèo nhưng ba ngày Tết bao giờ cũng có đủ Thịt Mỡ Dưa Hành Câu Đối Đỏ như truyền thống. Nhưng cái tết đó là cái tết đầu tiên trong cuộc đời của tôi không có bánh chưng không có mứt không có pháo và không cả bạn bè người thân. Chỉ mình tôi với sân trường vắng lặng với những dãy nhà tập thể im lìm. Lần đầu tiên ngày mồng một Tết tôi phải lần mò xuống nhà ăn tập thể của trường để cạy trong cái chảo gang từng mảng bo bo cháy ăn mừng Xuân mới.
   
   Tết đó tôi không về ngày 27 tết Bà Nội tôi qua đời tôi không biết. Rồi hơn một tháng sau ban giám hiệu nhà trường gọi tôi lên đưa cho một tờ điện tín với nội dung : " Ba đã mất về ngay".
    
   Tôi về đến nhà thì Ba đã được chôn cất 3 ngày đúng vào ngày mở cửa mả. Trong tiếng khóc than của mọi người họ kể lể chuyện vì tôi mà Ba chết. Cả chị Cả anh Hai và anh Ba đều cũng nói vậy. Họ nói mấy ngày tết Ba không ăn uống gì cả chỉ ra đứng ở chân cầu Mỹ trạch từ sáng đến tối ngóng từng chuyến tàu từ Bắc vào Nam xem tôi có về không. Ba đợi cho đến ngày mồng 5 tết mọi người khuyên lơn  gì cũng không được. Ba cứ lầm lũi không nói không rằng ra chân cầu ngóng tôi về. Ba bỏ ăn bỏ uống và suy sụp hoàn toàn. Cho đến một ngày cuối tháng giêng  Ba gục xuống trong một cơn đột quị.
 
   Lúc Ba hấp hối trút hơi thở cuối cùng bàn tay còn cựa quậy vạch lên mặt phản tên của tôi. Chính vì vậy mà ai cũng nói rằng Ba chết là vì tôi.
   
   Họ khóc lóc và nguyền rủa tôi. Còn tôi thì câm lặng như một xác chết vô hồn đôi mắt ráo hoảnh không một giọt nước mắt. Tôi thắp nhang lên bàn thờ của Ba trong tiếng trách móc của mọi người.
  
  Đêm đó khi mọi người đã tản mát nghỉ ngơi đâu đó tôi mới lặng lẽ một mình tìm ra mộ của Ba.  Ba được chôn bên bìa làng Tân thịnh gần đài nghĩa trang Liệt sĩ của Xã. Người ta dự định chôn ở đó để sau này cải táng mới đưa về cùng một chỗ bên Mẹ và Em. Tôi đến bên mộ Ba  ngồi xuống bên nấm đất mới mà cứ ngỡ như đang ngồi bên Ba hôm đó là lần đầu tiên tôi nói chuyện rất nhiều với Ba. Tôi chỉ nói một mình nhưng tôi nói say sưa  tôi kể hết chuyện này đến chuyện kia cho Ba nghe. Tôi nói với Ba tôi không còn bị đói nữa. Tôi nói hôm đó trước khi nhập học tôi đã đến chợ Vinh mua một đôi dép nhựa Tiền phong màu trắng và mua một bộ áo quần mới tinh nên khi đến trường không có ai coi khinh tôi cả. Tôi kể cho Ba nghe chuyện Ban giám hiệu gọi tôi lên định không cho tôi học vì trong lý lịch của tôi do Chủ tịch xã Xuân thủy chứng nhận thành phần gia đình là Địa Chủ Kháng Chiến Cường Hào Ác Bá Có Nợ Máu Với Cách Mạng (nguyên văn chứng nhận trong lý lịch). May mà nhờ những giấy tờ của Ba cho tôi mang theo lại là giấy chứng nhận về quá trình hoạt động của cán bộ tiền kháng chiến của Ba trong đó có chữ ký xác nhận của nhiều tổ chức và nhiều người làm việc ở trung ương. Giấy chứng nhận hiến kho thóc cho lực lượng kháng chiến chống pháp..v.v.. nên cuối cùng mới được nhận học. Tôi nói chuyện với Ba rất nhiều về mấy cuốn sách đã đọc sau này. Có đôi lúc tôi lại to tiếng như đang cãi lộn với Ba về nội dung cuốn Phật Giáo Vấn Đáp tôi nói Ba bảo đọc cuốn sách đó làm cho con người yếu đuối đi là sai. Tôi nói cuốn sách đó cho mình sự dũng cảm ở trong mọi hoàn cảnh cuộc sống...
    
 Và tiếng gió rì rào trên hàng dương trong nghĩa địa hôm đó cũng như tiếng của Ba thì thầm trò chuyện với tôi động viên tôi trong bước đường tương lai an ủi tôi trong chặng đường dài của cuộc đời khi tôi sẽ không còn có một căn nhà một nơi chốn để đi về...
   

23.10.08
 
  
   
   
  

More...

THỜI HOANG DẠI - 10 (Thầy Hồng 3)

By Lê Thuận Nghĩa

THẦY HỒNG 3  
   
    
 Chỉ có ai bị sự hành hạ bởi cơn đói triền miên mới thấu hiểu được cuộc chiến sinh tử giữa nhân tính và thú tính trong một con người. Vượt qua được cửa ải dạ dày là có thể thoát thai từ Ngạ quỉ*  để thành một kiếp Người thực sự. Đường đến Thiên đường hay Địa ngục đều phải đi qua cửa miệng. Chưa biết đến đói thì không thể nào thấu hiểu được thế nào là Hạnh Phúc đích thực bởi Hạnh Phúc chỉ có được khi ta chiến thắng chính bản thân mình. Chiến thắng sự đòi hỏi ngặt nghèo của bản năng sinh tồn ta mới có thể mở được cánh cửa vào chính tâm hồn mình để biết ta là ai và khẳng định cái vị trí của ta trong cuộc đời giả tạm này nó nằm ở đâu. Khi đó ta mới biết được hình hài của niềm vui và an lạc như thế nào....
   
   Thầy Hồng đã như Lưu Bị trong Tam Quốc Chí "tam bận cố thảo lư" để thuyết phục Ba cho tôi được tiếp tục đi học. Nhưng ông vẫn không chịu chỉ với một lý do rất đơn giản : - Học để làm gì đằng nào tôi thi cũng trượt. Lần đầu là cuối học kỳ 1 niên khóa cuối cùng của phổ thông Ba tôi nói: - Thôi nghỉ học đi con đằng nào thì cũng phải có một đứa ở nhà các anh chị con ai cũng đã thoát ly rồi nếu con đi nữa mấy đứa kia không yên tâm lại bỏ về. Tôi bỏ học được 3 ngày thì thầy Hồng lên gặp Ba xin cho tôi được đi học tiếp. Lúc nghỉ học kỳ vừa xong Ba lại nói:- Thôi nghỉ học luôn đi con thời buổi này kiếm miếng cơm để mà sống còn không nổi một buổi học một buổi làm lấy gì mà ăn. Tôi lại không đến trường. Mấy ngày sau thầy Hồng lại lên trò chuyện với Ba tôi lại đi học thêm được mấy tuần nữa. Rồi một hôm Ba bảo tôi nghỉ học đi cùng anh Luận con chú Khang thợ rèn dưới làng Phan theo đội Sơn tràng lên rừng chặt gỗ về làm nhà vì căn nhà làm tạm trong chiến tranh giờ đã mọt mối mục dột hết rối. Nghe tôi báo nghỉ học thầy Hồng lại tức tốc đạp xe lên nhà tôi lần nữa. Lần này Ba và và Thầy to tiếng tranh luận với nhau chứ không còn nài nỉ xin xỏ như hai lần trước. Nghe thầy lý giải một hồi Ba không nói gì chờ Thầy nói xong Ba nói: - Thưa thầy cho nó đi học làm gì khi chữ của nó như mèo cào gà bới không ai đọc được chữ nào học để làm bác sĩ à để giết người khi ghi đơn thuốc? Học để làm thầy giáo à để dạy con người ta viết chữ như nó sao chữ nghĩa ấy chỉ suốt đời làm trâu làm ngựa cho người ta chứ làm nên được trò trống gì mà đi học cho phí cơm. Nói xong Ba vào lấy tất cả sách vở đi học của tôi ra ngoài hiên châm lửa đốt hết. Thầy Hồng đứng nghẹn trân trước ngọn lửa cháy rần rần uất ức nhìn tôi rơm rớm nước mắt rồi dắt xe ra về. 
   
  Tôi biết Ba chỉ đốt sách học chứ không đốt sách truyện nhưng vẫn không yên tâm vào kiểm tra xem mấy cuốn truyện quí của tôi có bị họa lây không. Sách truyện vẫn còn nguyên không tổn hại cuốn nào  trong đó còn sót lại một cuốn vở tập viết của tôi. Cuốn vở đó để chung trong tập sách vở đi học tại sao Ba lại không đốt luôn mà chừa lại. Hồi đó tôi không nghĩ ra. Sau này khi đọc di bút của Ba để lại trong cuốn sách của chú Hợi Thanh hóa tặng tôi mà Ba đã "ăn cắp" suốt mấy năm nay (xem phần Mất Một Cuốn Sách) tôi mới biết Ba rất quan tâm đến sự học của tôi. Ba biết tôi đi học cũng chẳng được ích gì vì mớ kiến thức phổ thông đó đối  với trí nhớ của tôi không cần thiết phải học nữa. Chỉ còn lại vấn đề chữ viết nếu chữ viết của tôi không thay đổi thì tôi vĩnh viễn không bước qua nổi các kỳ thi. Việc đốt sách vở của Ba là một đòn khích tướng rất ngoạn mục. Ba thấu hiểu được sự lỳ lợm và kiên nghị của tôi nên ông mới dùng đến một kế sách nghiệt ngã như vậy. Đốt hết sách vở nhưng vẫn chừa lại cuốn vở tập viết. Đầu óc ngây thơ của một đứa trẻ mới lớn làm sao mà thấu ngộ ra điều đó. Ba thì lúc nào cũng như một "bạo chúa" đọa đày tôi trong những hoàn cảnh đáng ra không cần thiết thì hỏi làm sao tôi không hận Ba cho được. Sau này khi Ba mất tôi không được gặp ông lần cuối. Nỗi ân hận tích ép trong tôi lâu ngày như nổ tung trong sự cuồng loạn của tuổi trẻ càng đẩy tôi ra với thế giới giang hồ. May mà gặp được Sư phụ tôi sau này Thầy tôi đã hóa giải cho tôi nỗi uất ức hối hận đó. 
   
   Khi chúng bạn cùng lớp đang náo nức với những đề cương ôn thi thì chẳng một ai kể cả thầy Hồng  biết rằng tôi đang vật lộn với cuốn tập viết. Hôm ăn tô mỳ  ở chỗ Thầy về tôi viết được chữ rất đẹp nhưng rồi cái khả năng đó cũng đã theo tô mỳ mà biến đi không để lại một tý kinh nghiệm nào. Chỉ để lại trong tôi một niềm hy vọng là tôi có thể viết được chữ rõ ràng đó là động lực để cho tôi tập viết. Khi chúng bạn đang bù đầu bù cổ với những công thức với những phương trình với những chiến thắng Điện Biên Phủ với Xô Viết Nghệ Tỉnh với chiến dịch Biên giới... thì tôi cũng đang như AQ của Lỗ Tấn đang gò mình chù môi để nắn nót từng nét của chữ i chữ t trong cuốn sách vỡ lòng. Có ai nghĩ rằng cuốn vở của một học sinh cuối phổ thông lại ghi chép : a  a huyền à; a a sắc á. m mờ a ma sắc má mờ a ma nặng mạ. Rồi thì : ênh lênh khênh cái gì cao lớn lênh khênh đứng mà không tựa ngã kềnh xuống sân. Hay là: Chó bảo gà gà định vào vườn rau chó bèn sủa gâu gâu công lao người trồng trọt vất vả đã bao lâu gà không được vào đó để phá hoại hoa màu.... Đó là những bài tập đọc tập viết của cuốn sách Vỡ Lòng trong những thập niên 60 đã học cách đây hơn 45 năm giờ tôi vẫn thuộc nằm lòng là vì tôi đã phải vật lộn tập viết những dòng chữ ấy hàng trăm lần nên nó vẫn còn in đậm trong trí não.
  
   Tập viết hết cuốn sách vỡ lòng tôi lại tập viết những bài thơ  (có lẽ vì vậy mà sau này lớn lên tôi mê thơ đến độ như cuồng là vậy). Tôi chọn những bài thơ có chữ nghĩa loằng ngoằng để mà viết. Ví dụ có một bài thơ bằng tiếng Thái hay tiếng Mường gì đó in trong một cuốn sách truyện thiếu niên tôi viết đi viết lại nhiều lần giờ vẫn còn nhớ như in:
  
Pấu cáy eng pản khóp đông pịa
Mẻ pạc mẻ già khẩn xứng
Pấu ni tha vàng khẩn bứng thín
Mẻ lục xùa căn bên đuổi pỏng
(Đó là lời hát của một cô bạn dân tộc thiểu số này hát tặng anh bạn dân tộc thiểu số kia hai dân tộc xích mích với nhau như kiểu hai làng Tà-phình và Động hía vậy. Nội dung được cuốn sách ấy dịch là : Phượng hoàng làm bạn với phượng hoàng không bao giờ làm bạn với quạ khoang bầu trời trong xanh phượng hoàng tung đôi cánh quạ khoang không sánh nổi phượng hoàng- đại khái là như vậy.)
  
  Đó chính là cuốn vở tập viết mà Ba tôi chừa lại không đốt. Cuốn vở đó tôi có mang theo hồi đi học chuyên nghiệp. Sau có quen cô bạn gái chỉ là bạn đọc sách thường thôi. Ngày cô ấy đi vượt biên có để lại tủ sách của cô ấy cho tôi và đổi lấy cuốn vở tập viết kia làm kỷ niệm. Cô ấy giờ ở Mỹ là một nhà hoạt động từ thiện tôi có đề cập đến việc xin lại nhưng cô ta  cười nói:-  Bao giờ xuống tóc thì lúc đó bần đạo sẽ trao trả lại nợ đời cho thí chủ. Nghe mùi mẫn ra phết.
    
  Tôi nghỉ học nhưng thầy Hồng vẫn đến thăm tôi thường xuyên. Vì có tý mặc cảm nên tôi không theo Thầy đi thăm bọn cùng lớp như ngày xưa nữa. Bọn con trai con gái cùng lớp lo học hành năm cuối cấp nên cũng chẳng ai để ý đến sự thiếu vắng của tôi. Chỉ có thằng Đổng Mập nghiền sách thỉnh thoảng đi học về có ghé lại hỏi trao đổi sách đọc. Con Lý Đỗ ngày xưa thân đến thế lâu không gặp nên cũng trở thành hờ hững. Thỉnh thoảng nhớ tiếng cười và cái mặt nung núc của nó tôi lại cù thầy Hồng xuống nhà nó chơi. Có mấy lần thầy xuống nhà nó một mình khi tôi bỏ học rồi hình như có tiếng xì xào bàn tán gì đó nên thầy cũng ngại. Thế là khoảng cách giữa tôi và con Lý ngày một xa thêm. Chỉ còn có Luyến trên Xuân bồ là thường hay ghé lại thăm tôi nhất. Nhưng nó cứ như mít ướt thấy tôi còi cọc dầm nắng dãi mưa với những công việc nặng nhọc lại không được đi học nên mỗi lần gặp là mỗi lần thút tha thút thít chán lắm. Tôi vốn ghét nước mắt thấy nó khóc là tôi quạu. Có lần nó đem cho tôi trái cam mắt lại rơm rớm tôi nổi đóa chửi nó một tăng:- Mi cứ như miếng giẻ ướt rứa thì đời nó vắt cho mi cặn không còn một giọt yếu đuối rứa thì mần răng mà sống được. Nói xong tôi vứt trái cam ra ngoài sông cái tủm rồi lớn tiếng:- Từ ni mi mà còn mít ướt rứa thì đừng có mà đến thăm tau. Con Luyến giận tôi từ dạo ấy nó không đến tìm tôi nữa. Sau này khi đã trưởng thành tý chút nghĩ lại thương con Luyến tôi tìm gặp nó thì thấy nó đã có nơi có chốn. Tôi không muốn nó phân tâm nên không gặp rồi từ dạo đó đến nay bặt vô âm tín.
   
   Sau dạo Ba tôi đốt sách thầy Hồng có hỏi tôi về dự định tương lai tôi chìa cuốn vở tập viết cho thầy coi. Thầy ôm bụng cười hic híc...rồi trêu tôi:- Hay là em về học lại vỡ lòng đi cho nó chắc ăn. Tôi cũng chọc lại Thầy:-  Hay là thầy làm Lỗ Tấn mần một thằng AQ nữa đi thằng này không vẽ vòng tròn mà nó vẽ ò ó o...Hai thầy trò cười vui vẻ lắm.
   
   Đói cái đói treo lơ lửng như một cái thòng lọng trên gia đình tôi làm cho không khí gia đình lúc nào cũng đặc quẹo lại ước chừng có thể lấy dao mà cắt được. Nhà có 4 miệng ăn mỗi bữa chỉ nấu một nồi cơm độn sắn nho nhỏ  mỗi người mỗi bát đã thấy vơi. Bà nội thương tôi bới cho tôi bát cơm cố ý lèn hơi chặt thì Dì lại háy nguýt rồi mắng chó chửi mèo. Bà buồn lắm. Bà chăm bẵm tôi và anh Ba từ hồi mới lọt lòng. Nói là Bà cháu nhưng tình cảm như Mẹ con. Tôi và anh Ba từ nhỏ cho đến lớn thường nằm ngủ với Bà. Anh Ba cho đến khi đã là giáo viên rồi mỗi lần về thăm nhà vẫn tôi một bên anh một bên còn bà thì nằm giữa vẫn thò tay cấu véo tranh nhau xỏ tay vào nách bà như hồi còn con nít. 
   
   Cái đói làm cho cho tâm tính con người thay đổi rất nhiều. Dì tôi hồi mới về còn giữ kẽ sợ người ta cười chê dì ghẻ con chồng nên chẳng có biểu hiện gì xấu cả. Nhưng vì hoàn cảnh gia đình khó khăn cái đói cứ dai dẳng bám riết lấy hoài nên tâm tính Dì cũng thay đổi. Băn hăn bó hó  so đo rình rập từng miếng ăn của tôi. Dì không dám xúc phạm hay đánh đập chửi mắng tôi bởi vì dù sao vào thời điểm đó tôi vẫn là trụ cột kinh tế của gia đình. Nhưng Dì cứ tọc mạch càm ràm Ba suốt ngày. Ba lại bị bệnh đau dạ dày kinh niên sức khỏe không có không đi làm được thành ra phụ thuộc nên không biết làm sao. Đánh chửi tôi thì không có nguyên nhân trách mắng Dì thì không có lý do. Vậy là trút nỗi bực dọc lên Bà. Bà buồn bỏ đến chỗ các Cô ở dăm bữa nữa tháng nhớ tôi lại về thăm. 
   
   Có một lần tôi đi làm về đến đầu ngõ nghe tiếng Ba và Dì cãi lộn nhau. Tôi lặng lẽ nép vào hàng rào nghe chuyện gì thì hóa ra là chuyện Dì đi ăn cỗ  có đem về ít xôi và thịt phay. Dì bảo Ba ăn Ba không chịu ăn nói để dành cho tôi. Dì không chịu nói là vì Ba mà nhịn ăn để lấy phần về cho Ba chứ không phải lấy phần cho tôi. Thế là Ba ném nắm xôi xuống đất bảo đã vậy thì vứt đi cho chó ăn. Dì bị xúc phạm bù lu bù loa nói Ba vô tình vô nghĩa coi con đẻ hơn vợ. Tôi nghe xong lòng buồn hiu. Đi làm về không mệt thấy cái cảnh ấy mà não cả ruột. Trời ơi! chỉ vì một miếng ăn nho nhỏ mà tình nghĩa vợ chồng con cái đều có thể ném tuột xuống đất. Tôi không vào nhà mà lang thang đi ra đồng.
   
   Kể từ cái dạo đi từ truồi Mai hạ đi về cái hôm mà tôi nhặt lại được nhúm tóc của Mẹ còn sót lại trên hố huyệt đi ngang qua cánh đồng Quảng cư có cơn gió làm cho tôi thư thái đọc hết cả cuốn Thơ Dâng của Tago thì tôi tìm được cho tôi một nơi chốn bình yên giữa cuộc sống gian lao. Đó là cánh đồng bát ngát của cả xã Xuân thủy cánh đồng còn trù phú màu mỡ hơn cánh đồng 5 tấn của xã Đại Phong nằm chếch về phía bên kia sông Kiến Giang (Đại Phong là ngọn cờ đầu của Nông nghiệp cả nước trong những thập niên 60 nơi mà đích thân Bác Hồ phát động phong trào và do Đại tướng Nguyễn Chí Thanh chỉ đạo nơi cách lãnh tụ phía Bắc như Lê Duẩn Phạm Văn Đồng Võ Nguyên Giáp ...thường dẫn các đoàn ngoại giao ghé lại tham quan)
   
  Có lẽ đó là một nghịch lý chỉ dành riêng cho đời tôi. Giữa cánh đồng là niềm tự hào của mô hình công xã xã hội chủ nghĩa. Tôi một thằng bé mới lớn bụng rỗng toách ru ngủ cơn đói của mình bằng tiếng rì rào trên thảm lúa mênh mông.
  
  Đúng vậy cánh đồng đó là nơi yên ả và thanh bình nhất trong những tháng ngày bầm dập của tuổi thơ nơi quê hương của tôi. 
   
   Những đứa bạn cùng lứa thì đang đi học lớp lớn hơn thì đã đi bộ đội hoặc đi thoát ly. Cả HTX chỉ còn lại tôi là thanh niên dù thân thể còm cõi nhưng cũng đã 17- 18 tuổi đời rồi chứ ít ỏi gì đâu. Xã viên hợp tác thì toàn là hàng cha chú. Suốt ngày cặm cụi thui thủi một mình tối về không muốn chứng kiến cái không khí trầm mặc đậm đặc của gia đình nên tôi cứ đi thẳng ra đồng lang thang giữa những bờ ruộng như một thằng khờ. Chờ đến khuya kiếm một chỗ cao ráo bẻ lá dương liễu lót chỗ đánh một giấc tới sáng. 
   
    Ba biết tôi không về nhà nhưng Ba cũng biết tôi không hư hỏng đàn đúm với ai. Chỉ thỉnh thoảng đi chơi với thầy Hồng ngoài ra từ ngày tôi bỏ học bạn bè trong lớp chẳng đứa nào quan tâm đến nên tôi cũng không giao tiếp cùng ai. Trừ thằng Thiên con O Hằng và thằng Diệu con O Phức hai đứa là con em xã viên thỉnh thoảng có đến Hợp tác giúp mẹ tụi nó công việc gì đó thì còn gặp năm thì mười họa vậy thôi. Một lần tôi đang ngủ ngoài cồn đất nơi có cái hầm của trung đội phòng không 12 ly 7  thời chiến tranh để lại nửa đêm giật mình thấy có bát cơm và mấy con cá bống mũ kho khô để bên cạnh. Tôi biết là Ba mang ra cho tôi. Tính Ông là vậy quan tâm rất mực đến con cái nhưng chẳng lúc nào mở miệng nói một câu. Cái tính lỳ lỳ của Ba lây sang cả tôi. Tôi cũng đâm ra ù lỳ có ngày chẳng mở miệng nói một câu. Thỉnh thoảng có cuốn sách hay tôi lẳng lặng để lên đầu giường của Ba. Đọc xong Ba cũng lẳng lặng bỏ lại trên đầu giường của tôi. Hai Ba con đôi khi cả tháng chẳng nói với nhau lời nào.
   
  
      Nằm giữa cánh đồng bát ngát đêm ngửa mặt nhìn trăng sao bốn bên là biển lúa rì rào như lời thì thầm của đất trời thú vị lắm. Nhất là mùa lúa chín mùi rạ mùi nắng quyện vào nhau trong tiếng chim gù xa xa thỉnh thoảng có tiếng gà gáy tiếng chó sủa từ trong làng vọng ra nghe đầm ấm và thơ mộng làm sao. 

   
   Đêm nào cũng ở ngoài cánh đồng với hương lúa ngào ngạt như vậy mà bụng lại đói cồn cào. Cái nghịch lý đó thúc đẩy  bản chất sinh tồn của tôi tìm nguồn sống. Những hôm đầu sợ lộ chuyện như bóng ma lảng vảng giữa đồng không hiu quạnh tôi ngại nhóm lửa nên tìm cách ăn sống. Tôi lội dọc bờ ruộng hay bờ mương bắt những con cua đồng còn nhỏ quê tôi gọi là "đam mén". Cua còn nhỏ lơ ngơ lóng ngóng nên tay không dễ bắt mà lúc ăn lại mềm ít tanh. Trên bờ ruộng thì rau má chẳng thiếu gì. Nhổ rau má rửa sạch cuốn lấy đam mén ăn như ăn gỏi. Bụng đói ăn vào ngọt lừ hấp dẫn chẳng kém một món sơn hào hải vị nào.
   
   Sau này thấy người ta cầm đèn dầu bỏ vào cái hộp để gom ánh sáng về một phía  có quai xách. Quê tôi gọi đó là đèn mai. Họ lội xuống ruộng soi đèn xuống nước tìm vết cá  cá thấy ánh sáng đóng đèn lờ đờ ve vẩy không thèm chạy cứ vậy dùng nơm úp lại mà bắt hoặc dùng chỉa có ngạnh như ngạnh chông mà chỉa gọn lắm

      Tôi cũng sắm một cái đèn như vậy nơm thì có sẵn ở nhà. Và từ đó hàng ngày  tôi có bữa ăn chính thịnh soạn của riêng mình ở ngoài đồng.
   
   Đừng tưởng ngủ đồng sướng vậy mà ham cũng phải biết cách mới tròn giấc ngủ được. Đồng nước ẩm thấp cứ hoàng hôn chập choạng về là bằn hăn (một loại côn trùng như muỗi nhưng nhỏ hơn) bay ngộp cả  bờ ruộng lại thêm muỗi và moòng trâu (một loại ruồi chuyên hút máu trâu) vi vu đặc kẹt chỉ cần dơ tay chụp vu vơ vào khoảng không trước mặt cũng có  được vài con. Ngủ đồng dù có gió bạt cũng không thoát nổi chúng nó. Ra đồng người ta mặc quần đùi còn tôi thì cứ đóng cả bộ. Đêm đến trước khi ngủ dùng bùn ruộng trét kín hai tay hai chân cởi áo ngoài trùm đầu mặt lại là có thể yên tâm mặc chúng nó mà khò.
   
   Thầy Hồng cứ dăm ba bữa lại lên thăm tôi lúc nào lên thăm cũng có quà khi thì trái cam trái ổi khi thì mấy cái bánh bột lọc nhân tôm bọc lá chuối thỉnh thoảng cũng có nắm xôi hay mấy cái bánh bột mì rán nho nhỏ như vành tai. Thầy ám ảnh chuyện tôi đói làm té xe hồi nọ nên lúc nào cũng nghĩ đến cái đói của tôi mà làm vậy. Tôi biết Thầy cũng chẳng dư giả no nê gì. Tiêu chuẩn lương thực mỗi tháng có 13 cân mà có phải lúc nào cửa hàng lương thực cũng bán đủ đâu. Tôi kể chuyện những bữa ăn đồng nội của tôi cho thầy nghe. Thầy thích lắm cứ gạ tôi cho đi theo thử một bữa xem sao.
   
    Tôi hẹn thầy vào một buổi thứ bảy. Thầy đi bộ lên chờ tôi ngoài mé đồng gần nhà ông Chùm bọ con Lúa. Khi tôi ra thấy Thầy đầu đội mũ cối áo blu dong  quần xắn lên quá gối đứng lấp lấp ló ló sau hàng duối tay vẫy vẫy miệng xùy xùy đuổi muỗi tôi ôm bụng cười ngặt nghẽo nói:- Trời ơi! đi chơi đồng mà thầy làm như chuẩn bị đi chiến dịch ri à. Thầy cười ngượng: - hì hì cũng hơi hơi hồi hộp sợ mấy đứa học trò thấy. Tôi trấn an thầy:- Mình đi bắt cá chứ có phải đi ăn cắp ăn trộm đâu mà sợ.
   
   Tôi không ngờ thầy Hồng xuất xứ là dân ruộng mà thầy sợ rắn với đỉa đến thế. Vì tôi không dẫn Thầy ra ruộng gần làng mà dẫn Thầy đi tuốt lên trên vùng ruộng cạn gần giáp ranh với ruộng của xã Mai thủy. Ở đó ruộng ở trên cao không giữ được nước nên người ta chỉ trồng khoai và trồng sắn.  Đường đến đó phải lội qua rất nhiều mương cạn mỗi lần lội qua là Thầy la oai oái:- Nghĩa ơi có đỉa không vậy nếu nó bám vào thì làm sao. Tôi lội qua trước thấy Thầy như nhảy choi choi ở dưới mương vì sợ đỉa. Tôi ôm bụng cười ngất: - Thầy ơi là thầy thế mà cũng bày đặt đi theo mai cá...
   
    Đến vùng ruộng cạn tôi bảo thầy đứng đợi tôi để tôi đi chuẩn bị mấy thứ. Thầy nói đứng một mình thầy sợ ma. Ô hô ai tai! Vị Thầy đáng kính của tôi trang nghiêm vững chãi trên bục giảng đến thế giờ xuống ruộng trong đêm không khác gì hổ lạc bình dương. Tôi cười khùng khục thắp đèn mai lên cho thầy đỡ sợ. Trước lúc đi tôi dặn thầy đèn mai để một chỗ thường hay bị rắn hổ mang đóng đèn đến ăn muội khi nào thấy tiếng kin kít xì xì thì tránh xa đèn ra. Thấy nghe vậy hoảng hồn nói cho thầy đi theo cho chắc ăn. Tôi lại cười khùng khục nói đi thì đi.
    
   Tôi đi tìm những đám ruộng trồng khoai đã thu hoạch trước đó không lâu người ta đã cày bừa kỹ phơi đất chờ mùa tới. Đi trên ruộng chăm chú thấy có chồi khoai nào nhu nhú thọc tay cào bới lên ắt có củ còn sót lại. Kiếm được mươi củ mập mập tôi dẫn thầy đi về lại phía ruộng nước tìm đến  cồn đất cao giữa đồng nơi mà ngày xưa trong thời bom đạn người ta đắp đất làm hầm sơ tán  để cho người làm đồng tránh máy bay oanh tạc. Đi  ngang qua mấy hàng dương tôi trèo lên bẻ tỉa mấy cành khô. Đến cồn đất tôi móc một cái hố nhỏ như dạng bếp Hoàng Cầm  bẻ vụn cành khô nhóm lửa. Khi lửa sắp tàn vùi khoai vào rồi lấp lên một lớp cát nhẹ cho cháy âm ỉ. Làm xong việc ấy tôi mới thong thả dẫn thầy xuống ruộng mai cá (dùng đèn soi cá). Vì Thầy sợ đỉa nên tôi bảo thầy cứ đứng trên bời đợi tôi. Tôi bắt đầu xuống ruộng nhón chân từng bước lia đèn qua lại soi tìm cá. Thỉnh thoảng Thầy lại gọi với ra: - Nghĩa ới được con nào chưa? Tôi thấy thầy có vẻ sốt ruột nên giả vờ úp nơm xuống rồi dùng tay khuấy ào ào trong nơm nói vọng vào an ủi Thầy: - Được một con tràu rồi (cá tràu là cá chuối cá quả ở ngoài Bắc và là cá lóc ở trong Nam). Hôm ấy nhờ cái duyên của Thầy mà tôi được một bữa bội thu lắm.
   
    Bắt độ 2-3 tiếng gì đó cũng được lưng lưng giỏ. Tôi dẫn thầy đến chỗ vùi khoai khi trước móc khoai ra và nhóm lại lửa. Xuống ruộng móc một ít đất sét  trét kín 2 con tràu lớn nhất rồi vứt vào lửa. Đi bẻ một ít lá dương liễu tươi bỏ vào lửa vài nhánh cho khói um lên để hun muỗi còn lại lót xuống đất làm chỗ ngồi cho Thầy đem khoai lùi ra mời thầy ăn. Thầy thấy tôi làm có vẻ thành thạo cứ trố mắt ra nhìn :- Nghĩa hay ăn kiểu này lắm à sao có vẻ nghề rứa!. Tôi nói thì em nói rồi mà từ nay Thầy đừng lo em đói nữa không khéo em là người chơi sang nhất huyện đó chứ. Thầy cú nhẹ lên đầu tôi:- cái thằng ni thiệt tình mi mần cấy chi cũng được hè. Khoai lùi cháy vỏ nhưng là giống khoai trồng trên đất cát pha nên ruột đặc mà bột ngon đáo để. Hai thầy trò vừa hít hà ăn vừa nói chuyện đời. Thầy nói :- mần răng mà mi biết tìm cách sống như tiên ri  hè. Những lúc thân mật thầy lại xưng bằng tau- mi một cách xưng hô âu yếm của dân xứ tôi.
  
   Ăn xong khoai chuyện trò thêm tý nữa là cá vừa chín tới. Cứ khều lửa  gõ gõ thấy đất sét cứng sắt lại là được. Đập đất ra vảy cá bám theo đất để lộ lớp thịt cá trắng nõn khói bốc nghi ngút trông hấp dẫn lắm. Tôi móc túi lấy gói muối tiêu đã chuẩn bị sẵn mời Thầy ăn. Thầy cứ trố mắt lên nhìn: - Mi có đem theo cả muối tiêu à mi cũng biết thưởng thức hỉ. Tôi hãnh diện:- Chứ răng đã nói là hôm nay chiêu đãi thầy một bữa tiệc vô tiền khoáng hậu mà lại. Thầy nói:  - để khi mô tau đãi lại mi phở Hà nội hỉ. Hai thầy trò cười vang cả đồng khi lại nghĩ đến vụ té xe hôm trước. Thầy một con tôi một con cứ thế dùng tay mà bốc thịt cá ra chấm muối tiêu ăn. Đang ăn tôi nói:- Chừ mà có cút rượu là nhất thầy hè. Thầy nghiêm mặt nói: - Mi uống rượu à đừng nghe  đừng bắt chước người ta uống rượu làm mụ đầu đi đó. Tôi nói: - Đó là em ví dụ thôi chứ em có uống khi mô mô. (Thầy khỏi phải lo cho em. Lời thầy dặn thằng học trò quái quỉ của Thầy suốt cuộc đời vẫn nghe theo. Gần 50 tuổi rồi tổng số rượu bia mà hắn uống tất cả cộng lại không đủ một ly)
    
   Ăn xong hai thầy trò ngã lưng lên lá dương nằm nhìn trời. Thầy hỏi tôi tập viết đến đâu rồi tôi nói tiến bộ lắm chữ không đẹp nhưng rõ ràng đọc được. Thầy nói thế là yên tâm rồi để thầy làm đơn xin phòng giáo dục dự thi thí sinh tự do và làm hồ sơ cho tôi dự thi đại học. 
   
    Lúc đi về gần tới đường cái quan tôi bắt thầy ngồi xuống cùng tôi bên bờ ruộng để chia cá. Thầy cười hơ hơ nói:- Tau đi với mi cho vui cho biết mi sống kiểu đồng nội ra răng chứ có phải đi làm cùng mô mà chia với chác. Tôi nghiêm mặt nói:- Đây là lộc trời đã đi chung là có họa cùng mang có phước cùng hưởng không nói ông đơ gì cả Thầy ngồi xuống chia cá với em vừa nói tôi vừa đổ cá trong giỏ ra.  Thầy la lên:- Thằng ni mần thiệt bay ơi! tau nói là tau không cần tau ăn cơm tập thể đem cá về mà mần chi. Tôi vừa cười hề hề vừa nói:- Thầy đem đi cho ai cũng được hay vứt đi cũng được nhưng đây là luật của đồng ruộng thì phải tuân theo mà để em thử chia xem sao chứ thấy bọn thằng Hào thằng Lê thằng Thông em con Việt mỗi lần đi tát cá về chúng nó chia nhanh lắm cứ vút qua vút lại cái nhoằng tràu đô diếc gì con to con nhỏ không cần biết chia bốn chia năm mấy phút là xong vậy mà khi nhận phần thấy đều rắp thấy phần nào cũng muốn lấy. Thầy thấy vui vui cũng ngồi xuống chia với tôi cũng chỉ chỏ con ni bên ni con ni bên tê cho nó đều. Vừa chia tôi vừa nói:- Phải nói là Thầy có cái mạng sát cá chưa khi mô mà em đi mai được nhiều như ri mô. Thầy hì hì:- Mi nịnh tau vừa vừa thôi hỉ tau sợ đỉa không dám lội xuống ruộng mà sát cá cái chi. Tôi nói:- Thì là cái mạng thôi mà cái mạng sát cá ni là cái mạng sát cá đế vương chỉ đứng trên bờ chỉ chỏ thôi là cá đủ chết rồi. Thầy cú lên đầu tôi: - Mi chỉ được cái tài nịnh bợ thôi. Chia xong tôi  bẻ nhánh cây dương xâu lại một xâu cho thầy cầm về ai dè thình lình Thầy vùng chạy thật nhanh cách một quãng khá xa Thầy quay lại nói thật to:- Thầy về hi khi mô đẹp trời cho thầy đi theo lần nữa nghe.
    
    Không còn lần nào tôi với thầy đi  chơi đồng chung nữa. Đó là lần cuối cùng. Vì năm đó trời bắt đầu hạn hán. Chưa có trận hạn hán  nào trong lịch sử của quê tôi nặng nề như trận hạn hán của năm ấy. Theo như sử sách ghi lại thì dòng sông Kiến giang chưa có một lần nào cạn đến trơ đáy như vậy. Chiến tranh vừa kết thúc năm trước thì cơn lũ trăm năm mới có một lần năm nay thì cơn hạn hán ngàn năm cũng chưa có lần nào. Đói khổ lại đổ ụp lên đầu dân đen chúng tôi. Đồng ruộng cạn khô nứt nẻ không có một giọt nước. Cái vùng đời bình yên nhỏ nhoi cuối cùng của tôi ông trời lại cướp đi lần nữa. 
   ..Thầy Hồng bây giờ đã là người thiên cổ bữa đi chơi đồng hôm đó cũng là buổi hội ngộ cuối cùng giữa tôi với Thầy. Hơn 31 năm xa cách  tôi không được tái ngộ với Thầy thêm một lần nào nữa. Thầy không còn hiện diện trên cõi đời này nhưng trong tâm khảm tôi Thầy vẫn luôn tồn tại như một người Anh một người bạn thân thiết nhất của đời tôi.
   
   Giả sử như bây giờ có lại một lần nữa được đưa thầy đi chơi cảnh đồng nội như năm xưa chắc chắn khi thầy lội qua những con mương tôi sẽ không để thầy vừa lội vừa la lên vì sợ đỉa. Tôi sẽ ghé lưng vào và nói :- Thầy ơi! thầy hãy để em cõng qua vì bây giò em đã nên vóc nên dáng một con Người rồi.
    
12.10.08
(Ký ức kỳ sau:
- Những ngày cuối cùng trên Quê hương
- In dấu giang hồ
   


   
   
    
 

More...

HỔ GIẤY

By Lê Thuận Nghĩa


Tôi học thuốc bao nhiêu năm thì cũng học võ bấy nhiêu năm. Ngày lưu lạc giang hồ mà thời gian lâu nhất là ở thành phố Vinh ngoài xứ Nghệ tôi cũng có tiếng tăm lắm.
  
 Trong những năm từ 1977 đến đầu thập niên 80 xã hội rất loạn lạc. Thời đó thành phố Vinh là "tổng đàn" của dân bụi. Trộm cắp móc túi cướp giật như rươi. Dân giang hồ vác dao chém giết nhau ngoài phố như thời trung cổ. Chính quyền mở rất nhiều cuộc càn quét bắt giam vô số và xử tử hình bắn bỏ thị uy rất nhiều ngay sau núi Quyết  (Phượng Hoàng Trung Đô) nhưng cũng không dẹp nổi.
 
  Thời đó dân đi tàu dù là tàu chợ hay tàu nhanh ra Bắc hay vào Nam cứ qua khỏi ga Vinh đã mới cảm thấy hành lý và tính mạng mình an toàn.
 
  Trong giai đoạn hỗn tạp đó dân giang hồ có danh là được tôn thờ như anh hùng. Ở Vinh có những băng đảng đâm thuê chém mướn rất khét tiếng. Trội nổi trong đám đó có Chương Cự ở cầu Rầm Phương Trọc ở Bến Thủy Phương Nhà Trệt ở  Kênh Bắc Thắng Châu Long ở Ngã sáu.... Về võ thuật nổi tiếng có Thanh niên của lò võ gia truyền Nghi Hải dưới cửa Hội đứng đầu là Mai Vũ. Lò võ hậu duệ của Châu Xương ( đệ nhất võ sĩ Đông Dương) ở Xuân Hồng bên chân núi Hồng lĩnh trụ cột là Thành Đặc Công. Dân tứ xứ dạt vòm về Vinh thì có Thằng Toọng từ Quảng Trị ra và Năm Huế. Thằng Toọng chính là nhân vật Trương Sỏi trong tiểu thuyết Người Không Mang Họ nức tiếng một thời sau đó can tội cướp giật và giết người bị xử bắn cùng với 4 đồng bọn khác ở sau núi Quyết. Còn nhân vật Năm Huế  là một tay giang hồ rất bí ẩn có rất nhiều huyền thoại. Nhất là những lời đồn đại về quyền thuật siêu quần nhập hóa của hắn. Mà giang hồ trong mấy lộ hắc đạo thường nghe danh chứ ít ai được chứng kiến Năm Huế thi triển công phu võ thuật ra sao. Năm Huế chính là tôi.
   
   Ngày đó Thầy tôi bỏ Huế ra Vinh theo tôi  một phần vì thương mến tôi một phần tránh sự truy nã của chính quyền. Thầy ở trọ trong nhà một người quen ở Hưng Vĩnh gần Chùa Sư Nữ. Thầy mua lại một chiếc xe ngựa chở khách  và lấy đó làm kế sinh nhai. Ban ngày Thầy đánh xe ngựa chở khách từ ga đi chợ Vinh hay về phà Bến thủy. Tối đến dạy tôi nghề thuốc và võ thuật. 
  
  Thầy tôi vốn là một Tỳ Kheo vì đệ tử của người dính dáng đến bán nguyệt san Tự Nguyện một tờ nguyệt san chép tay của Hội Phật tử Nguyệt Biều sau ngày giải phóng. Tờ bán nguyệt san bị qui tội phát hành tài liệu phản động mặc dầu nội dung chỉ có viết về hướng Đạo và đôi ba bài thơ hoài cổ. Người cầm đầu là một cô  nữ sinh vừa tròn 19 tuổi bị kết án tử hình và đem bắn sau sân vận động Huế.  Khi chính quyền chưa kịp truy nã đến thì Thầy đã hoàn tục lẩn trốn vào dân dã. Cuối cùng theo tôi ra Bắc và trở thành người phu xe ngựa.
   
   Hàng ngày tôi phải đi học tối đến mới có thời gian rảnh để theo Thầy học nghệ. Chủ nhật thì thay Thầy làm xà ích ra ga đứng gào mời khách đi xe ngựa về các ngả trong thành Phố. Trong một lần tình cờ tôi điểm huyệt cầm máu và cứu sống một tay anh chị bị chém. Dù là lần đầu tiên nhưng tôi ra tay khá bình tĩnh và điệu nghệ. Từ đó vô tình tôi trở thành một y sĩ chuyên trị bệnh cho giới giang hồ.
   
  Giới giang hồ chỉ có hai thứ bệnh là cần đến thủ thuật của Y tế chuyên nghiệp. Đó là chữa trị vết thương do đâm chém và bệnh hoa liễu. Đã là bụi đời thì không có thằng nào muốn dính dáng đến bệnh viện. Vì vậy có một người biết y thuật trong giới đầu đường xó chợ là một ân huệ đối với chúng. Chính thế nên tôi trở thành một quí nhân và băng đảng nào cũng nể vì kính trọng.
   
    Thời đó thuốc tây cực kỳ khan hiếm và đắt đỏ. Tôi lại chuyên về Đông y trong các trường hợp trị liệu chủ yếu dùng thuốc cây cỏ và thuật điểm huyệt. Nhiều trường hợp phải dùng đến kỹ thuật giải phẫu trong điều kiện không có thuốc gây tê tôi phải sử dụng thuật châm cứu và điểm huyệt để giảm đau. Chính những thủ thuật liều lĩnh đó đã được giới bụi đời thổi phồng lên thành huyền thoại.  Từ một người y sĩ bất đắc dĩ tôi trở thành một nhân vật giang hồ bí hiểm. Tôi vốn là một học sinh trường chuyên nghiệp nên mọi dính dáng đến giới bụi đời đều phải dấu kín bởi lộ ra là bị đuổi học ngay lập tức. Sự giấu mặt bí mật đó càng làm cho thân phận của tôi thêm mơ hồ. Trừ những người được tôi trực tiếp ra tay điều trị với lời cam kết không thổ lộ thân phận của tôi thì đa số dân giang hồ chỉ biết tôi qua danh tiếng Năm Huế võ nghệ siêu quần có tài điểm huyệt như trong chuyện kiếm hiệp. 
  
   Có một lần tôi đang băng bó cho thằng Hòa Bịp trùm vé chợ đen ở rạp Trường Thi thì bị thằng Phương Nhà Trệt và Thắng Châu Long đến thanh toán nợ nần gì đó với thằng Hòa Bịp. Thằng Phương Nhà Trệt vung dao lên dọa đâm thằng Hòa trong lúc hắn không để ý tôi xỉa vào nách hắn điểm huyệt cho tay hắn bại xuống rồi nhanh chóng tước con dao lưỡi lê trong tay hắn. Thằng Thắng Châu Long định nhảy vào chém tôi thì thằng Hòa Bịp la lên: Tụi mày dám đụng đến Năm Huế à Chương Cự nó băm tụi mày thành nhút. Chương Cự là một tay anh chị khét tiếng cả thành Vinh thời bấy giờ. Mà nó thì coi tôi như thánh thần vì tôi đã chữa khỏi bệnh phong thấp cho Mẹ hắn. Hai thằng kia nghe danh tôi biết tôi là ân nhân của Chương Cự cho nên xuống giọng cầu hòa. Chính từ miệng của hai thằng đầu nậu giang hồ này phóng đại thêu dệt một thành một trăm lần .. nên danh tiếng võ nghệ của tôi lại càng thêm lẫy lừng hiển hách. Thậm chí chúng còn thêu dệt chuyện đọ sức không phân thắng bại giữa tôi và thằng Toọng (Trương Sỏi) một tên cướp gốc gác ở Quảng Trị võ nghệ tuyệt luân có danh tiếng từ hồi chưa giải phóng trong khi tôi chưa hề biết mặt thằng Toọng ra sao.
    
   Danh tiếng lừng lẫy nức tiếng băng đảng nào cũng nể mặt. Nhưng không có một đứa nào biết rằng tôi chưa hề đánh nhau với ai bao giờ. Vì tôi nhát gan lắm.
   
    Tôi học võ cùng một lượt với học thuốc. Nghề thuốc thì  đã ứng dụng rất nhiều sau này trở thành nghề nghiệp chính của cuộc đời. Nhưng nghề võ thì chỉ sử dụng đúng có hai lần. Mà cả hai lần đều nhờ may mắn mà thoát chết. Không kể lần tôi bị bọn cướp trên tàu đâm cho mấy nhát vì vạch tội chúng móc túi một anh Bộ đội. Lần đó tôi chưa học võ lại ngơ ngáo mới vào đời không biết gì đến luật im lặng của giới giang hồ. Chính lần đó tôi nằm chờ chết trên công viên Lê Lợi- Huế mới có duyên gặp được Thầy tôi sau này.
   
    Hai lần tôi dụng võ đều hai lần có liên quan đến hai Bà Mẹ.
   
  Lần thứ nhất là vào năm 1983  hồi đó tôi đã là giáo viên của Trung tâm giáo dục Hướng nghiệp Huế rồi. Thầy tôi cũng đã viên tịch trong một vụ đầu độc tập thể các Tăng lữ ở Chùa Vạn Hạnh- Sài gòn. Khi tôi lỡ kết bạn với một Cô giáo dạy sinh vật cô giáo này có cái ngày sinh kỳ lạ là sinh ngày 30 tháng 2.( Cô ấy cũng là nhân vật cho tôi những cảm xúc viết nên tập "Tháng hai có ba mươi ngày" sau này) thì bị gia đình của cô ta cấm cản. Mẹ cô ta là bạn thân của Cô ruột tôi. Và cũng khá thân với Chị Cả của tôi. Vì vậy mà quá khứ của tôi Bà ấy đều biết rõ. Chính cái quá khứ không minh bạch đó là nguyên nhân dẫn đến tấn bi kịch tình yêu như tiểu thuyết của Quỳnh Dao.
  
  Không ngăn cản được tình yêu của chúng tôi mẹ cô ta đã thuê dân bụi đời thanh toán tôi sau đó sẽ đổ thừa cho ân oán giang hồ. Rất may là cô ta đã biết trước và kịp thời thông báo cho tôi. Vì chuẩn bị trước nên trong vụ bị mấy đứa bụi đời choai choai tấn công tôi đã trở thành chủ động và chiến thắng nhờ vào vũ khí là một cặp đoản côn. Lần đó nếu cô giáo "tháng hai có ba mươi ngày" không báo trước có lẽ tôi đã thành xanh cỏ. Sau vụ đó chúng tôi quyết định chia tay để "trả con về với Mẹ" và trả danh phận Mẹ trở lại cho một con Người.
    
   Lần thứ 2 là vào năm 1988  Lúc đó tôi đã là hiệu phó phụ trách chuyên môn trường Trung học dạy nghề Huế một mô hình giáo dục thử nghiệm đầu tiên ở Việt nam. Chuyện quá khứ của tôi đã chìm vào quên lãng. Rất ít ai biết tôi có một quãng đời dính dấp đến giang hồ trừ những người thân cận. Biết tôi có danh tiếng bất hảo ở Vinh chỉ có thằng bạn thân cùng vào sinh ra tử lúc đó và cũng là đồng nghiệp lúc bấy giờ là thằng Hải Bạc. Và biết tôi là đệ tử đích truyền của một y phái có xuất xứ từ triều đình Huế thì có Ông Lê Phước Thúy nguyên là trưởng phòng giáo dục Huế phó chủ tịch thành phố Huế thầy Nguyễn Xuân Đề Phó giám đốc trung tâm hướng nghiệp và Võ sư Hoàng Như Bôn trưởng tràng đời thứ 5 của võ phái Cương Nhu Karate học trò cưng của Ông Suzuky người sáng lập nên Phái võ Karate ở Việt nam. Ngoài họ ra không còn có một ai biết về thân phận bí mật của tôi. 
   
   Hôm tổ chức buổi lể chia tay với Cô giáo Cẩm Chi đi bảo vệ luận án tiến sĩ ở Pháp chúng tôi tổ chức một buổi dã ngoại ở Lăng cô. Buổi dã ngoại chỉ có những đồng nghiệp thân cận mà thôi về phía nam giới chỉ có tôi và thầy Phạm văn Hội phía nữ thì có 4 cô giáo cô Cẩm Chi giáo viên môn Dinh dưỡng học cô Hoa và cô Trang giáo viên môn Nữ công gia chánh và một cô giáo bạn thân của cô Cẩm Chi. 
    
   Khi chúng tôi ngồi uống nước giải khát ở một quán cà phê bên lề đường thì thấy ở căn nhà bên cạnh quán có tiếng la hét chửi bới của  một  thanh niên và tiếng rên rỉ  nghẹn ngào của một người phụ nữ. Trong tiếng tranh cãi hỗn độn chúng tôi hiểu lõm bõm đó là một chuyện tranh chấp tiền bạc. Người thanh niên muốn lấy tiền người phụ nữ không đưa vậy thôi. Ai dè cuộc tranh chấp đến hồi quyết liệt giằng co cho đến ra ngoài sân chúng tôi mới sửng sốt nhận ra đó là hai mẹ con. Gã thanh niên túm tóc mẹ lè nhè trong hơi men gào lên : đưa đây cho tao mượn ngày mai tao trả lại. Người mẹ  một tay níu tóc rị lại một tay vừa ôm ngực ho sù sụ vừa nghẹn ngào: - hết rồi có còn đồng nào nữa đâu mà đưa .
  
   Hai tai tôi tự nhiên nóng bừng lên  nhưng mặt thì tái lạnh rồi đột nhiên không biết có một sức mạnh nào cuộn chảy dữ dội trong từng thớ thịt của tôi. Tôi hét lên một tiếng ước chừng như sập cả ngôi quán  tay vỗ xuống mặt bàn phi thân qua hàng rào bay đến bên gã thanh niên kia giáng một đấm bình sinh vào mặt hắn hắn bật ngửa ra rớt xuống sân chưa hết tôi túm lấy ngực hắn kéo lên kê mấy gối vào bụng máu miệng hắn trào ra xối ướt cả người tôi. Vừa lúc đó tôi thấy bà mẹ tay cầm một cây gỗ hình như là một mái chèo tay thì phải chạy đến gào lên: - tại sao mày đánh con tao. Bà vung lên và đánh xuống đỉnh dầu tôi. Cũng vừa lúc tôi chợt tỉnh và nhận ra mọi việc. Tôi bình tỉnh không thèm né tránh chờ mái chèo đánh bộp vào đầu. Hơi loạng choạng một tý tôi đứng vững lại và mỉm cười khi một dòng máu âm ấm xối xả chảy nhòa xuống mặt tôi. Bà mẹ nhìn thấy máu tôi chảy run run quị xuống miệng rên ư ử... con ơi... con ơi. Trông thật tội nghiệp
   
   Tôi bước lại kéo Bà đứng lên  Bà gục vào vai tôi nức nở khóc. Máu trên mặt tôi vẫn chảy xuống hình như có cả nước mắt của tôi nữa. Tôi vuốt tóc Bà vỗ vỗ vào lưng an ủi: - Rồi nó sẽ hiểu dù bất kỳ hoàn cảnh nào người Mẹ cũng bảo vệ con mình đến cùng.
   
 Gã thanh niên đã tỉnh ngồi bệt dưới sân trố mắt ra nhìn. Hình như hắn đã ngộ ra một điều gì đó. Tôi bỏ Bà mẹ và đến túm cổ áo hắn kéo sát mặt hắn vào mặt tôi gằn lên : - Mày liệu cái thần hồn đó tao mà chỉ cần nghe hàng xóm nói rằng mày còn hỗn láo với Mẹ mày thêm một lần nữa thì chuẩn bị quan tài đi con ạ.
   
    Tôi  định nhảy hàng rào trở lại quán bên kia. Nhưng cái hàng rào cao gần ngang đầu làm sao mà nhảy. Tôi không hiểu trước đó tôi làm sao mà bay qua được cái hàng rào cao như vậy.
   
   Về lại quán bên kia mấy Cô giáo xuýt xoa lau máu cho tôi. Cẩm Chi mắt rơm rớm nói:-  Không ngờ Nghĩa dữ ha!.  Tôi ngường ngượng trước hành vi thô bạo và cách nói năng xử sự như một kẻ giang hồ. Ở Huế từ xưa đến nay đều vậy người giáo viên luôn luôn coi trọng tư cách nhã nhặn nhẹ nhàng và xử sự rất văn hóa của tầng lớp trí thức. Tôi biết tôi đã làm một việc tổn hại đến tư cách của họ nên lặng lẽ ra xe rồ máy phóng về Huế.
  
   Qua vụ ấy họ lại xì xồ bàn tán đến võ nghệ của tôi. Thầy Hội bạn thân của tôi (Em ruột của Mùi Tịnh Tâm)  là tay nghiền chuyện chưởng cho nên tha hồ mà thêu dệt theo trí tưởng tượng. Hắn mô tả cho mọi người nghe cái cú phi thân qua hàng rào cao gần 2 mét (nổ mà) của tôi không khác gì Lăng ba vi bộ của Đoàn Dự  làm tôi cũng nhột nhạt ngại không chịu được.
   
   Không ai hiểu mình bằng mình may mà tôi có tý định lực chứ không với sự đồn đại đó rất dễ đẩy mình đến tình trạng hoang tưởng  rồi cứ ngỡ mình là võ nghệ siêu quần thực sự. Ngày tôi theo Thầy học nghệ có học đánh đấm gì đâu chỉ có ngồi hít thở và đi mấy bài quyền dưỡng sinh ẻo lả như múa lâm- vông. Vậy mà với cái danh đồn đại ấy sau này tôi cũng trấn áp được mấy vụ xích mích của lũ học trò thích bạo hành trong học đường. 
   
   Hổ giấy cũng có cái mã oai phong của nó dù là bằng giấy nhưng cũng là hình hổ mà.
    

Viết trong đêm mất ngủ
    vì không về kịp 
ngày làm lễ cầu siêu cho Mẹ
         07.10.08
   
    
   
  
   
 

More...

THỜI HOANG DẠI - 9

By Lê Thuận Nghĩa

THẦY HỒNG 2
 
  Hôm được thầy Hồng chiêu đãi bát mì sợi trong cơ thể tôi có một sự đột biến rất kỳ lạ. Cảm giác kỳ diệu đó  sau này khi được Sư phụ tôi diễn giảng và qua quá trình tu tập học hỏi về Đông y cũng như qua quá trình thiền định và luyện tập khí công tôi mới lý giải được. Còn lúc đó tôi hoàn toàn không hiểu gì thậm chí còn nghĩ đó là một hiện tượng ma nhập. 
     
  Khi tôi mượn thằng Hào Dé cái bút chì và tờ giấy nháp trên đường đi về nhà tôi vừa đi vừa viết chữ. Lúc đó chữ của tôi đẹp lắm rõ ràng ngay ngắn và rất thông thoát. Việc viết được chữ đẹp và rõ ràng làm tôi tối đó cứ thao thức hoài không ngủ được. Tôi cứ mơ mộng về bước đường tương lai của mình. Nếu viết được chữ đàng hoàng thì tôi sợ gì mà không thoát được các kỳ thi không khéo với trí nhớ của mình tôi có thể làm chấn động giới học sinh vì điểm số tối đa của mình.
  
  Thế là tôi mơ mộng mình sẽ làm Bác sĩ hay là làm Giáo viên nhỉ hay là thi vào Đại học Tổng hợp văn để trờ thành nhà văn nhà Thơ..những tưởng tượng về một tương lai rực rỡ đã đưa tôi vào giấc ngủ trong một thế giới lộng lẫy sắc màu của mơ ước.  Sáng hôm sau khi vừa tỉnh dậy tôi đã vớ lấy tập vở định làm mấy đường lả lướt để tới lớp khoe với bạn bè. Tôi cứ tưởng tượng mình sẽ ném cuốn vở của mình ra trước mặt con Lý Đỗ con nhỏ bạn cùng lớp tròn như hột mít có chữ đẹp nức tiếng khắp vùng mũi hảnh lên mặt nghênh nghênh và nói:- Chữ của tớ đấy. Thật là hãnh diện!
   
  Nhưng hỡi ôi! Qua một đêm cái điều kỳ diệu ấy đã theo giấc ngủ mà chìm vào với bóng đêm mất rồi. Tôi cố lấy cảm giác của ngày hôm qua để nắn nót từng nét nhưng trời lại phụ tôi lần nữa những con chữ lại nghẹo qua nghẹo lại vạch lên ngoạch xuống bàn tay hoàn toàn không tuân theo ý muốn của mình. Tôi thất vọng não nề  đi tới trường với một tâm trạng buồn nản chán chường vô cùng.
   
  Mấy hôm sau tôi cố hồi tưởng lại cái cảm giác hôm trước nhưng không thể nào lấy lại được chỉ mơ mơ hồ hồ trong trí tưởng. Và bàn tay tôi cũng hoàn toàn bất lực không thể viết được những dòng chữ như hôm ấy. 
  
  Một hôm như thường lệ thầy Hồng lại đạp xe lên để cùng tôi đi thăm tụi cùng lớp. Mới gặp thầy tôi đã hỏi ngay: Thầy có còn mì sợi nữa không. Thầy hỏi: Em chưa ăn tối hay sao? Tôi bảo ăn rồi nhưng muốn ăn một tô như hôm trước. Hai thầy trò quay lại trường và lại hì hục nấu. Thầy chỉ ăn lấy lệ nhường lại cho tôi tất cả. Tôi không khách sáo lẳng lặng xì xoạp húp hết. Ăn xong tôi hồi hộp chờ đợi cái cảm giác kỳ diệu ấy. Hơn một tiếng đồng hồ trôi qua nhưng không có một điều gì xảy ra ngoài cảm giác không đói và uể oải lười biếng. Tôi mượn giấy bút của Thầy và viết thử nhưng những nét chữ vẫn không khác gì hơn sổ ngang sổ dọc rất dị hợm. Thầy hỏi tôi có chuyện gì. Tôi rơm rớm nước mắt kể lại chuyện hôm trước và nghẹn ngào nói : Có lẽ em bị ma nhập rồi thầy ơi. Thầy cười hinh hích và xoa đầu tôi an ủi: Chắc có lẽ là vì một thoáng xuất thần nào đó thôi chứ ma quỉ gì không có một thành quả nào mà không trải qua sự cố gắng của tập luyện cả. Mà Ban- zac và Puskin thủa thiếu thời chữ cũng xấu lắm nhưng sau này đều trở thành Đại văn hào cả. Tôi nghe thầy nói cũng bật cười nói: Vậy sau này trờ thành Đại văn hào em sẽ viết một cuốn "Miếng da Mèo" nhé để kể về chuyện có một thằng học trò của thầy Hồng viết chữ còn hơn mèo cào. (Tiếc rằng thằng học trò cá biệt của thầy sau này không trở thành nhà văn nên hậu thế không có cơ hội đọc được cuốn "Miếng da mèo" hì ..hì..)
  
  Rất đều đặn hình như tuần nào cũng có vài ba lần tôi và thầy Hồng chở nhau đi thăm tụi trong lớp. Thầy đi một mình thì ngại có tôi loắt choắt như một thị đồng đi theo cũng tránh được tai tiếng cho thầy. Vả lại thầy trò cũng khá tâm đắc thầy thì dạy văn mà tôi thì chẳng có thứ sách gì là không đọc. Nên khi thầy nói chuyện thơ chuyện văn đều có tôi nghe và hưởng ứng rất hợp vì vậy thầy rất thích đi cùng với tôi.
  
   Khi thì lên Xuân bồ thăm bọn con Thiềm con Luyến con Quyết bọn thằng Đổng  anh Đúng... Khi thì ghé lại Hoàng giang thăm bọn con Vững con Thủy con Tuệ bọn thằng Bộ thằng Lay thằng Thống. Rồi có hôm thì xuống Quảng cư Mai hạ thăm bọn con Lý con Xuyến con Đấu bọn thằng Đạo thằng Vĩnh bọn thằng Hoàn thằng Liêm..Không biết sao dạo ấy tôi và thầy rất ít ghé bọn học sinh Phan xá họa hoằn lắm mới ghé nhà con Huyến con Xê con An cọt và nhà thằng Đĩu thằng Tuynh chơi thôi.
   
  Mấy đứa con trai thì không nói làm gì dù không chơi thân nhưng cái bản tính quậy của tôi cũng dễ hòa nhập. Hồi đó không biết sao tôi lại không có cảm tình với thằng Hào bí thơ Đoàn và thằng Hoàn lớp trưởng. Có lẽ vì chúng nó quá năng nổ với phong trào của lớp mà tôi lại là một trường hợp cá biệt nên có gì đó không hợp. Có 5 thằng con trai mà tôi thích trêu nhất vì dù tôi trêu bậy bạ đến cỡ nào thì chúng cũng nhe răng cười hì hì chứ không giận  giờ nghĩ lại sao thấy chúng nó hiền đến thương thế trước những trò quái quỉ của tôi. Đó là anh Đúng gọi là anh vì Đúng lớn tuổi người lại to con thấy trong lớp ai cũng gọi bằng anh nên tôi gọi theo. Rồi thằng Đĩu thằng Bộ thằng Hải và thằng Diệu mấy đứa này có chọc có quậy cỡ nào cũng cười hiền lành chứ không quạu
  
  Với bọn con gái  tôi thực sự không thân bằng bọn con trai nhưng trong đó có mấy đứa tôi lại có cảm tình rất đặc biệt. Trên Xuân bồ thì có con Luyến người cũng nhỏ thó như tôi. Nó cũng mồ côi Mẹ ở với dì ghẻ lại phải chăm lo mấy em nhà lại nghèo nên khổ lắm. Tôi với nó ít nói chuyện với nhau nhưng chúng tôi tỏ ra thông cảm và thương yêu bảo vệ nhau lắm. Tôi nhớ có lần tôi bị bọn con gái đấu tố vì một chuyện gì đó trong buổi sinh hoạt lớp hình như có đứa nào đó nói xúc phạm đến hoàn cảnh gia đình thế là con Luyến chồm chồm nhảy lên ước chừng như nuốt sống bọn kia để bảo vệ tôi. Sau này khi tôi bỏ học  nó thường ghé lại chỗ tôi làm việc thăm tôi và lần nào nó cũng khóc. Nó cứ hỏi Dì có đánh tôi không  tôi có được ăn no không. Nhiều lúc nó cứ đứng tần ngần nhìn tôi làm việc hai tay ôm cái cặp sách trước bụng nước mắt rưng rưng. Có hôm thấy nó cứ như mít ướt tôi quạu :- răng mi không về đi  về trễ Dì mi lại cú cho chừ. Nó nhấm nha nha nhấm nhảy bỏ về. Tôi nhìn theo thấy nó tồi tội nghĩ cũng thương...
   
  Dưới Quảng cư thì có con Lý Đỗ gọi là Lý Đỗ là vì hồi chúng tôi còn học chung lớp 10K (cũng là thầy Hồng chủ nhiệm). Lớp có mấy đứa tên Lý nó họ Đỗ nên gọi là Lý Đỗ. Con Lý có khuôn mặt như lấy com pa mà quay núng na núng nính như cái bánh đúc hơi lùn lại mập nên nhìn cứ tròn quay dễ thương như búp bê. Con Lý rất hay cười gặp chuyện gì cũng che miệng cười khúc khích. Có nhiều khi gặp chuyện vui thì hơ hơ thoải mái rất vô tư. Con Lý viết chữ rất đẹp. Không biết Ba Mẹ nó cho nó ăn cái thứ gì mà nó viết chữ đẹp thế cứ như vẽ vậy chữ nào ra chữ nấy nét đậm nét nhạt lên xuống đều rắp trăm chữ như một. Mỗi khi trường tổng kết cuối năm là nó lại được mời lên Văn phòng ngồi viết giấy khen nhìn oách lắm. Tôi thích chơi với con Lý vì nó là bạn học lớp cũ nhưng chủ yếu là mê chữ viết của nó. Nhiều khi ngồi nhìn nó viết mà miệng tôi cứ như uốn éo theo từng nét bút của nó. Phần thì con Lý hay cười mà nó cười vô tư thoải mái nên nhiều khi mệt mỏi hay có chuyện buồn phiền gì nghe nó cười thấy cũng nhẹ nhõm đi phần nào. Còn một việc nữa mà tôi với con Lý thân nhau hơn mấy đứa khác là vì con Lý cũng thích đọc sách và học giỏi văn. Thầy Hồng cũng cưng nó lắm.
   
   Dù đi về hướng Xuân bồ hay Quảng cư Thầy cũng hỏi tôi đi nhà đứa nào trước đứa nào sau. Cứ lên Xuân bồ nhất thiết phải chiều theo ý tôi là đến nhà con Luyến trước sau đó đi đâu thì đi. Tôi thích đến nhà con Luyến vì nó có hoàn cảnh như tôi. Dù là con nít nhưng chúng tôi đã biết thông cảm và quan tâm đến nhau. Con Luyến cực khổ vất vả hay khóc nhưng cũng hay cười. Nó cười hiền lành và ngây thơ rất dễ cảm tình. Hình như chúng tôi có một mối lo giống nhau là sợ bạn mình bị Dì ghẻ ngược đãi. Nên khi nó gặp tôi hay tôi gặp nó thay cho câu chào là câu hỏi: Dì mi có đánh mi hay không? Nghĩ cũng tức cười bọn tôi cứ nghĩ rằng trên đời này sự ngược đãi của Dì ghẻ là khủng khiếp nhất vậy. Chắc có lẽ do ảnh hưởng của chuyện Tấm Cám mà tâm lý chung của mấy đứa con nít mồ côi Mẹ đều thế.
  
  Đi về hướng Quảng cư thì tôi và Thầy không cần ai phải nhường ai vì cả hai cũng đều muốn đến nhà con Lý Đỗ. Nhà con Lý không làm nông. Mẹ nó làm trong bệnh viện Huyện. Ba nó cũng là cán bộ. Ở thôn quê mà có hoàn cảnh như thế là hãnh diện lắm. Cũng như khi khai sơ yếu lý lịch đứa nào mà được ghi vào phần Nghề nghiệp gia đình là: Công Nhân Viên Chức là đắc ý vênh váo lắm. Thầy thích đến chỗ con Lý vì con Lý học giỏi văn tính tình hiền lành ngoan và dễ hòa đồng với bạn bè. Tôi thì chỉ khoái mỗi cái cười của nó thôi. Vả lại làm lụng vất vả cả ngày bụng thì lúc nào cũng đói  được nhìn cái mặt nung núc của nó cũng cảm thấy hay hay mà no lại nghe nó cười nên cũng thư giãn được phần nào. Đến nhà nó chơi chủ yếu là nó ngồi tiếp thầy. Thầy dạy văn trò giỏi văn chuyện này chuyện nọ nói hoài không hết. Còn tôi thì ba cái chuyện Trích giảng văn học không ham lắm thường là chúi mũi vô một cuốn sách nào đó của nó đọc nếu không có sách thì tôi chơi bi với thằng em nó.
  
   Thỉnh thoảng tôi lại lén chạy xuống nhà con Xuyến chơi. Nhà con Xuyến ở Xuân lai nhưng lại giáp với Quảng cư từ nhà con Lý đến nhà con Xuyến không xa lắm. Tôi chạy đến ngõ nhà con Xuyến đứng ngoài cửa réo to lên : Xuyến ơi! mi có nhà không? Tau vô chơi có được không? Nếu gặp nó thì nó nói: Thì mi cứ vô đi ai cấm mô nhưng mà tau bận xắt chuối cho heo đã. Nếu nó bận làm gì đó thì Mạ nó ơi ới: Xuyến ơi có cái thằng lò gạch đến chơi tề. Chả là HTX Lệ bình chúng tôi chuyên làm gạch ngói và nấu vôi nên dân ruộng cứ gọi tắt là dân lò gạch. Và lúc nào nhắc đến tôi Mạ con Xuyến không gọi tên mà cứ gọi là thằng lò gạch nên có lần tôi nói với con Xuyến: Mạ mi mần như tau là Chí phèo không bằng khi mô cũng thằng lò gạch thằng lò gạch. Con Xuyến cười híc híc:  Thì mi ở trên lò gạch chứ gì nữa mà mi cũng như Chí phèo chứ răng tự nhiên chỗ mô chui ra rồi kêu toáng lên Xuyến ơi Xuyến ơi! không biết ôốc dôộc (hổ ngươi). Tôi cười hì hì nói với nó: Tau với Thầy Hồng tới nhà con Lý chơi rồi tau trốn xuông đây dòm cái lúm đồng tiền của mi. Con Xuyến mặt đỏ ửng cười khúc khích nói mi thiệt là Chí phèo rồi. Có lần tôi tới con Xuyến đang ngồi học bài. Khi con Xuyến ra tiếp tôi tôi nói: Nỏ cần mô tau đi ngay kẻo thầy Hồng la  mi bối tóc mi lên cho tau coi một tý. Con Xuyến biết cái tính bất thường của tôi miệng thì hỏi  để mần chi nhưng tay thì vẫn cứ bối tóc lên. Con Xuyến bối tóc lên nhìn nó hiền mà đẹp thật. Tôi nhìn thoáng qua rồi nói: Tau lên hỉ kẻo thầy đợi nói xong tôi lại hùng hục chạy về nhà con Lý. Lần khác tôi lại bắt con Xuyến lấy tay xoa lên đầu tôi. Con Xuyến cự nự lại : Mi khùng à? Tôi nói : khùng chi mà khùng  tau nhờ mi coi tóc trên đỉnh đầu tau còn hay hết thôi... (Hồi không biết sao tóc trên đỉnh đầu tôi rụng gần hết. Anh Ba thường hay đè đầu tôi xuống coi rồi nói : Tóc mi sói hết ri chắc mai mốt mi làm Bác học. Hồi đó rụng nhưng sau này lớn lên lại mọc nhiều hơn nên không trở thành bác học mà trở thành người tưng tửng). Con Xuyến hiền lắm với ai thì không biết chứ với tôi nói gì nó cũng nghe. Ngay ở trên lớp cũng vậy nhiều khi không có ai để chọc tôi lân la đến bên con Xuyến khi thì vuốt tóc một cái khi thi lấy tay chọc vô hông nó một cái. Bình thường mấy đứa khác chắc bị chửi rồi Nhưng nó chỉ lấy tay đập nhẹ lên vai tôi cười hiền nói : Cái thằng chó ni...
  
  Không biết con Xuyến thực sự có đẹp không nhưng với tôi hồi đó thì con Xuyến là đệ nhất mỹ nhân. Sau này bỏ học có khi tôi lội bộ mấy cây số đang đêm gọi nó ra nhìn nó một cái rồi về  y như thằng khùng vậy. Có dạo thấy trong lớp có mấy đứa lăm le định cưa con Xuyến hay sao ấy trong đó có anh Cườm và thằng Hải thỉnh thoảng tôi cũng có gặp tụi nó đến chơi nhà con Xuyến. Có lần tôi gọi con Xuyến hỏi : Mi ưng (thích) mấy thằng nớ à. Con Xuyến đỏ mặt nói : Thì bạn bè trong lớp tới chơi có chi mô. Tôi giả bộ trừng mắt: Mi đừng có mà hun chắc (hôn nhau) với mấy thằng nớ nghe tau chộ (tao thấy) tau đục mấy đứa nớ chết liền. Con Xuyến bĩu môi: Người mi như hột mít mà đục ai. Tồi nhe răng hề hề tay chỉ vào đầu: Thì tau đục tụi nớ trong đầu tau...
   
   Cứ nhiều lần như vậy thầy Hồng biết tôi hay lén đến nhà con Xuyến nên hỏi : Em thích em Xuyến à tôi hỏi lại : Thích răng? Thầy nói : Thì cảm tình đó. Tôi không trả lời điều thầy hỏi mà nói : Thầy chở em về nhà em em cho Thầy coi cái ni. Thầy chở tôi về đứng ngoài ngõ. Tôi chạy về nhà  bắc ghế  lấy cái ảnh của Mẹ tôi trên bàn thờ chạy đưa cho Thầy xem. Thầy ngắm một hồi lâu rồi nói : Lạ hỉ cứ như hai chị em rứa tê trên đời răng mà có chuyện trùng lặp hay thiệt. Tôi phát hiện ra con Xuyến giống Mẹ tôi từ hồi mới vô học lại lớp 10D nhưng tôi không hề nói với ai. Đó là một bí mật của riêng tôi tôi biết con Xuyến với Mẹ tôi không có một mối liên quan máu mủ nào cả nhưng do ngẫu nhiên mà giống nhau đến chi lạ. Chỉ là con Xuyến còn quá trẻ lại không hay bối tóc nên ít ai để ý chứ nó mà bối tóc lên cười tủm tỉm có cái lúm đồng tiền phơn phớt thì không khác gì ảnh của Mẹ tôi. Con Xuyến giờ này đã luống tuổi chắc lại càng giống hơn. (Khi nào về lại Xuân thủy tôi phải đến thăm và xem thế nào). Tôi dặn thầy Hồng đừng cho ai biết chuyện này vì đây là một bí mật rất riêng tư. Nếu người khác biết thì không hay sau này khó giao tiếp. Thầy cười không nói gì...
   
    Thầy Hồng cũng lo cho thi cử lại sau này của tôi nhiều lắm. Là thầy chủ nhiệm của tôi mấy năm thầy biết tôi không dốt chỉ tội học hành kiểu tài tử  đến lớp không ghi chép gì  hết chữ nghĩa lại như gà bới. Sợ tôi không có tài liệu ôn thi nên thỉnh thoảng thầy kiếm mấy cái đề cương ôn thi các môn xã hội đưa cho tôi nghiên cứu. Khi đi chơi Thầy hay tra bài xem tôi học đến đâu. Có khi Thầy ra đầu đề tập làm văn bắt tôi làm bằng miệng. Trên lớp làm bài kiểm tra viết thầy chưa khi nào cho tôi nổi một điểm 5 chỉ toàn là 1 hay 2  may lắm thì cho con 4. Nhưng lúc ra đề bài cho tôi làm miệng khi đi chơi thỉnh thoảng Thầy nổi hứng lên quên cả xưng hô theo đạo lý thầy trò: Mi giỏi  tau cho mi điểm 10. Thầy rất hay ra các đầu bài phân tích các bài thơ có trong trích giảng văn học. Tôi bản tính thích trào lộng nên lúc phân tích thường hay pha trò  làm thầy cũng khoái. Ví dụ như khi Thầy bắt tôi phân tích thơ của nhà thơ Tố Hữu tôi nói: Thầy lại bắt em phân tích thơ của cái ông thích ăn cháo lòng à. Thầy hỏi răng mi nói rứa? Tôi nói : Thì chỉ có thích ăn cháo lòng mới làm nổi câu thơ "Thịt với xương tim óc dính liền.." chứ răng. Hoặc khi phân tích thơ văn Nguyễn Đình Chiểu thì tôi lại nói : Dân mình tàn bạo thầy hè ngày thì muốn cắn cổ tối thì muốn ăn gan (..ngày thấy ống khói chạy đen sì muốn ra cắn cổ.. ). Lúc bàn chuyện văn học cổ tôi lại chọc Thầy: Dân mình chỉ thích đánh đấm với phá phách thì giỏi chứ xây dựng thì không ra răng cả hèn chi nghèo đói mạt rệp là phải. Thầy lại cự nự tôi nói bậy. Tôi lấy ví dụ Hịch Tướng Sĩ ra trả lời Thầy: Thì cái kiểu đánh một trận sạch không kình ngạc đánh hai trận tan tác chim muông..dưới nước thì hết cá trên trời thì hết chim đói là đúng rồi còn la chi nữa. Những khi đó Thầy hay cú lên đầu tôi : Ba em nói phải lắm em mà không quản thúc thì có ngày ở tù rục xương.
   
  Có một lần khi đến nhà con Lý chơi như mọi khi tôi để Thầy với con Lý trò chuyện với nhau rồi lẻn xuống nhà con Xuyến. Hôm ấy đã hơi khuya khuya rồi. Vừa về tới đầu ngõ nhà nó đang định réo tên nó thì thấy nó đang đứng trước ngõ với một thằng con trai. Tôi lom khom cúi xuống sợ nó nhìn thấy căng mắt để ý xem là thằng nào trong lớp thì thấy không giống thằng nào cả. Thằng này tướng tá cao hơn bọn trong lớp lại ăn mặc chỉnh tề bỏ áo vô quần hẳn hoi. Thấy người đó cầm tay con Xuyến mà con Xuyến không có phản ứng gì lại uốn éo ra chiều e lệ nũng nịu nữa chứ tôi bàng hoàng thầm nghĩ " rứa là tụi hắn ưng chắc rồi". Lòng tôi như có đám mây mù ảm đạm  giăng mù mịt với sự hụt hẫng như mất mát một điều gì đó. Tôi thẫn thờ vô thức bước đi cứ  bước đi mãi cho đến khi giật mình tỉnh lại thì thấy mình đang ở cuối làng Mai hạ ngay cái truồi (rìa làng) ở ngoài đồng nơi ngày xưa Mẹ tôi chết vì bom oanh tạc được chôn cất ở đó. Xương cốt Mẹ và 2 em đã được cải táng đem về trên quê nội rồi. Cái rìa làng này bao xung quanh là một lũy tre gai rậm rịt ở giữa có mấy cái cồn đất. Mộ Mẹ và 2 em trước chôn giữa cồn đất đó giờ mộ đã bốc đi rồi chỉ còn lại mấy cái hố cỏ mọc um tùm. Xung quanh là mấy miếng gỗ hòm đã mục nằm vương vãi trong cỏ. Tôi đến bên cái huyệt cũ ngày trước chôn Mẹ ngồi xuống cũng rất là vô thức chẳng nghĩ ngợi gì nhiều lắm chỉ hồi tưởng lại sơ sơ ngày Mẹ mất như thế nào thôi. Tay mân mê xọc vào trong cát đất đùa qua đùa lại. Có lẽ vì tôi buồn chuyện con Xuyến có người nắm tay nên mới ngơ ngẩn như vậy.
 Hai tay mân mê đất cát tự nhiên có cảm giác nham nhám lạo xạo nơi lòng tay. Tôi cầm lên hối hả rũ đất cát xuống hóa ra là một nhúm tóc. Chắc có lẽ ngày bốc mộ Mẹ còn sót lại.
  
  Tôi mừng rơn cầm nhúm tóc của Mẹ chạy ra ruộng rửa sạch   lấy áo thấm khô rồi nâng niu rất thích. Tôi băng ruộng trở về nhà. Giờ này chắc Thầy Hồng cũng về rồi nên tôi theo đường ruộng từ đuồi Mai hạ nhắm làng tôi mà về.
  
   Trong đêm tĩnh mịch xung quanh chỉ là ruộng lúa bạt ngàn   chỉ có mình tôi lầm lũi bước đi. Nhưng tôi không sợ gì cả và cũng không còn cảm giác buồn chuyện con Xuyến nữa. Gió rừng từ mạn Phú thủy thổi về phe phất lên mặt rười rượi làm cho mình có cảm giác nhè nhẹ hay lắm. Đang đi tự nhiên có con chim cút bên bờ ruộng rù rù ..bay vụt lên làm tôi gật thót một cái  rùng mình như có một luồng ớn lạnh chạy từ trên gáy xuống chân sau mấy giây thì hết. Tự nhiên sau đó người bỗng thấy thư thái hẳn đi. Tâm trí rất nhẹ nhành bình thản và đầu óc như sáng sủa hẳn lên. 
   
  Không biết vì sao lúc đó tôi  lại nghĩ đến mấy câu thơ của Tago hình như in trong tập "thơ dâng" hay "người làm vườn" chi đó lâu rồi không còn nhớ nữa đại loại như vầy: " Xin bạn đừng chôn chặt trong tim những nỗi buồn thầm kín rồi kể cho tôi nghe kể cho riêng tôi nghe mà thôi đừng cho ai biết chỉ kể trong bí mật bạn hãy mỉm cười thật duyên dáng thật nhẹ nhàng và thì thào như tiếng gió thoảng tôi sẽ nghe bạn kể không phải bằng tai mà bằng tiềm thức sâu lắng của mình bằng con tim của mình hãy kể cho tôi nghe tất cả về bạn qua trong nước mắt lưng lửng qua nụ cười ơ hờ và gượng gạo qua đau thương thấm đẫm lìm lịm lặng thầm như nỗi niềm thầm kín bấy lâu chôn kín trong trái tim của bạn..". Và cứ vậy tôi vừa đi vừa đọc thơ của Tago hình như tôi đọc thuộc hết cả tập "Thơ Dâng" hay sao ấy chỉ biết từ đó về nhà tôi đọc không nghỉ đọc suôn sẻ một cách kỳ lạ không cần phải gắng gượng để nhớ. Thơ Tago là loại thơ khó đọc hồi đó người ta chỉ dịch như văn xuôi. Có câu dài đến 2 -3 dòng khó học thuộc lòng lắm. Tôi có tập thơ này và quí lắm cũng đọc đi đọc lại nhiều lần nhưng không cố ý học thuộc. Vậy mà không biết tại sao hôm ấy tôi đọc làu làu thế.
  
   Hôm sau lại cũng như chuyện viết chữ tôi thử đọc lại mấy bài thơ hôm qua thì cũng tịt chỉ nhớ được lõm bõm vài câu. Thật là lạ.
  
   Hôm ấy sau tiết giảng văn cuối cùng thầy Hồng ngoắt tôi lại hỏi: Bữa qua em đi mô làm thầy đợi khuya mới về? Tôi cẩn thận nhìn quanh rồi kéo thầy trở lại lớp học thì thào : Thầy ơi! em lại bị ma nhập nữa rồi .
  Thầy hỏi chuyện gì. Tôi kể lại y chang chuyện đọc thơ Tago tối qua rồi chuyện sáng nay không còn nhớ nữa. Thầy im lặng hồi lâu rồi nói: Đó là ám ảnh của tiềm thức em đọc truyện nhiều quá nên ám ảnh vô đầu thỉnh thoảng gặp chuyện kích thích thì nhớ lại chứ không có ma quỉ gì đâu. Từ nay đọc ít thôi không thôi có ngày bị loạn chữ thành điên đó. Tôi lại cười hề hề trêu thầy: Là như anh cu Chí vừa đi vừa chửi chứ gì bớ cái làng Phan xá  bớ cái làng Quảng cư ...hì hì...
 
(Xin xem tiếp phần 3)
   
 

More...

THỜI HOANG DẠI - 8

By Lê Thuận Nghĩa

 THẦY HỒNG (Phần Phụ)
  

Trong phần trước tôi có kể chuyện về tô mì sợi mà Thầy Hồng cho tôi ăn hôm đó. Có thể nói đó là tô mì định mệnh của đời tôi. Chính nhờ tô mì đó mà tôi hiểu thế nào là hạnh phúc đích thực của một đời người tôi hiểu thế nào là sự an lạc và vô ưu. Và cũng chính nhờ tô mì đó mà Thầy tôi đã trút hết tâm huyết của cả một đời hành nghề y để rèn giũa tôi thành một con người hữu ích. Chính tô mì đó đã giúp tôi thấu ngộ được nhiều bí ẩn trong y lý để rồi tự mình sáng chế ra những phương toa kỳ diệu giúp đỡ cho bệnh nhân của mình trong đó có phương "Thầy Hồng" (tôi đặt tên vậy để tưởng nhớ đến người Thầy thủa hàn vi của mình) là một phương pháp trị bệnh Thiên Đầu Thống (Migräne- một chứng bệnh đau nửa đầu thường gặp) rất có hiệu quả. Một phương toa đã đưa tôi lên với danh hiệu một trong những người trị bệnh Migräne  hay vào loại bậc nhất châu Âu.
  
   Một trong những ca bệnh mà tôi sử dụng phương "Thầy Hồng" có nhiều điều đáng kể nhất là lần chữa bệnh đau đầu cho ông triệu phú Schymura. Và lần chữa bệnh Migräne cho một ông tỷ phú dầu hỏa người Nga.  Nhân tiện đây tôi cũng xin kể lại chi tiết về cách tôi dụng toa như thế nào để nếu đồng nghiệp nào có hứng thú nghiên cứu ứng dụng giúp đời luôn thể.
   
   Dòng họ Schymura nổi tiếng giàu có ở thành phố Göttinen  thành phố sinh viên  nơi có một trường Đại học tổng hợp mà tác giả của Thuyết tương đối và người phát minh ra vac-xin đã từng giảng dạy. Nghe nói rằng 3 anh em nhà Schymura đóng thuế  gần 50% tổng số thu nhập thuế của thành phố này. Ông Schymura thứ 2 có tên Wener người được đề danh trong cuốn "Who´s  is Who´s" một cuốn sách liệt kê các nhân vật lừng danh trên thế giới (Trong đó Việt nam có Chủ Tịch Hồ Chí Minh Đại tướng Võ Nguyên Giáp Giáo sư Nguyễn Hoàng Phương và Giáo sư Nguyễn Tài Thu). 
 
  Ông Wener  mắc chứng bệnh đau nửa đầu bên trái kinh niên cơn đau có chu kỳ mỗi tháng 2 lần mỗi lần kéo dài 2 ngày cơn đau kịch liệt nhất vào ngày thứ 2. Mỗi khi như vậy đầu đau như búa bổ mắt căng như muốn vỡ chóng mặt và buồn nôn khi cúi xuống hay lắc đầu qua lại thì có cảm tưởng như trong đầu có khoảng trống  long óc và buốt toát cả mồ hôi (y như căn bệnh được mô tả nhân vật chính trong Ruồi Trâu vậy). Ông bị bệnh đã hơn 20 năm chạy chữa rất nhiều phương pháp sang cả tận Trung quốc châm cứu nhưng không khỏi. Tình trạng cuối cùng khi đến gặp tôi là đã phải dùng đến mooc-phin để làm giảm cơn đau. Đây là một chứng bệnh mà Tây y không tìm ra được nguyên nhân (Migräne) và liệu pháp chỉ sử dụng các loại thuốc giảm đau hoặc nếu trầm trọng thì dùng liệu pháp y tế làm tê liệt dây thần kinh.
   
   Tôi nhận chữa trị cho Ông với yêu cầu phải tuân thủ hoàn toàn theo chỉ dẫn của tôi. Đầu tiên tôi bắt ông phải giảm chế độ ăn uống tránh các thức ăn nhiều dầu mỡ và protein. Trong hai tuần liên tục mỗi ngày phải uống 4-5 lít nước lọc. Khi hết 2 tuần thì tôi bắt phải nhịn đói hoàn toàn trong 3 ngày chỉ được phép uống nước lọc lượng nước không hạn chế. Đến ngày thứ 3 tôi cho ông ăn một tô mì sợi đúng kiểu tô mì của Thầy Hồng cho tôi ăn ngày xưa. Sau 3 tiếng đồng hồ sau tôi bắt đầu châm cứu. Đầu tiên là châm đắc khí huyệt Côn lôn phía bên đầu không đau. Tiếp đến châm đắc khí huyệt Túc tam lý cũng bên không đau. tiếp nữa lần này thì châm huyệt Tuyệt cốt bên phía đau. Khi ba huyệt phía chân được dụng thủ pháp tấn kim cho đến khi đắc khí đến rần tức thì tiếp tục lần lượt châm đắc khí các huyệt Hiệp cốc và Khúc trì cả hai bên ( bệnh nhân ngồi hai chân thả lỏng chứ không nằm). Sau đó tôi đứng phía sau lưng của ông  bắt ông thở ra hít vào theo sự điều khiển của tôi rồi từ từ nương theo hơi thở đó mà tấn kim châm vào 2 huyệt Phong trì. Khi 2 huyệt Phong trì châm đắc khí độ 5 phút thì cũng nương theo hơi thở từ từ rút kim ở huyệt  Phong trì ra. Tiếp tục dùng tiếng nói trầm ấm hướng dẫn ông thở ra hít vào nhẹ nhàng và buông lỏng toàn thân. Khi cảm thấy tình trạng của ông đã đạt đến cữ thư giãn cần thiết tôi hít vào một hơi thở thật sâu tụ khí ở đan điền rồi bất thình lình hét to một tiếng  vận khí ra lòng bàn tay phải vỗ mạnh vào huyệt Đại chùy của ông ta. Ngay thời điểm đó thấy toàn thân ông ta run lên bần bật thất thần trong một vài giây rồi nhanh chóng hồi tỉnh lại khi đó tôi bắt đầu rút kim ra hết kết thúc buổi điều trị. Và chỉ có một lần chữa trị duy nhất đó mà thôi căn bệnh 20 năm hành hạ ông ấy không có thuốc chữa đã biến mất cho đến bây giờ chưa tái phát lại một lần nào (13 năm rồi).
   
   Còn trường hợp của Ông triệu phú dầu hỏa Nga thì có đặc biệt hơn chút ít. Ông này cư ngụ ở Tây ban nha là bạn của Bà Gabori cũng là bệnh nhân của tôi. Bà là một chủ tiệm đồ cổ  cũng có tên trong cuốn . Ông này cũng có bệnh như Ông Schymura nhưng nhẹ hơn và chu kỳ ngắn hơn. Ông ấy mua vé cho tôi bay sang Malaga để trị cho ông ấy. Khi sang đó tôi yêu cầu ông không được uống vodka và bắt đầu giảm chế độ ăn uống. Đến ngày thứ tư khi kiểm tra thấy ông vẫn còn uống rượu tôi từ chối trị bệnh cho ông và ngay tức khắc trở về Đức. 3 ngày sau ông liên lạc và chịu mọi phí tổn đi lại và điều trị. Tôi từ chối và nói nếu ông không từ bỏ vodka trong giai đoạn này và mỗi ngày uống không nhiều hơn 4 lít nước lọc thì đừng gọi điện thoại cho tôi nữa. 2 tuần sau ông bay trên một chiếc phi cơ cá nhân đến sân bay Hannover và nghỉ lại ở một Hotel. Lúc đó tôi mới chịu chữa cho Ông. Và liệu trình chữa trị giống hệt như phương pháp chữa cho Ông Schymura vẫn cứ phải làm một tô mỳ "Thầy Hồng" sau 3 ngày nhịn đói. Và cũng chỉ một lần điều trị duy nhất. Sau 5 tháng sau Ông gọi điện thoại cho tôi và nói "Ô- chin- xi-ba-xi- bơ môi-e ta-va-rit..". Từ đó đến nay không thấy liên lạc nữa.
   
   Liệu pháp "Thầy Hồng" này tôi đã chữa trị cho rất nhiều người  dù họ bị bệnh bao lâu đi nữa cũng không thành vấn đề miễn sao phải thực hiện đúng như liệu pháp. Chỉ cần lưu ý rằng thức ăn cho sau ba ngày nhịn đói không nhất thiết phải là mì sợi. Vì đó là cái tính cố chấp của tôi để tưởng nhớ đến người Thầy giáo mà tôi yêu quí từ hồi ấu thơ. Thức ăn tốt nhất là nấu một bát cháo hạt Ý dĩ và Hoài sơn. Cháo đó có tính bồi bổ khí Tỳ Vị cao. Trong khuôn khổ của một bài viết về ký ức tôi không thể giải thích cặn kẽ phương toa này. Nhưng tôi tin rằng vị nào có nghiên cứu về Đông y sẽ am tường và tự lý giải được căn nguyên mà phương toa có tác dụng kỳ diệu đến vậy.( Nếu quí vị nào có hứng thú mà chưa hiểu cặn kẽ muốn hỏi kỹ về thủ pháp xin viết ở phần cảm nhận tôi sẽ giải thích rõ)
    
  Từ ngày chữa khỏi bệnh cho Ông Schymura tôi trở thành bác sĩ gia đình cho dòng họ nhà ấy. Sau này khi rời khỏi thành phố Göttingen trách nhiệm đó được giao lại cho người bạn cũng là học trò của tôi Tiến sĩ- Lương y Nguyễn Ngọc Minh đảm nhận. Cũng từ dạo đó Anh em nhà Schymura rất là tôn sùng Đông y. Thậm chí Ông Wener còn nói " Tụi Bác sĩ  Đức có não bộ cấu tạo bằng đậu hũ" .
   
   Để tỏ lòng biết ơn tôi gia đình ông Wener mời tôi đi dự một bữa tiệc chiêu đãi tại một nhà hàng 5 sao. Tôi vốn rất ghét những nơi tụ họp hoặc những cuộc ăn nhậu đàn đúm vô bổ nhưng vì nể mặt nên phải nhận lời. Cũng muốn đi một lần để thử xem giới thượng lưu phương Tây thể hiện nghệ thuật ẩm thực như thế nào.
  
  Thật là một bữa tiệc gò bó và vô duyên hết sức mà tôi chưa bao giờ chứng kiến. Một chiếc bàn dùng cho 4 người rộng còn hơn cả cái bàn bóng bàn. Món thức ăn đầu tiên là món nấm được đựng trong một cái đĩa bằng bạc to hơn cái mâm cơm nhà mình trên có úp một cái chụp cũng bằng bạc điêu khắc những họa tiết rất công phu. Rồi khi người bồi bàn mặc đồng phục có tua ngù như tướng lĩnh thời Na-Pô-Lê-Ông Đại Đế cầm cái nắm mở ra thì hỡi ôi!  chỉ có mấy sợi nấm lèo tèo rắc mấy cọng rau gì đó xanh xanh xung quanh thì có mấy đóa hoa hồng đủ màu rải làm trang trí. Tất cả thức ăn đựng trong cái mâm đồ sộ đó tôi ước chỉ đúng một gắp đũa không hơn không kém. Lúc ăn vào thấy nhàn nhạt tanh tanh mùi đất. 
    
Lúc khai vị Ông Wener có gọi một chai rượu vang. Trước khi khui người bồi bàn để chai rượu lên trên một cái khay có lót nhung đỏ tay đeo găng trắng xoay xoay chai rượu cho mọi người nhìn thấy. Chai rượu có nhãn hiệu sản xuất năm 1914.  Rượu được rót ra ly cho mỗi người với một thủ tục rất rườm rà. Mọi người cầm lên đưa qua đưa lại trước mũi hít hít rồi mới nhấp vào môi. Tôi cũng bắt chước làm vậy thì thấy bốc lên một mùi thum thủm như mùi dấm chua. Khi nhấp vào thì thấy lờ lợ như vị của canh rau muống thiu. Vậy mà mấy vị kia hít hà mắt lờ đờ có vẻ đắc ý lắm.
     
 Món ăn kế tiếp là món trứng cá công nhận chúng nó kiếm đâu ra loại trứng cá to thế  ước chừng phải gần hạt đậu xanh nhà mình màu đen bóng nhìn cũng hấp dẫn lắm nhưng khi ăn vào thì tanh. Kém xa món nhộng tằm nhà mình nhiều...
   
   Lúc về ngồi trên xe  Ông Wener hỏi tôi " Bữa tiệc hôm nay có làm ngài ngon miệng không?". Tôi xuýt nữa là văng tục . Nhưng vẫn cứ phải đưa đãi " Ồ! là một bữa tiệc mà trong đời tôi chưa từng biết đến". Ông ta nói: "Hy vọng sẽ làm ngài vừa ý". "Cảm ơn! cảm ơn tôi rất hài lòng". Vừa trả lời vậy nhưng trong đầu tôi thầm chửi :"Con bà nó! tý nữa là làm bố mày ói". Tôi làm bộ tò mò hỏi: "Thưa ngài! tôi biết rằng nếu hỏi chi phí cho một cuộc tiệc mời là rất khiếm nhã nhưng quả thật tôi rất tò mò muốn biết bữa tiệc này chi phí hết bao nhiêu. Vì tôi cảm thấy với một bữa tiệc tuyệt vời như thế này mà không biết được cái giá của nó thì thật là một điều thiếu sót. Nếu không có gì phiền ngài ngài có thể cho biết được không". Ông ta ngập ngừng rồi trả lời: - "8500 Euro(15000 DM) trong đó chai rượu vang trị giá 4500 Euro. Đó là một trong 37 chai rượu vang danh tiếng còn lại". Tôi xuýt chết ngất vì con số khổng lồ đó. Nhất là mấy hớp nước có vị canh rau muống thiu mà tôi phải cố nuốt ít nhất cũng xấp xỉ cả ngàn Euro. Được rồi chúng mày chơi bố mày tiếc tiền đến quặn cả ruột thì để bố mày chơi lại cho biết tay.
   
    Xe chạy một khoảng tương đối xa. Tôi giả bộ ôm ngực và nấc lên thì thào " Thưa ngài hãy đưa tôi đến bệnh viện cấp cứu gấp". Ông Wener hốt hoảng bật đèn pan rê xe vào vệ đường. Vợ và con ông ta cũng rối rít hỏi "Ngài Lê ngài bị làm sao vậy ngài có nghe chúng tôi hỏi không". Tôi mở mắt nhoẻn miệng cười hì hì  nói: " Là bởi tại tôi tiếc tiền ấy mà". Đến lượt ông Wener hổn hển " Bây giờ thì các người phải đưa tôi cấp cứu rồi"
   
   Từ bữa tiệc đó tôi không còn thân mật với gia đình họ nữa. Họ có mời tôi đi dự tiệc thêm mấy lần nhưng tôi đều từ chối. Sau đó vợ ông ta giải thích với tôi rằng số tiền chi phí cho bữa tiệc đó được chiết khấu trong phần chiêu đãi khách mà theo nguyên tắc là được trừ vào thuế thu nhập. Nếu không chi phí cho bữa tiệc thì số tiền đó cũng phải nộp thuế hết. Từ khi bà ấy giải thích quan hệ chúng tôi mới tốt đẹp trở lại. Nhưng tôi vẫn không chịu nhận một lời mời nào nữa. Ăn uống chẳng ngon lành gì chỉ tức tối vì xót tiền dù rằng là không phải tiền của mình. Sau đó tôi kể lại chuyện tôi bị đói ra sao. Thầy Hồng cho tôi ăn tô mì sợi như thế nào  và bắt nguồn từ sự đói khổ đó mới có phương pháp để chữa trị cho Ông. Cho nên tôi không cho phép mình lạm dụng và tiêu pha hoang phí vô nghĩa được. Từ đó về sau họ không còn mời tôi dự tiệc nữa.     
  Và Bà Schymura không còn đi mua hàng ở những cửa hàng dành cho vip mà rất cẩn thận lật lên hạ xuống từng món hàng khi xem giá ở những cửa hàng rẻ tiền dành cho người nghèo.
   
   Trong nghệ thuật ẩm thực của Á Đông thời nay  cụm từ "sơn hào hải vị" là cụm từ được sử dụng một cách vô nghĩa lý nhất. Những món ăn hiếm hoi đắt đỏ và có tính chất bồi dưỡng cao chỉ được sử dụng cho những tấm thân đã quá thừa mứa chất dinh dưỡng. Nhiều lúc nó chỉ còn là  những món ăn ước lệ để cho những vị trưởng giả học làm sang khoe mẽ cái túi tiền dày cộm của mình.
 
  Một món ăn ngon là một món ăn không những thỏa mãn những thói quen thèm muốn của vị giác mà còn là một món ăn mà khí hóa của nó được thăng hoa phát tán trong châu thân tinh chất của nó thấm vào lục phủ ngũ tạng và thăng hóa thành thần khí làm cho tinh thần và cảm giác của người hưởng thụ lâng lâng trong một niềm hưng phấn khoái lạc rất diệu kỳ. Với những người giàu có ăn uống phủ phê không chừng mực thì sơn hào hải vị không còn là những món ăn bổ dưỡng nữa mà ngược lại là những liều độc tố đang đưa nhanh họ về với cát bụi.
   
   Tôi vẫn rất tự hào với mọi người với bạn bè tôi là người may mắn. Vì tôi đã biết thế nào là sơn hào hải vị. Tôi là người thấu ngộ được cái nghệ thuật ẩm thực vi diệu nhất trên trần gian này. Tất cả niềm vinh quang chói lọi đó được tạo nên từ một tô mì sợi giản đơn và linh thiêng: Tô mì "Thầy Hồng"
  
(Xin xem tiếp "Thầy Hồng" phần 3)
   
   
  
 

More...

THỜI HOANG DẠI - 7

By Lê Thuận Nghĩa

   THẦY HỒNG 1

Ngày tôi thi trượt tốt nghiệp phổ thông niên khóa 1975/1976. Bạn bè và những người thân không mấy ai ngạc nhiên cả. Nhưng hầu hết ai cũng vỗ vai an ủi : "Chà học tài thi phận thua keo này ta bày keo khác". Họ không ngạc nhiên không phải là vì sức học tôi kém mà bởi vì ai cũng đoán trước cái kết quả hiển nhiên. Làm sao tôi thi đậu được khi  mà không có một Thầy Cô chấm bài nào có thể đọc được chữ viết của tôi.
  
   Có 3 người im lặng không có một thái độ gì rõ rệt trước thất bại của tôi. Đó là thầy Hồng thầy giáo chủ nhiệm   Ba và tôi.
   Có một điều rất khó hiểu là khi biết tin tôi thi trượt. Ba hoàn toàn không có một phản ứng gì trong khi tôi cứ nghĩ rằng sẽ có một trận đòn vô tiền khoáng hậu xảy ra nên đã vội vã chuẩn bị các vật dụng tự cấp cứu như bông băng thuốc đỏ và cỏ mực... Vì biết đây là một chuyện tày đình tốn công sức tiền của hơn mười mấy năm học hành nên tôi còn cẩn thận chuẩn bị thêm một số nẹp để phòng hờ có thể bị gãy tay gãy chân.   Quá đáng hơn nữa là tôi nhờ thầy Hồng tới đi quanh quẩn xung quanh nhà tôi nếu xảy ra tình trạng nguy hiểm đến tính mạng thì la làng báo động chòm xóm đến cứu.
  
   Mọi sự chuẩn bị xong xuôi tôi mới có đủ nghị lực để thông báo cho Ba biết là tôi đã bị trượt. Tôi hết sức kinh ngạc khi Ba không có biểu hiện gì giận dữ hay thất vọng cả ngược lại còn ôn tồn nói : " Đừng buồn con ạ không ai có thể cưỡng lại số phận đâu"
 
  Tôi lén chạy ra báo với Thầy là không có chuyện dữ xẩy ra. Cả tôi và Thầy đều nghi nghi hoặc hoặc trong một tình huống rất hiếm lạ.
 
   Thầy Hồng vừa là Thầy chủ nhiệm vừa là giáo viên dạy văn. Thấy tôi là học trò nghiền sách trong lớp lại loắt choắt còi cọc nhất vả lại có hoàn cảnh đặc biệt vừa đi học vừa đi làm mà bị đòn roi tối ngày nên thầy thương tôi lắm. 
  
    Mùa hè năm ấy bạn bè náo nức đi thi đại học náo nức chờ báo điểm rồi liên hoan chia tay thoát ly đi học chuyên nghiệp. Còn tôi thì vẫn một mình với một con thuyền 5 hì hục dưới lòng sông Kiến giang lặn cát lặn sỏi. Cũng có chút gì đó mặc cảm nhưng tâm trí đâu mà nghĩ nhiều đến chuyện đó. Công việc vất vả cùng với những cơn đói triền miên đã cuốn tôi vào trong một thế giới trầm mặc khá dị thường. Lặng lẽ hơn lì lợm hơn bất cần hơn. Tôi trở thành một đứa bé khó hiểu u uất và lạ lẫm từ đó.
    
    Thằng Hào Tờn thi đậu vào trường Đại học Lâm nghiệp ở Đông triều Quảng Ninh Thằng Tỏa đi xuất khẩu lao động ở Bun-ga-ri. Thằng Ngọc Bỗng thằng Hiệu đi bộ đội biên phòng. Anh Hộ thằng Lập Phí cùng bọn con gái học với nhau từ nhỏ như con Liên con Việt ..đều đi học sư phạm. Anh Ba thì đi dạy học trong Quảng trị từ năm ngoái. Bà nội thì cứ như một người ở  cứ nhà cô nhà chú nào có việc cần lại kéo Bà đi. Tôi chỉ còn lại một mình may mà hồi ấy vẫn còn mê sách nên không cảm thấy cô độc lắm. Thiếu vắng bạn bè nên tôi chỉ lầm lũi và ít nói hơn thôi.
    
   Sắp đến năm học mới  thầy Hồng đến tìm tôi trên bến đổ cát. Thầy khuyên tôi đi học tiếp. Tôi nói không biết Ba có cho không vì nhà không còn ai Ba thì đau yếu không làm việc được nữa. Thầy bảo để Thầy đến trực tiếp gặp Ba thuyết phục Ba cho tôi đi học lại. Thầy nói là làm hôm sau tôi đi gánh cát về thấy Thầy ngồi uống nước trà và trò chuyện với Ba nơi tấm phản kê dưới giàn bầu. Năm học đó tôi lại được tiếp tục đến trường. 
    
    Tôi nhập học với lớp 10D lớp do thầy Hồng chủ nhiệm. Trong lớp cũng có mấy đứa bạn cũ cùng hoàn cảnh thi trượt như tôi học lại con trai thì có thằng Hùng Chân con gái thì có con Huyến con Bé Lư con Lý Đỗ..Hồi đó mấy đứa con gái thì đã trổ mã thành thiếu nữ hết rồi mà tôi thì vẫn lẹt đẹt như một thằng học trò cấp 2 nên ít chơi thân. Thằng Hùng Chân là con nhà Việt kiều từ Thái lan về con nhà giàu dù ở cùng xóm nhưng ít khi chơi với nhau. Vì vậy mà tôi đến lớp cũng khá lẻ loi vì bọn kia vốn là lớp dưới cũng không quen lắm. 
    
   Cùng nhập học năm đó có Cườm đi bộ đội về học lại là người đứng tuổi và chững chạc nhất lớp nên cũng có vẻ chưa hòa nhập được. Vậy là 2 thằng lạc lõng trở thành đôi bạn thân đầu tiên. Anh Cườm đi bộ đội về nên có nhiều hiểu biết ăn mặc là lượt mốt mới đầu vuốt xóay láng bong quần thì hơi loe  ra vẻ tay chơi lắm. Tôi thì nhỏ thó áo quần sờn rách lam lũ  lại đi chân đất không guốc dép gì cả vậy mà hai anh em tâm đắc lắm. Chúng tôi ngồi ở hàng ghế sau cùng trong góc lớp như một thế giới riêng biệt.
    
    Tôi thì vẫn như ngày trước chỉ có 2 cuốn vở lận lưng  không có cặp sách. Bao nhiêu môn học cũng chỉ có chừng ấy mà chắc gì đã ghi chép hết. Vì đôi khi một tiết giảng tôi chỉ cần ngang dọc vài nét ký hiệu là đủ thâu tóm tất cả rồi. Vì vậy tôi lại trở thành một học sinh cá biệt lớp học mới này. 
     
Lớp học được chia thành từng tổ đội và thi đua thành tích dữ lắm. Cứ đến tiết học cuối cùng là có buổi sinh hoạt lớp để bình bầu thành tích học tập và phấn đấu thi đua. Buỗi sinh hoạt này rôm rả lắm tranh đấu bới móc lẫn nhau bình lên hạ xuống không khác gì một cuộc họp chi bộ Đảng cả. Sau buổi sinh hoạt lớp là "Thanh niên về Đoàn viên ở lại" họp Ban Cán sự tiếp. Tôi và anh Cườm không có biểu hiện gì quậy phá nhưng nhìn bề ngoài thì có vẻ dị hợm lì lì khó gần nên thoạt đầu không có tổ nào chịu nhận cả vì sợ ảnh hưởng đến thành tích của tổ. Nhất là tôi họ lại càng ngần ngại hơn vì họ biết chắc thế nào cũng bị điểm chấm vở kém ảnh hưởng đến thành tích chung của tổ. Cuối cùng thầy Hồng phải trực tiếp phân tôi về tổ của thằng Hào Dé. Thằng Hào Dé lúc đó vừa là tổ trưởng vừa là lớp phó phụ trách học tập vừa là bí thư chi Đoàn.
  
   Thằng Hào Dé là cái thằng gửi cho tôi tấm ảnh của lớp sau 31 năm khi hắn phát hiện ra tôi trên Blogs. Thằng Hào Dé là con út đến 9- 10 tuổi vẫn đang còn bú. Hồi nhỏ chúng tôi thường chơi trốn tìm hay đánh trận giả trên sân kho HTX. Cứ chơi một lúc lại phải chờ hắn chạy về nhà bú một cái mới ra chơi tiếp. Vì vậy nên đi học muộn. Khi học hết cấp 2 thì đã quá tuổi vào cấp 3 vì vậy hắn phải lang thang ở nhà thêm 1 năm nữa. Hắn không được đi học buổi sáng cứ đứng đầu đường nhìn mấy đứa khác đi học rồi về nhà ngồi khóc hu hu hình như dạo đó hắn thôi bú rồi thì phải. Bọ hắn và mấy anh hắn thương em chạy đôn chạy đáo khắp nơi xin cho hắn đi học mà không được. May sao anh hắn gặp được Thầy Tiêu ba thằng Diệu. Thầy Tiêu nói với anh là Thầy Chấn làm ở phòng giáo dục. Thương nó hiếu học nên Thầy Chấn gửi gắm hắn cho Thầy Thuần hiệu trưởng cấp 3 nhận nó vào học.
     
Được đi học lại hắn mừng lắm nên năng nổ chịu khó và ham học. Thành tích học tập lúc nào cũng đứng nhất lớp buổi chào cờ nào cũng được tuyên dương cả. Hắn ham học nên sợ người khác bị thôi học vì vậy mà lo lắng cho tất cả. Hắn rất ghét mấy đứa bị điểm kém và thường càm ràm thậm tệ mấy đứa không chịu học bài cũ ở nhà. Ai cũng nghĩ rằng vì hắn làm bí thư Đoàn nên háo thành tích. Chỉ có thầy Hồng là nghĩ khác. Hôm phân công tôi về tổ của hắn thầy tâm sự với tôi : "Song Hào hiếu học chịu khó học và có khát vọng em ấy lo lắng cho tất cả bạn bè và mong ai cũng học giỏi như mình có em ấy Thầy cũng đỡ vất vả..."
     
 Mà đúng vậy có lẽ suốt cả quãng đời sau này của hắn cũng như thời thơ ấu vậy chỉ lo cho bạn bè thôi. Nước mắt của hắn khô vì bạn bè chứ không phải nhỏ xuống vì người thân. Cái tính cách đó vẫn còn thể hiện y chang khi chơi Blogs. Hắn không có một "căn nhà" riêng cho mình chỉ suốt ngày lo comment cho người này commet cho người kia sợ họ ít comment họ buồn... Đúng là ngôi sao màu Hồng mà (Sao Hồng).
   
   Lớp rất nhiều con gái trừ mấy đứa học lại là bạn cũ như Bé Lư Huyến Lý Đỗ ..thì tôi ít thân với đứa nào vì vậy mà khi thằng Hào gửi ảnh cho tôi tôi cứ ngồi tưởng tượng lại mà chỉ nhớ tên được vài đứa. Còn mấy đứa con trai thì tôi nhớ gần hết. Bọn con trai thì tôi cũng chỉ thân với mấy thằng hay đọc sách như thằng Đổng mập thằng Lay cọt thằng Thống thằng Bộ...Hồi đó tôi không những không ưa bọn con gái thậm chí còn ghét nữa. Vì cứ đến buổi sinh hoạt lớp là bọn chúng lao xao hùa nhau đấu tố dữ lắm như bọc con Xê con An cọt chẳng hạn. Tôi vốn có ám ảnh với những câu chuyện đấu tố thời cải cách vì vậy rất ghét chuyện nhiều người xỉa xói một người. Sau này trưởng thành vào đời cũng vậy cứ thấy ai bị nhiều người nạo kiểm điểm dù họ đúng hay sai tôi đều đứng về phía họ cả. Biết đó là tật xấu nhưng không bỏ được. Ví dụ như vừa rồi trên mạng thấy báo chí phanh phui chuyện làm phim Linh Hồn Việt Cộng biết là ông Minh Chuyên có lỗi nhưng thấy mọi người hùa vào đánh Ông tơi tả tôi lại thấy thương Ông đến thế cứ nghĩ đến chuyện hồi cải cách hay chuyện Nhân văn giai phẩm mà rùng mình. (Nghĩ rồi lại thương anh Hoàng Cát với Cây Táo Nhà Ông Lành ngày xưa. Không biết anh ấy dạo này sức khỏe thế nào mà không thấy post bài nữa). 
   
   Thầy Hồng hồi đó chưa có vợ ở lại trong khu tập thể giáo viên của trường. Cứ chiều chiều Thầy lại cọc cạch đạp chiếc xe Thống nhất nam lên nhà tôi. Đợi tôi làm xong công việc là hai Thầy trò chở nhau đi chơi. Cứ gặp mặt là hỏi: "Học bài chưa". Tôi cười hề hề : "Thầy biết rồi còn hỏi có chi mô mà học thuộc lòng hết từ năm trước rồi". Có lần Thầy cho tôi điểm 1 bài tập làm văn rồi đem chưng cho cả lớp xem chữ viết của tôi. Sau đó khi Thầy trò đi chơi Thầy hỏi: " Em có buồn khi Thầy cho em điểm 1 không". Tôi lại cười hề hề nói: " Thầy muốn khích tướng cho em tập viết chữ chứ gì  yên tâm đi Thầy  hai mươi năm sau sẽ có một tay hảo hán". Thầy cú nhẹ vào đầu tôi âu yếm: Gắng lên hỉ đừng để thầy thất vọng.
   
   Có một lần tôi và Thầy đến thăm mấy đứa trong lớp ở Xuân bồ trên đường về Thầy kể chuyện ngày xưa Thầy đi học cũng khổ lắm. Thầy kể về thời sinh viên của Thầy ở ngoài Hà nội. Khi kể đến đoạn phở Hà nội không biết vì sao Thầy kể say sưa như nhập hồn vào tô phở vậy. Tôi thì gò lưng nhoi nhoi đạp xe còn Thầy ngồi sau cứ thao thao nào là nước Phở trong veo nào là thịt bò tái nào là hành chần rau húng quế bỏ ra sao nào là cuối cùng phải cho lên một thìa mì chính  mùi nước phở bốc lên ngầy ngậy v..v... Tôi thì từ nhỏ đến lớn đâu có đi đâu mà hình dung tô phở nó ra làm sao. Nghe thầy kể nước miếng tứa ra nuốt xuống ừng ực rồi loạng choạng để xe lao xuống mương. Hai thầy trò ướt như chuột lột lôi xe được lên đường thấy thầy ướt từ đầu đến chân tôi ôm bụng cười ngặt nghẽo. Thầy la tôi : "Đi không cẩn thận làm Thầy ướt hết rồi còn cười nữa à". Tôi vừa cười vừa nói: "Ai biểu Thầy chuyện gì không kể lại đi kể chuyện phở em hôm qua đến giờ có gì ăn đâu đang dằn cơn đói không được thầy lại kể chuyện phở nên nước miếng ứa ra làm đói hoa cả mắt mới bị vậy chứ em có muốn đâu.". Thầy nhìn tôi không nói gì rồi giằng lấy xe nạt tôi ngồi lên sau cắm đầu cắm cổ đạp
   
  Thấy Thầy đạp xe cặm cụi không nói gì tôi khều khều vai Thầy hỏi: " Thầy giận em à Thầy giáo có khác nghe mới ướt có một tý đã sợ rồi khi nào cho Thầy theo em đi lặn cát mới biết thế nào là sông nước". Thầy không nói gì chỉ thấy hai bờ vai rung rung..
  
   Thầy chở tôi về phòng thầy ở trường  Thấy thầy cứ im lặng tôi tưởng chắc thầy còn giận chuyện tôi làm thầy té. Ai dè thầy mở tủ lấy ra một gói mì sợi loại mì có sợi nhỏ li ti như que tăm khô cong và dòn khúm. Thầy và tôi ra bếp tập thể hì hục nấu mì. Mì nấu rất đơn giản nước sôi bỏ mì vào nêm chút muối chút bột ngọt là xong. 
   
    Đó là bữa ăn ngon nhất trên đời tôi. Không phải là vì đói rồi được ăn no mà ngon. Bởi đây không phải là bữa no duy nhất của tôi dạo ấy. Cũng không phải vì bữa ăn chan chứa tình người mới ngon. Có một cảm giác mà lúc đó tôi không thể nào hiểu nổi. Sau khi ăn mì xong một lúc tự nhiên người tôi nóng bừng lên toàn thân rạo rực như có một luồng khí nóng rần rần chạy trong cơ thể. Tôi có một cảm giác thư thái bình an và sung sướng đến lạ lùng. Tôi chào Thầy ra về mà lòng phơi phới hạnh phúc đến đê mê. Tôi không biết vì sao và vì cái gì mà mình lại có cảm giác kỳ diệu như thần tiên vậy. Đi ngang qua nhà Thằng Hào Dé đèn nhà hắn vẫn còn thức. Hắn khi nào cũng thức khuya gạo bài như vậy bình thường thì tôi đã thập thò chọc cho chó nhà hằn sủa nhặng lên rồi. Nhưng hôm đó vì tinh thần phấn khởi nên tôi ghé vào thăm hắn mặc dầu tôi chẳng ưa gì cái thằng bí thư chi Đoàn này. Ú òa cho hắn giật mình hắn trợn mắt nhìn tôi vì không nghe tiếng chó sủa mà tôi đã xuất hiện sau lưng hắn rồi. Tôi cũng không hiểu vì sao con chó vốn nổi tiếng hàm hồ của nhà nó hôm đó cũng lặng yên hít hít ngửi chứ không thèm sủa. Tôi mượn thằng Hào cây bút chì và xin 1 tờ giấy nháp.  Rồi vừa đi về nhà  một tay cầm bút một tay nâng tờ giấy vừa viết chữ. Lần đầu tiên những con chữ của tôi tròn vo chững chạc rõ ràng và rất đẹp...
  
   Sau này khi gặp Sư Phụ dạy nghề thuốc cho tôi tôi có đem chuyện ăn mì và cảm giác kỳ diệu hôm đó ra hỏi Sư phụ. Sư phụ nghe tôi kể xong cười ngất mồm lẩm bẩm :" Đúng là nhân duyên đúng là nhân duyên không ngờ Pháp bảo của Thầy là cơn đói". Tôi gạn hỏi mãi Thầy tôi không nói. Và nhập thất 21 ngày. Sau khi xã Thiền Sư phụ gọi tôi đến nói: " Trời đọa đày cho con đói đó là nhân duyên Trời xui khiến cho Thầy học của con cho con ăn tô mì đó cũng là nhân duyên Trời xui khiến cho sư phụ gặp con khi con thoi thóp chờ chết đó là nhân duyên. Tất cả đã được tạo hóa sắp đặt. Cái bí quyết dùng Khí chân nguyên để đả thông kinh mạch hóa ra là phải vận khí Tỳ Vị lấy khí hậu thiên từ ngũ cốc phò trợ mới đại cáo công thành được. Sư phụ đưa cho con tất cả y thư và trước tác ghi lại kinh nghiệm của tiền nhân  con xem mà tự thấu ngộ lấy. Con sẽ trở thành một Danh y sau này. Tất cả đều nhờ vào cái đói mà có. Con hãy ghi nhận lấy điều đó."
   
  Lời tiên đoán của Sư Phụ quả không sai sau này khi tôi có tý thành đạt trong nghề Đông y thì chính nhờ vào những phương pháp có liên quan đến nhịn đói tôi đã đưa được rất nhiều người từ cõi chết trờ về và cứu được không biết bao nhiêu người tàn tật trở về với đời sống bình thường. Đó là chuyện sau này những ngày tháng lưu lạc trong dòng đời...
  
(Còn nữa)

    
   
    
 

More...