NGHIÊN CỨU MỘT HIỆN TƯỢNG SIÊU NHIÊN (tin khoa học nóng hổi)

By Lê Thuận Nghĩa

Đã có rất nhiều đài báo truyền hình trên thế giới nhiều lần đưa tin về người đàn ông Ấn Độ kỳ lạ này. Trong đó có một số tờ báo tiếng Việt cũng đã đưa tin.
  
Người đàn ông theo đạo Hindu này đã 70 năm không ăn một thứ gì cả và mỗi ngày chỉ uống có vài giọt nước. Đó là một sự thật đã có rất nhiều đoàn chuyên gia khoa học và y tế trên thế giới đến tìm hiểu để tìm câu lý giải. Nhưng đến bây giờ vẫn chưa tìm ra được một câu trả lời nào hợp lý với khoa học thực nghiệm. Hiện nay một bệnh viện ở Tây Ấn kết hợp với các chuyên gia Y tế trên thế giới thực hiện một cuộc nghiên cứu tổng hợp về khả năng kỳ diệu này để lý giải cho câu hỏi "Năng lượng bảo tồn sự sống của người đàn ông này có từ đâu đến"
   
Giám đốc cuộc nghiên cứu này nói rằng " Cuộc nghiên cứu sẽ rất bổ ích và có giá trị  cho việc lý giải những hiện tượng kỳ lạ và những năng lực siêu nhiêu của cơ thể ngoài ra còn có thể thành lập một phương pháp bảo tồn sự sống trong những thảm họa liên quan đến cái đói. Hơn nữa còn có thể rất có hữu ích trong những cuộc thám hiểm vũ trụ dài ngày như đổ bộ xuống mặt trăng và sao Hỏa"
  
Kế hoạch nghiên cứu sẽ kéo dài 2 tháng. Người đàn ông 83 tuổi có 70 năm không ăn không uống vẫn sống này sẽ được mời tới bệnh viện. Và cuộc nghiên cứu sẽ được bắt đầu từ thư 5 tuần này ( 29.04.2010). Trong thời gian nghiên cứu ông sẽ không ăn và không uống một tý gì và thậm chí không đi cả toilet. Cuộc nghiên cứu sẽ bắt đầu từ những đo đạc về các thông số của não bộ hệ thống tuần hòan hoạt động của tim và kiểm nghiệm máu....v..v...
  
Trả lời cho câu hỏi Năng Lượng Sống có từ đâu Yogi Prahlad Jani (tên người đàn ông) tự trả lời:  " năng lượng sống được đưa đến từ Tự Nhiên (Đại Ngã- Gottheit) nhờ vào sự Thiền Định (Meditaton Kraft)"
  
Câu trả lời sẽ được lý giải cụ thể sau 2 tháng thực hiện cuộc nghiên cứu này.
..
(Có thể thông qua kết quả nghiên cứu này để lý giải một hiện tượng khá kỳ lạ gần đây gây nhiều dư luận xôn xao trong giới Y tế Đức. Đó là hiện tượng một người bệnh Ung Thư dạ dày đã di căn ra ổ bụng hết phương cứu chữa. Trong khi chờ chết vì không thể ăn uống và nạp truyền dinh dưỡng ông vô tình liều ngắt mấy cánh hoa hồng để ăn không ngờ khi nuốt nhai cánh hoa ông không thấy có phản ứng nôn mữa như thường lệ từ đó ông chỉ ăn cánh hoa của tất cả các loại hoa và sống đến bây giờ - đã 5 năm rồi trong sự kinh ngạc của giới Khoa học- lời người dịch)
    
 
Thuận Nghĩa lược dịch từ tin tức truyền hình và báo chí Đức trong ngày hôm nay
_______
Mời các bạn bấm vào đây để xem băng hình về người đàn ông này trước khi bắt đầu cuộc nghiên cứu (tin tức của Yahoo.de):
  
http://de.news.yahoo.com/2/20100428/tsc-aerzte-untersuchen-asketische-faehig-c2ff8aa.html     
    
 
29.04.10
tn

More...

Bách Việt Sử : Những lớp bụi mờ của lịch sử - 2 (nghiên cứu)

By Lê Thuận Nghĩa

Giải mả Bí mật cổ sử Sở bằng tiếng Việt     
              Đỗ Thanh Nhạn Nam Phi
    

        _Sở 楚: Chử xưa là tượng hình chử Sở gồm 2 cây ( Chử Lâm 林 phía trên gồm 2 chử mộc  木 ) và phía dưới là dây leo quấn hai chân cây  疋 = Sơ( chử Sơ 疋 bộ tẩu ) phát âm theo Tiếng Madarin là CHsùa tiếng Mân Việt là chsó tiếng Việt-Quảng-Châu Phiên Ngung là chsỏ Đúng ra thì phải đọc phát âm là "Sở " theo chiếc tự của Sơ -Lâm nhưng lại có 1 cách đọc phát âm là: " Trầu " và dấu tích của âm đọc là Trầu còn lưu lại qúa nhiều ...Chử Si- vưu chính là phiên âm của chử Trầu: Si-Vưu=蚩尤 Bỡi vì Si-Vưu vô nghiã Si-Vưu chỉ là phiên âm và đánh vần phiên âm là ra chử Trầu mới là "có nghiã" và "Đúng nghiã " với chử tượng hình đã thể hiện nếu như phiên âm đánh vần là  "Sưu " hoặc "Sừu" thì lại vô nghiã nhưng dân vùng Phiên Ngung ở Quảng Châu ngày nay vẫn đọc 蚩尤 là Chsia-Dầu Chsia -ầu-Chsầu tức là thật ra là " Trầu " ( Đọc theo tiếng Việt Chuẩn là giọng nói của Miền Bắc thì TR phát âm như là CH "Trầu" là "Chầu"  )  và đã có 1 âm Sơ-Lâm là Sở thì mới đúng Chử 楚  đã vẽ hình dây Trầu quấn trên cây bỡi vì xét về thực vật: dây trầu quấn cây Cau là Đúng nhất cho chử Sở và khi  cổ sử nói về Si-Vưu / Chsia-Dầu là luôn nói về Si-Vưu ở vùng đất Sở.CHƯA CÓ AI PHÂN TÍCH THEO KIỂU NẦY ! VÌ: theo tài liệu Sử thì Sở là Việt cho nên tôi thử dùng các "phương ngôn:"Việt" đễ giải mã những điều khó hiểu và đây là 1 lối suy luận hửu lý chứ không có tài liệu sử sách đễ dẫn chứng đúng hay sai ? thời gian và sự tiến bộ trong việc tập trung tài liệu của nhiều người nghiên cứu sẽ kiểm chứng lập luận của tôi và  có câu trả lời ...
_Vậy Si-vưu theo cổ Việt -nhả ngữ là Chsén-Dầu đó là phiên âm Chs-ầu.


=>chsầu=Trầu; Si-Vưu=蚩尤=Trầu. tương tợ Chsầu chsỏ chsó chsùa tsù ..viết là : 楚
...Sở là Việt mà lại dính líu với chử "Trầu" ? đúng vậy! Người Việt Nam và người Đài Loan ngày nay vẫn còn rất nhiều người ăn Trầu và là 1 đặc điểm hiếm hoi của nhân loại.

    ( Ngoài ra:  Người Mèo 苗 tôn Si-Vưu là thần "Thái tổ" và gọi là " txiv -yawg "...đọc nhanh cũng đúng là 1 dạng của âm chử TRẦU ...Đây là 1 đặc tính Bách Việt mà ngày nay người ta còn chưa hiểu hết; Nghiã là ngày xưa Sở hay Việt-Trầu đã thống lãnh hàng trăm bộ tộc "Bách -Việt ).

_Theo Khảo cứu của tôi thì Si-Vưu  Ở nước Sở và chính là Sở vì bản thân chử Si-Vưu đã là "Trầu" là "Sở" như phân tích...nhưng có qúa nhiều thuyết ...nhiều đến mức kinh-hoàng cho những người khảo cứu đầy đủ có thuyết tôn Si-Vưu và Viêm Đế là 1 có thuyết: Si-Vưu và Viêm Đế là 2 đế khác nhau có thuyết Si-Vưu là Quan dưới quyền Viêm Đế v v...

    _Xin Trích 1 đoạn chử Cổ -Việt / Hoa nói về Si-Vưu có liên quang đến Cữu Lê: ....蚩尤為首的九黎族=Si vưu vi thủ đích Cữu Lê tộc... có qúa nhiều truyền thuyết nói về Si-Vưu có thuyết nói Si-Vưu ở tây có thuyết nói ở đông có thuyết nói ở nam với người Mèo / Hmong có thyết nói ở Bắc như người Korea có quyển sách 《Hằng Đàn Cổ ký桓檀古記》-(환단고기)nói rằng Si-Vưu là Vua ở Bán Đảo TRiều Tiên; nhưng chú ý: Si-Vưu được tôn làm " Chiến Thần " nên nhiều người tranh dành ...cũng phải !!! và qúi vị thích nghiên cứu sử cần chú ý điều nầy: phiên -âm chử "Cữu- lê" sẽ ra chử "kỳ " phiên âm chử "Giao-Chỉ " hay "cao-Chỳ "sẽ ra chử "kỳ" và đặc biệt là Cửu-Lê lại rất giống ...gần như 100 phần trăm với "Cao-Lệ -高麗-Korea" và cũng có tài liệu Korea liên quan đến Bách Việt ngày nay các bạn trẻ người Việt khi học tiếng Hàn Quốc - Korea sẽ không lạ gì các từ "Han kok" là Hàn Quốc "huynhdai" là Hiện Đại "yu Hạc senh" là Du học sinh tên gọi "Kim Yang" là Kim - Anh "Dong kun" là Đông Quân v v...

      _Vì theo những khảo cứu vừa được nêu trên thì chử viết trong sữ "Si-Vưu": chẵng qua chỉ là phiên âm chử  "Trầu " mà người ta đã lầm không dùng tiếng Việt phủ nhận gốc Việt không biết hay không đọc là Trầu mà lại đi đọc là Si-Vưu cho nên vô nghĩa và từ cái vô nghĩa cái không hiểu nghĩa đã sinh ra ngộ nhận và cho là "HánTự- chử Tàu" rồi thêu dệt truyền thuyết ! truyền thuyết đã thêu dệt "Ông" Si-Vưu là lảnh tụ rất thiện chiến khi ra trận biết phun lữa chặt đầu nầy lại có đầu khác... rỏ ràng đó là sự diễn tả Si-Vưu là 1 tập thể thiện chiến giỏi trận pháp dương đông kích tây du kíck chiến mai phục v v.. và biết dùng hỏa công chứ không phải là 1 người ! chẳng qua vì sự ngộ nhận của các đời sau phủ nhận gốc Việt hay không hiểu tiếng Việt mà người ta dựng ra 1 nhân vật như thần tiên vậy! Ở Trung -Quốc Từ xưa và cho đến nay vì ...người ta đã tôn thờ "ông" Si-Vưu là "chiến -Thần " nên trước khi ra trận đánh giặc là làm lễ cúng bái "Chiến thần " là ông Si-Vưu !!! thật ra ..."Chiến Thần" đó phải là nước Trầu  và lại là lảnh đạo là "Vua" của các bộ tộc Cửu -Lê 九黎-Cửu lê lại vô nghiã !!!  theo truyền thuyết thì liên quang đến Cửu lê có đến hàng 100 bộ tộc thuyết nói 9 bộ tộc là căn cứ theo chử "CỮU 九" thuyết chánh yếu mà nhiều người tin và trích dẫn nói là có đến 81 bộ tộc-81 lại là cách dùng 9 x 9 .. 81 hay hàng 100 bộ tộc thì không thể là " CỮU九" ! "Cửu -Lê 九黎" chỉ là phiên âm đễ chỉ hàng trăm bộ tộc ở phía nam có tên gọi là "Kỳ " Sở trong Hoa sử có đất KINH mà lại có "Trầu" lảnh đạo 九黎Cửu-Lê là Kỳ! Sử Việt thì gọi đất Việt là Đất Kinh và Đất Kỳ! nghiên cứu mới cho thấy rỏ đường thiên di của nhân loại là từ Đông nam Á tiến lên phía bắc v v..   nếu đánh vần theo giọng Việt Quảng Đông thì Cửu-lê là "Cao-chìa" sẽ ra chử "kỳ"...còn đọc theo "Cữu-lê" sẽ ra âm "kê" hay "kề" đọc CỮU-LI sẽ ra âm "KY" hay "KỲ" tiếng Phổ thông cũng đọc "li" chứ không đọc "lê" về sau thì xuất hiện chử "giao Chỉ " mà nếu đánh vần phiên âm cũng là "kỳ" dân thành phố PHiên Ngung ngày nay ở tỉnh Quảng Đông vẫn đọc Giao Chỉ là "Cao-Chĩa/ cao chìa " đối chiếu lại thì thấy rỏ ràng "cửu Lê " và "giao Chỉ " chỉ là 1 tên có phát âm là  "kỳ" và GIAO-CHỈ hay CỮU-LÊ là vô nghiã cho đến thế kỷ 21 mà khi tra cứu tự điễn Bách Khoa  và cổ thư v v...thì thấy giải thích sở dĩ gọi là "Giao Chỉ"  vì dân vùng đó có 2 ngón cái của 2 bàn chân chià ra khi đứng thì giao nhau nên gọi là Giao Chỉ !!! và lại có cách giải thích khác là dân vùng đó ...khi ngủ thì 2 chân đễ chéo chử thập 2 chân giao nhau nên gọi là giao chỉ !!! Cách giải thích như viết truyện thần thoại hay ...làm phim  "khoa học tưỡng tượng" như vậy mà đã tồn tại trong lịch sử mấy ngàn năm...thì rỏ ràng là những người có tâm huyết ở thế kỷ 21 nầy nên phải bỏ công ra đễ viết lại lịch sử là 1 điều bắt buột phải nên làm !!! âm Quảng Đông của "CỮU-Lê" lại có 1 phát âm là "Cẩu -lỳ" Có lẽ chính vì âm "Cẩu" không tốt khi ĐỌC và NGHE cho nên mới được người ta tránh mà sau nầy không còn dùng "Cữu-Lê" nữa chỉ còn có âm Cao-Chỳ Giao-Chỉ xuất hiện mà thôi những tên xưa thường hay được dính líu và kéo dài đễ dùng đến tận ngày nay Vùng Lạng-sơn có sông Kỳ-Cùng và Phố Kỳ-Lừa là 1 thí dụ thú vị; chữ viết ngày xưa khác nhau từng vùng vì giao thông đâu có thuận tiện và tính thống nhất đâu có mạnh như bây giờ cho nên sau nầy Tần Thủy Hoàng mới ra lịnh thống nhất chử viết ;_ Hàng 100 bộ tộc Cữu-lê/ kỳ có lảnh đạo  là si-Vưu /Trầu nhập lại... tính ra hẵn là bờ cỏi phải mêng mông lắm và cổ thư còn ghi lại gọi là "Liệt -San thị": thật ra "Liệt-San" đó chính là phiên âm chử "Lang-sang" tức là Lang ! "Lang" là khi ngôn ngữ đó đã được đơn âm hóa và "Lang-sang" hay "Van" "Lang-Sang" hay người Hoa Viết Sử gọi vắng tắt là Shan商 "có nghiã là "Vạn Tượng" chính là nước "VĂN-LANG"...; qúi vị nào hiểu nghĩa tiếng Thái Lào Choang ngày nay sẽ hiểu nghĩa nầy "Van" là "Vạn" của 1 vạn "Lang" là "lang-sang" là  "Liệt -San" hay Shan商 hay "VănLang" Văn-Lang của người Việt cũng chỉ là 1 quốc gia duy nhất mà người ta đã viết và đọc theo nhiều cách qúi vị chú ý chử Shan商 dịch theo từ Hán-Việt là "Thương" hoàn toàn trùng hợp với tiếng Việt là "Tượng"  tức là "Voi" "Tượng" ngày xưa đọc là "Tương" là lẽ thường tình! Bỡi vì cổ Việt ngử đâu có A B C và dấu Nặng! vùng "Sở" "Trầu" "Vănlang" phải là rất rộng như truyền thuyết nước Văn-Lang bắc giáp Động -Đình Hồ Đông Giáp biễn và Nam giáp nước Hồ-Tôn Hồ-Tôn là giọng Mân Việt Ô-sinh >Ying giọng Quảng-Đông là Wùa hay Huà-siń >wiǹg âm Wìng hay Ying̃ / yin đều là chữ Vin / Vân của Vân-Nam là tỉnh Vân Nam bây gìờ; còn âm của chử viết  là Liệt-San yue-Lang Văn Lang đều phát âm giống nhau nghiã là nước "VanLangshan" cuả người Việt "Văn-Lang" qúa rộng thì các bộ tộc qúa nhiều và có "đánh nhau" cũng là chuyện thường đều đó càng làm cho Bách Việt Sử rối mù bỡi "Tinh thần địa phương" truyền thuyết Phù-Đổng thiên vương chống giặc "Ân THương" nếu xét cho kỹ lưỡng biết đâu là chuyện nội bộ ??? truyện Trụ -Vương mê Đắc-kỹ sa đọa và phung phí ở Cung Đình nên phải thu thuế tô địa nhiều bắt lao công v v...nên nhiều dân địa phương phải chống lại và tự lập lảnh địa "quốc" riêng là đúng thôi ! ...Ai chứng Minh được Trụ Vương là Du Mục hay là Hung-Nô ???  Chử viết lưu lại là Trụ Vương tên Đế Tân chử Trụ chẵng qua là Chử "Trư" là "Con heo" cuả tiếng Việt "Đắc-Kỳ" "Na-tra" "Khương Tử-Nha" "Cơ Phát" "Cơ Xương" đều là tiếng Việt 1 số những tên tiếng Việt Đa âm còn sót lại trong câu truyện tự nó sẽ làm rỏ nguồn gốc Việt! những ai hiểu Hoa văn 100 phần trăm ngày nay có thể nào giãi thích cho tôi nghe "Trụ" vương và "Đắc-Kỷ" nghiã là gì ??? nỗi oán hận của người dân thời đó theo tiếng Việt đã chữi "Đế Tân" là "Heo" vì dâm dục mê gái cho nên gọi là vua Heo -"Trư" "Đắc-Kỷ" là dấu tích tiếng Việt Đa âm đa âm "Đắc-Kỷ" là "Đĩ" khi biến thành đơn âm chỉ có tiếng Việt và người Việt mới hiểu nổi chứ còn ai vào đây được? theo tôi thì khi "Trụ" Vương tỏ tình với "Đắc-Kỷ" thì nói là "Anh yêu em" chứ không phải là giọng "Wò ái nìa" của Hung-Nô! Ngày nay chúng ta vẩn còn dùng từ đa âm nhiều qúa nhiều ví dụ như: lang-thang lôi-thôi thẩn-thờ lác-đác ngoe-ngoẩy kẻo-kẹt lệch-lạc lung-tung liếng-thoắn bạc-bẻo tiu-ngỉu mênh-mông lung-linh dịu-dàng v v...nhiều kinh khủng lắm -Xin qúi vị đọc bài khảo cứu trước của tôi -là tiếng Việt sinh ra Hoa ngữ và Hoa Ngữ chỉ là những tộc khác học được 1 phần của tiếng Việt mà thôi! và cũng chính vì vậy mà Hoa ngữ không thể phiên dịch được hết Việt ngữ còn Việt ngữ có thể phiên dịch được hết Hoa ngữ 1 cách dễ dàng có những sách và những người lập luận rằng Từ ngữ Hán-Việt được du Nhập từ Trung Hoa sang Việt Nam vào thời nhà Đường! Xin Chân thành cảm ơn những sách và những người đó! ...Lập luận đó tự thân nó đã khẵng định là từ xưa cho đến đời nhà Đường là bên Trung Hoa vẫn còn dùng tiếng Việt; Có 1 bài "Việt nhân Ca" cổ đại đã hơn hai ngàn mấy trăm năm và nổi tiếng toàn thế giới tiếng Hoa tiếng Anh và tiếng Pháp v v...đều đã "phiên dịch" bài nầy 1 cách ...sai bét !!! tiếng Việt phiên dịch lại từ bản "hoa_Văn" nên cũng sai luôn !!! Vì người ta không hiểu tiếng Việt ...và người "Hoa" đã dùng bài nầy đễ chứng minh cổ sử của Trung quốc là "Hoa" chứ không phải Việt! Với lập luận vì là "hoa" nên không hiểu được tiếng Việt của "Việt nhân Ca" và chuyện bài hát "Việt nhân ca" nầy xảy ra ở nước Sở xin qúi đọc giả đón đọc những bài khảo cứu sau thì tôi sẽ trình bài rỏ ràng chung quanh bài "Việt Nhân Ca" ở nước Sở ngày xưa chính là 1 bằng chứng Sở là Việt ! Điều nầy là rất quang Trọng:  CÓ thể nói rằng đây là Tâm điểm cuả sự nhập nhằn Việt và Hoa Bới vì ông Lưu Bang và Ông Hạn Vỏ đều là Người Sở và Lưu Bang đã lập nên nhà Hán Có thể nói rằng Chứng minh được Sở là Hoa thì nghiã là Hoa đồng hóa Việt !!! và chứng minh được rằng Sỡ là Việt thì nghiã là Việt đồng Hóa Hung-Nô thành Việt mà đổi tên là Hoa. Bài nầy đã chứng minh rỏ ràng Sở là Việt đễ làm mất đi lớp bụi mờ của lịch sử; Tuy nhiên đễ cho rỏ ràng và chi tiết thêm thì tôi sẽ viết thêm bài "Tự điển Thuyết Văn của Hứa Thận thời nhà Hán" và "Việt nhân Ca".

Xin trở lại chủ đề:

_đánh vần cổ ngử "Liệt-San" > tức là Li(ệt)- (S)an =>Lan = Lang .

_Viêm Đế / Si-Vưu / Trầu / Kỳ / Văn Lang là thị tộc Việt  " Hùng " chử viết trong sử là " Hửu hùng Thị ": đọc là "Dồ Hùng đó là một âm của Diệt Hùng tức là Việt Hùng ( xin xem bài khảo cứu Bách Việt Sử khác sấp đưa ra online ) và Con Cháu các đời vua sau luôn xưng là Hùng Vương như Hùng Tao  熊蚤 Hùng LỆ  熊麗 HÙNG CUỒNG  熊狂 HÙNG Dịch 熊繹 HÙNG NGẢI熊艾 HÙNG ĐẢN  熊䵣 HÙNG THẮNG  熊勝 Hủng Dương  熊楊 Hùng cừ  熊渠 Hùng Chí 熊摯 Hùng Diên  熊延 Hùng Dũng  熊勇 Hùng Nghiêm 熊嚴 Hùng Tương  熊霜 Hùng Tuân  熊徇 Hùng Ngạc  熊咢 Hùng Nghi  熊儀 Hùng Khảm  熊坎 Hùng Thông 熊通 Hùng Chất  熊貲 Hùng Giang  熊艱 Hùng Uẩn  熊惲 Hùng Thương -Thần  熊商臣 Hùng Lử  熊侶 Hùng Thẩm 熊審 Hùng Chiêu  熊招 Hùng Viên  熊員Hùng Vi   v v...

    Theo Truyền Thuyết: Hoàng Đế 黄帝Có 1 người con là Xương Ý昌意...-Xương Ý昌意 là 1 trong 25 người con cuả Hoàng đế黄帝 Xương-Ý  cưới vợ là người của Thuc̣ sơn thị 蜀山氏tên là Xương Bộc 昌僕 có được 1 người con là Đoan -Hạn 颛顼. Hậu duệ cuả Đoan Hạn sinh ra Cổn 鯀 Cổn Sinh Ra Vủ禹 (...Con Cuả Vủ Là Khải lập ra triều Hạ).

-Đế Đoan-Hạn颛顼 là Con Cuả Xương-Ý.

-Ngô Hồi 吳回 là Cháu đời thứ 5 cuả đế Đoan Hạn颛顼.

_Lục-Tung 陸終 hay Lộc-Tục do cách đọc khác nhau là con cuả NGô Hồi 吳回.

   _Qúi Liên 季連 về Sau gọi là Chúc Hùng lả con của cuả "Lộc Tung" hay Lộc Tục: có 6 người con con út là Qúi-Liên.

_Chúc Hùng là Cha cuả Hùng Tao Hùng Tao là Cha cuả Hùng lệ Hùng lệ là cha cuả Hùng Cuồng.

-Sở Hùng Dịch楚熊繹 là con của Hùng Cuồng là cháu chít của Qúi Liên/Chúc Hùng và là Thầy cuả Châu Văn Vương Cuả nhà Chu ...và Sau đây là phần tên Vua được đưa vào Sách Sử...viết bằng cổ văn .

     ***Bảng  tên hiệu Sở: Hùng Vương / Tên Họ / năm lên ngôi / năm thoái vị ...bằng Cổ Việt Văn: gồm Tên Các vua ...




君主 國君名称 上任時間 退位時間 

在位年数


 
楚熊蚤 熊蚤(芈蚤)芈=Mi   
楚熊麗 熊麗(芈麗)   
楚熊狂 熊狂(芈狂)   
楚熊繹 熊繹(芈繹)   
楚熊艾 熊艾(芈艾)   
楚熊䵣 熊䵣(芈䵣)   
楚熊勝 熊勝(芈勝)   
楚熊楊 熊楊(芈楊)  前(Tiền: trước công nguyên) 
楚熊渠 熊渠(芈渠)  年:Năm 
楚熊摯 熊摯(芈摯)   
楚熊延 熊延(芈延)  前848年 
楚熊勇 熊勇(芈勇) 前847年 前838年 10年
楚熊嚴 熊嚴(芈嚴) 前837年 前828年 10年
楚熊霜 熊霜(芈霜) 前827年 前822年 6年
楚熊徇 熊徇(芈徇) 前821年 前800年 22年
楚熊咢 熊咢(芈咢) 前799年 前791年 9年
楚若敖 熊儀(芈儀) 前790年 前764年 27年
楚霄敖 熊坎(芈坎) 前763年 前758年 6年
楚蚡冒 熊眴(芈眴) 前757年 前741年 17年
楚武王 熊通(芈通) 前740年 前690年三月 51年
楚文王 熊貲(芈貲) 前689年 前675年六月庚申 15年
楚堵敖 熊艱(芈艱) 前674年 前672年 3年
楚成王 熊惲(芈惲) 前671年 前626年冬季十月 46年
楚穆王 熊商臣(芈商臣) 前625年 前614年 12年
楚莊王 熊侶(芈侶) 前613年 前591年秋季 23年
楚共王 熊審(芈審) 前590年 前560年 31年
楚康王 熊招(芈招) 前559年 前545年九月以後 15年
楚郏敖 熊員(芈員) 前544年 前541年冬季 4年
楚靈王 熊圍(芈圍) 前540年 前529年五月 12年
楚王比 熊比(芈比) 前529年春季 前529年五月 未改元
楚平王 熊居(芈居) 前528年 前516年九月 13年
楚昭王 熊珍(芈珍) 前515年 前489年秋季七月以後 27年
楚惠王 熊章(芈章) 前488年 前432年 57年
楚簡王 熊中(芈中) 前431年 前408年 24年
楚声王 熊当(芈当) 前407年 前402年 6年
楚悼王 熊疑(芈疑) 前401年 前381年 21年
楚肅王 熊臧(芈臧) 前380年 前370年 11年
楚宣王 熊良夫(芈良夫) 前369年 前340年 30年
楚威王 熊商(芈商) 前339年 前329年 11年
楚懷王 熊槐(芈槐) 前328年 前299年 30年
楚頃襄王 熊横(芈横) 前298年 前263年秋季 36年
楚考烈王 熊元(芈元) 前262年 前238年 25年
楚幽王 熊悍(芈悍) 前237年 前228年正月 10年
楚哀王 熊猶(芈猶) 前228年正月 前228年三月 未改元
楚王負芻 熊負芻(芈負芻) 前227年 前223年 5年
昌平君   前223年 前223年 
楚隠王(張楚隱王) 陳勝 前210年 前209年 
楚假王 景駒 前209年 前209年 
楚義帝 熊心(芈心) 前209年 前207年 
楚霸王(西楚霸王) 項羽 Hạn Vỏ 前206年 前202年


        Sở Bá Vương  楚霸王_Hạn Vỏ 項羽 là con cháu đích tôn của Hùng Triều họ Mi 米 ( Mi hay Mị Mì Mễ ) vì tổ tiên được phong đất cho ở Đất Hạn cho nên lập Tổ dòng họ Hạn; ( cũng như Khuất Nguyên vậy thời phong kiến thì dòng họ vua thường hay được phong cho Đất đễ lập ấp lập quốc nhỏ làm chúa nơi địa phương nhỏ và thường hay đổi họ theo đất mình được làm chúa nơi đó ) ...Sở Bá vương Hạn Vỏ và Lưu Bang lảnh đạo dân Quân Sở-Việt lật đổ nhà Tần...

***Khảo cứu Một số phong tục vùng Sở -(Trầu / Kỳ / Liệt San-yue Lang -Văn Lang- Việt Lang mà ngày xưa goị là "Sở " )và ngay nay qúi vị cọ thể tìm hiểu và tham khảo dễ dàng trên các web của các bloger hay trên trang web của tỉnh Hồ Nam hay Hồ Bắc của Tân Hoa Xã:

_Khách đến nhà khi đả mời ngồi rồi thì kỵ lau bàn hay quét nhà vì như vậy là có ý đuổi khách.

_Khi mời khách ăn trứng gà thì không được đải ăn số trứng lẽ 1 hay 3 nhưng kỵ nhất là đãi khách ăn 2 trứng Vì "ăn hai" giống như tiếng chữi ..."ăn Hại" của tiếng Sở.

_Trước khi ăn không được dùng đủa gỏ chén vì chỉ có ăn mày mới gỏ chén ăn xin.

_Sau khi ăn không được gác đủa lên chén vì gác đủa lên chén là cúng cơm cho vong linh.

_Đầu của phái nam và vùng eo của phái nữ là chỉ được nhìn không được rờ ... nếu bị tùy ý đụng chạm thì coi như là một điều bị sĩ nhục.

_Phải phơi quần áo phụ nữ nơi kính đáo không được cầm sào phơi quần áo phụ nữ băng qua đường; đồ lót của phụ nữ khi phơi phải tìm ở chổ người ta không nhìn thấy; khi phụ nữ có thai thì không được tham gia tiệc đám cưới; phụ nữ đang có kinh kỳ thì không được vào chùa miếu; phụ nữ không được tham gia việc xây bếp hay dựng kèo cột trong xây cất.

_Kỵ những từ ngữ hung hiểm ví dụ: không nói "Chêt́" mà nói "Đi" rồi hay "không còn nữa" Quan tài thì nói "thọ tài " "thọ mộc "; ngày tết không được nói "thấy bà" " thấy qủy" "đồ...qủy sứ"...nói chung là kỵ từ ngữ hung hiểm hay xui xẻo.

_ Cha mẹ qua đời thì con trai không cắt tóc trong thời gian 7 Thất (Tuần ) đễ tỏ lòng hiếu thảo khi để tang.

_ Kêu chuột bằng "ông" chuột rất khôn lanh nên sợ chuột cắn phá quần áo v v...nên tỏ ra tôn kính mà gọi là "ông" Tí.

_Con một của gia đình thì thường goị là "Chó con" "Bé " "Nữ" "Nố" "Náo "...Vì sợ ma quỉ xâm hại sợ khó nuôi.


                   Ngày Nay thì Văn Hoá Sở đã biến thành đã biến thành văn hóa cuả tiếng Phổ thông / Quang Thoại nhưng những nghiên cứu về từ ngữ cỗ của lịch Sử còn sót lại mà người ta còn dùng và được biết ở các vùng thuộc Sở lại làm cho tôi giật mình:

-Dù đã bị tiếng phồ thông-quan-thoại thay đỗi nhưng Nhiều vùng "sở" ngày nay vẫn gọi con của mình là phái nam bằng "trai " như tiếng Việt đó là vùng: Nam Xương 南昌/ đọc là "ʦai" như "Chai " Hay "Trai" 、đó là các vùng Đô Xương 都昌、An Nghiã安義、Tu Thuỷ修水、Bình Giang 平江、Dương Tân陽新、Tuyên Phong宜豐、Tân DU 新喻 、v v...vẫn gọi con trai là "TSai".

 và....

-2 chân giang rộng ra gọi là: "Mở" và Viết là chử 摸 /Mạc - nhưng đọc là  "mở".

-Con ngổng gọi là  Ngang ngo.

-Lớn goị là "Đại " viết là 軚/ đọc là Đại.

-Cái Rổ làm bằng bằng tre: gọi là Rổ viết là 蘿 / đọc là Rổ; có nơi nay đọc lô hay lo loa lóa...

_"Hiểu" vùng Kiến-Ninh  建寧 ngày nay vẫn đọc "Hiểu 曉 như tiếng Việt .

-"Phan" vất đồ vật gọi là Phan viết là 拌 / đọc là "Phan".

-Bất kể bất cần mạng sống gọi là "Bán mạng" những vùng còn nói là  "bán mạng" là: ( phát âm có khác nhau 1 chút giữa các vùng ): Nam xương 南昌 / pʰɔn miaŋ、An Nghiã  安義 / pʰɔn miaŋ、Cao An 高安 / pʰɛn miaŋ、Tân Du 新喻 / pʰɔn miaŋ、Bình Hương 萍鄉 / pʰɔ̃ miã、Lễ Lăng 醴陵 / pʰõŋ miaŋ、Kiến Nnh 建寧 / pʰɔn miaŋ、Thiệu Vủ 邵武 / pʰon miaŋ。

_cái lá cây Trúc gọi là Lá viết là 箬 / đọc là "lá".

_thấy viết là 睇 đọc là  "Thấy".

_vùng nước Sâu gọi là "thầm" hay "Than" nghiã là "Đầm" so với tiếng Việt .

        Tất cả những phần khảo cứu tiếng nói và phong tục Sở nêu trên là vào trang nhà trên Internet của tỉnh Hồ Bắc  thuộc Tân Hoa Xã là sẽ đọc thấy (trong hiện tại).

        ...Từ những chứng cứ nêu trên có thể thấy ngày xưa vủng Sở vừa Đúng là "Trầu" vừa đúng là Nước Việt / Văn Lang rộng lớn với hàng trăm bộ tộc  "kỳ -Cữu lê" nói tiếng Việt Nếu vậy thì nên đọc địa danh và tên người cũa cổ Sử theo tiếng Việt ...

_ khảo cứu 1 số tên Sở theo hướng "việt-Ngữ" thì  thấy là Ví Dụ :

1/ CAN TƯƠNG: phiên âm Can-Tương > "Cương" hay  "Cường" / vì chẳng có ai tên là Can -Tương nếu Can-Tương đúng là tên 1 người thì trước đây đã có người dùng sau nầy phải có người dùng và bây giờ cũng phải có người dùng; suy ra Can-Tương là "Cường".

2/ MẠC TÀ: ...chưa thấy có ai trong sử sách có tên là "Mà""Tà" hay "Mạ" "tà" phiên âm nầy chỉ theo Mân Việt ngữ mới có nghiã đọc là "Bạc-ghé > "Bé" còn 1 cách đọc khác là "mo -ghé" ra âm "Moẽ"- ( Moẽ là bé gái ) ở đâu có người Triều -Châu và tiếng Mân Việt thì có người gọi con gái là "Moẽ" ở đâu có người Việt là ở đó có người gọi con gái là "Bé" *** ghi chú : tiếng Mân Việt là Phước Kiến và Triều Châu giữ được rất nhiều Việt Cổ Ngữ khi phục chế ngôn ngữ Sở hay đối chiếu đễ rỏ nghiã thì các học giã bên Trung Quốc hay so sánh với Mân Ngữ mà tìm đáp số; Ngày nay chúng ta đọc là Mạc-tà nhưng theo phân tích kỷ lưỡng của tôi thì "bạc -chsé"> tức là "Bé" là tên đúng nhất của người vợ của Can-tương >Cường.

3/CỬU KHUẨN: ...Vần phiên âm "Cữu -khuân" >là " Quân"  nầy độc đáo dù đọc theo giọng Quảng Đông / Triều Châu / Phước Kiến hay Việt Nam đều có kết quả là "Quân" Đất "Quân" ( Đất Quân hay Quan Âm thanh gần nhau là tên 1 vùng đất nơi ...được gọi là: Sở Vậy ..không thể nào là "cưũ -khuẩn " vì nó hoàn toàn vô nghiã ...

4/TRIỀU CA: kinh đô của triều Thương / Trụ Vương là Triều Ca phiên âm giọng Việt Quảng Đông là Chsiều -Co >Chso / chsò chính là vùng đất "Trầu" hay "Sở" Vậy không có "Triều -Ca " chỉ có "Trà" là phiên âm của Triều Ca và phát âm rất giống âm "Trầu" ...chỉ có chso chsò Trầu Sở ...bỡi vậy cho nên không có ai tìm ra được kinh đô " Triều Ca " cuả Trụ Vương ở Đâu !!! này nay người ta cho rằng Triều-Ca ở huyện Kỳ của tỉnh Hà Nam ... và đó cũng là lý do tôi tin rằng Trụ Vương / nhà Thương là người Việt vì kinh đô Mang tên "Triều- ca" thì chính là Sở và vua nhà Thương họ Chử là con cháu đế Nghiêu và có chứng cứ tài liệu là họ biết nuôi Voi thì càng đúng là "VanLangshan" tức là Văn-Lang thần thánh "phong phú như truyện "phong Thần" là sãn phẫm của văn minh nông nghiệp lúa nước đã định cư thì mới có được truyện như vậy v v... Và người Việt Nam không xa lạ với họ Chử ...qua truyện "Chử Đồng Tử"; Triều-Ca là 楚sở. 

5/ THƯƠNG NGÔ: đọc theo phiên âm Quảng Đông là "CHSén-ngùa " > CHsùa =楚sở. 

6/ CỨ ÂU: đọc theo phiên âm Quảng Đông "Chsìa-Ngâu" > Chsầu =楚sở. 

7/CỘNG NHÂN: Cộng -nhân> Cân; Cong-nan> Can Cúng -dành> Cánh; Can cân cánh đều là gịong việt mân Quảng Đông đễ goị đất "cống" (đất "Quang" ) là Vùng Sở.

8/ QỦI PHƯƠNG: Quỉ -Hoang > Quang là giọng Mân Việt Đất " Quang " là 1 tên khác của Đất sở Có thể giọng "Quang" là Chính Thức vì rất phù hợp với tiếng Việt; và cũng chính là " Quang" là chủ ngữ đã sinh ra qúa nhiều tên gọi theo sau: Cân / Can / Cánh Cung Cúng và Trở thành Cống ngày nay.

19/ CỔ MUỘI: giọng phổ thông Cuà -Mi >ky hay " Kỳ ".

10/ 昌意Xương-Ý: giọng Việt Phiên-Ngung còn đọc là Chsen-ià > tức là phiên âm của Chsià 其 "Chsià" hay "Khỳ" hay "Kỳ" ? ..."khỳ" hay "Kỳ" là tùy giọng nói của từng địa phương.

11/陸終Lộc tục hay Lộc tung đều có phiên âm là >Lùn ( tiếng Quảng Đông "Lùn" là Rồng ) Long.

    ....Qua Những khảo cứu và đối chiếu phía trên đả đủ cho ta thấy "Bí Mật" sé được dần dần sáng tỏ. SỞ là Việt như Tư Mả Thiên đã Viết trong Sử Ký là "Sở Việt đồng tông đông̀ tộc" và cũng thấy được nhà "thương" -"trụ Vương " cũng là Sở ngày trước và còn biết được "Can-Tương" và "mạc -Tà" tên thật là gì v v...; và người Sở là Hạng Vỏ và Lưu Bang lật đổ nhà tần rồi lập nên nhà Hán chính là người Sở và nói tiếng Sở và đó chính là  "Sở" "văn -Lang" với "Cữu-Lê / Kỳ " và ngôn ngữ chính là Việt Ngữ; Sách "Thuyết Văn" thời Hán là đọc theo Việt Ngữ lại là 1 minh chứng thêm...; Sở Là Việt là Văn Lang người Việt làm sao quên được Văn-Lang? Hoa Sử viết rầng Triều Shan (Nhà Thương) qúa nhiều lần dời thủ đô mà không nghiên Cứu hoặc chối bỏ là Shan từ đâu đến! Văn-Lang đã bắc tiến từ nam ...Đâu dễ gì có 1 ngọn núi là "Lạng Sơn" mà lại trở thành tên của 1 tỉnh? Lạng Sơn hay Lạng-San hay Lang-Shan chính là tên của nước "Vănlangshan" còn sót lại khi những vùng đất kia của nước Văn-Lang đá bị đỗi tên thành các vương triều và quốc gia khác nhau theo dòng lịch sử...

       Vì có những ngộ nhận hay gian trá và hàng hàng lớp lớp bụi mờ phủ lên bề dầy lịch sử Bách Việt...cho nên bài khảo cứu nầy được suy xét rất thận trọng. Đễ làm sáng tỏ...

       Sở là Việt là Văn-Lang trải dài từ phương nam lên Động Đình Hồ với nhiều đời vua với phong hiệu là Hùng Vương.

     Nhạn Nam Phi/ Thanh Đỗ

   *Ghi chú: Can-Tương và Mạc -Tà là tên kiếm và cũng là tên của Vợ chồng nỗi danh đúc kiếm.

-Bài nầy có tham khảo 1 số web site dưới đây.

楚國
贛語的歷史
贛語中的古百越語詞一覽

贛語中的古吳語詞一覽

More...

Bách Việt Sử : Những lớp bụi mờ của lịch sử - 1 (nghiên cứu)

By Lê Thuận Nghĩa

Chào "Lâm Yên Như" !
_Tôi Còn nhớ ngày tình cờ trở lại trang Việt share làm độc giả và thưởng thức "hoa lạc giữa rừng gươm"...

- Đáng lẽ những bài khảo cứu lịch sử của tôi đã được công bố trên blog vietshare mấy năm trước nếu như không có cái đám người "gặp cái gì cũng chửi" trên blog vietshare và nhất là "dị ứng" với "người Hoa" và "Chữ Hoa" mà trong sự thật thì lại là "người Việt" và "chữ Việt"...

-Hôm nay vào thăm blog cuả anh thì thấy bài Viết về phản biện với 1 bài viết tai tiếng mà anh dùng bài "Nguồn gốc chữ Nôm" của tôi để làm tài liệu hoan nghinh tinh thần và việc làm của anh; tôi thì sau "kinh nghiệm" trên blog Vietshare là ĐÃ TRÁNH NHỮNG DIỄN ĐÀN... bây giờ thì tôi chuyên tâm biên soạn những phần khảo cứu thành từng bài ngắn rồi lần lượt ra mắt độc giả trên 1 số trang web suy cho cùng thì "đa số" đều là "nạn Nhân" cuả lịch sử bị cải biên bị ngộ nhận cho nên tôi Giận những "nạn nhân" thì ít và đôi khi khó giận ! Nhưng tôi sẽ giận những người có điều kiện và thấy được sự thật mà lại cố chấp và tìm cách không tôn trọng sự thật ! và trước hết là tôi tìm cách phổ biến sự thật và rất cám ơn những người có lòng góp công và góp sức phổ biến rộng rãi sự thật cho nên tôi viết thư nầy để cám ơn anh là vậy.
_ Những bài khảo cứu lịch sử của tôi thuộc về 1 dạng qúa  mới và đã mở ra được 1 hướng mới để làm rõ lịch sử và cội nguồn văn hóa Bách Việt Tộc. Rất may là hiện giờ đã được nhiều người trong cũng như ngoài nước tiếp nhận công nhận và khuyến khích ; Tuy nhiên là vậy Nhưng các bài viết của tôi cũng khó phổ biến là vì phải thể hiện chữ Tượng hình-Chữ Vuông/ Nôm-Hán Có người trích đăng đã bị thất bại ở chỗ thể hiện những font "cổ Văn" và computer người nào thiếu cài Font chữ "cổ Văn" thì đọc cũng mất hay mất chính xác khi thiếu font chữ Nôm-Hán...Có lẽ sau nầy thì tôi sẽ gôm lại đễ thể hiện bài bằng "hình" thì ai cũng xem được đầy đủ dù có cài font Hán Nôm hay không.
_ các bài viết của tôi đăng trên các trang web đều có luật tác quyền nhưng các bạn của tôi và anh đăng lại thì xin yên tâm mail nầy là một bằng chứng là tôi vui vẻ và còn gửi lời cám ơn đến anh "Thuận Nghĩa" đó nha Lâm Yên Như
- Tôi bận lo chú trọng phần khảo cứu lịch sử mà chưa phiên dịch nhiều bài thơ (Điều mà tôi thích nhất!) Sẵn đây xin hỏi là mai mốt anh cho phép tôi coppy và trích nhiều bài từ blog của anh qua nhannamphi.com là blog của tôi ? vì nhiều bạn bè bên Mỹ không có vào vnwebblog mà nhiều bài viết của anh nhất là về y khoa  là tôi muốn giới thiệu và phổ biến lắm.
...Còn đây là những bài khảo cứu lịch sử của tôi mà hiện giờ nhiều người đang tiếp tay để phổ biến rộng rãi :

http://nhannamphi.com/

http://www.anviettoancau.net/anviettc/index.php?option=com_content&task=view&id=1795

http://www.anviettoancau.net/anviettc/index.php?option=com_content&task=contentbyauthor&author=DoThanh&name=Đỗ Thành

http://newvietart.com/index4.603.html

http://www.google.com/search?sourceid=navclient&aq=hts&oq=&ie=UTF-8&rlz=1T4ADBF_enUS330US331&q=VI%e1%bb%86T+NH%c3%82N+CA%e3%80%8a%e8%b6%8a%e4%ba%ba%e6%ad%8c%e3%80%8b%3a

http://www.google.com/search?hl=en&rlz=1T4ADBF_enUS330US331&q=VI%E1%BB%86T+NH%C3%82N+CA%E3%80%8A%E8%B6%8A%E4%BA%BA%E6%AD%8C%E3%80%8B:&start=10&sa=N&filter=0

http://donguyeenthanhh.spaces.live.com/


Phát Hiện Lại Việt Nhân Ca - Diễn đàn Lý học Đông phương

http://ngnnghc.wordpress.com/2010/02/25/viẹt-nhan-ca/


Van Bản Học - Blogs Pictures and more on WordPress
 

Bách Việt Sử - Những lớp bụi mờ của lịch sử
 -

khoa hoc@doi song/Phat hien lai Viet Nhan Ca


Phiem Dam online - Vài lời với bà Đỗ Ngọc Bích _ Hà Văn Thùy


Phát hiện lại Việt Nhân Ca (越人歌) - văn học & nghệ thuật


BBC Vietnamese - Diễn đàn - Vài lời với bà Đỗ Ngọc Bích


VĂN-NHÂN - dòng HÙNG - VIỆT - Yahoo! 360plus
...Rất nhiều người đã tiếp tay phổ biến những bài khảo cứu mới của tôi nhưng các bài viết nầy là qúa "mới" và rất nhiều người chưa bao giờ "thấy" qua !!!!! và tất cả triệu triệu người và trường học và "giáo khoa" còn dạy sử cho học sinh theo kiểu xưa dài dài...mà họ chưa đọc bài "Việt Nhân ca" và "Duy Giáp lệnh" và "nguồn gốc chữ Nôm" và ...tôi còn phải tiếp tục viết bài kế tiếp....và rất mong nhiều bạn tiếp tay phổ biến....

Chúc anh an vui

Đỗ N. Thành
______________
    
 

 Sở楚 LÀ VIỆT越  ...là Văn-Lang .
          
Đỗ Thành Nhạn Nam Phi
       

_Sở có phải là Việt Không ?
_ Phải. Sử Ký Tư Mả Thiên ghi rỏ Sở và Việt đồng tông đồng tộc ngày xưa là ngôn ngữ giống nhau sau nầy thì còn giống nhau 1/2 ngày nay tiếng Quan-thoại đã chiếm lỉnh vùng đất Sở nhưng vẫn còn nhiều từ cổ Việt được dùng và đối chiếu với tiếng Việt bên Ngô-Việt và Mân Việt là giống nhau và dĩ nhiên có từ cũng giống như tiếng Việt -Nam.

        Văn Hóa Sở có thời xưng mình là Shan 商-Thương Ân Thương殷商  Âu-Nhân 甌 人 ( Âu-Nhân chỉ là phiên âm Âu-Nhân 甌 人= Ân tức là Ân Thương ) rồi xưng là Sở 楚. Sở là 1 quốc gia rộng lớn văn hóa và ngôn ngữ đa dạng ngôn ngữ và văn minh Sở tiến bộ rất sớm đã tồn tại và ảnh hưởng bao trùm nhiều nơi "Sử Ký" chép rằng Vua Sở Chúc Hùng 楚鬻熊 là Thầy dạy học cho Châu Văn Vương cuả NHà CHU.


_Sở Còn có nhiều tên gọi của Đất Sở nước Sở Người Sở do Cách phiên âm khác nhau cuả từ "Sở" thành ra nhiều chử sở. Phiên âm là 1 hình thức dùng chử đã có rồi đễ diễn đạt chử chưa có cuả tiếng nói ví dụ cụ thể là cho đến ngày nay thì rất nhiều tiếng Việt vùng Quảng-Đông và 20% tiếng Mân Việt / Triều châu còn chưa có chử viết !

Sở Còn Gọi là Kinh Kinh Sơ Cửu Khuẩn Kinh Man và 1 số tên khác cũng trong phạm vi SỞ.

_Còn Gọi là Si-Vưu là Triều -Ca Thương Ngô Cứ Âu .

_Còn gọi là Phù Dung Quốc Dương Việt .

_Còn Goị là Cộng Nhân Quỉ Phương Cổ Muội .

_Gọi là Việt-Khu.

_ Phạm Vi của Sở gồm phần đất ngày nay thuộc: Các tỉnh 湖南Hồ Nam、湖北Hồ Bắc、重庆Trùng Khánh、河南Hà Nam、安徽An Huy、江苏Giang Tô、江西Giang Tây v v...và các bộ tộc "Cữu-Lê九黎".

(Xem tiếp Phần 2: Giải mả Bí mật cổ sử Sở bằng tiếng Việt
____
24.04.10

More...

NGUỒN GỐC CHỮ HÁN LÀ CÓ TỪ CHỮ NÔM CỦA BÁCH VIỆT phần 3 (Nghiên Cứu)

By Lê Thuận Nghĩa

Mấy hôm nay dân cư mạng xôn xao bàn tán phản biện một bài viết có tính vong bản của một người mạo danh là Tiến Sĩ Giảng Viên Đại Học Yale bà Đổ Ngọc Bích. Bà Bích là một người Việt chính gốc nhưng vì háo danh muốn làm như một kẻ đốt đền lợi dụng sự háo tin của BBC Việt Ngữ Bà đã mạo danh là tiến sĩ Hoa kỳ học để gửi cho BBC Việt Ngữ một bài viết có tính chất nhục mạ Dân Tộc Việt Nam.
Bà Đổ Ngọc Bích thì không cần phải bàn đến vì khi một người háo danh mà nhất là phụ nữ háo danh thì họ sẽ đánh đổi tất cả để đạt được mục đích. Để đạt đỉnh cao danh vọng hão huyền ấy họ có thể đánh đổi tất cả sự liêm sĩ nguồn gốc xuất thân quên luôn cha mẹ ông bà quê hương. Loại người này chúng ta không chấp. Nhưng BBC Việt Ngữ vốn là một tờ báo có uy tín. Khi đăng tải bài viết của người đàn bà vong bản này vô tình đã tạo nên một định hướng lăng nhục người Việt Nam.
Xin xem thêm chi tiết ở đây:
http://quechoablog.wordpress.com/2010/04/19/khoc-ba-do-ngoc-bich/#comments   
    
Trọng tâm chủ yếu của bài viết chủ yếu xoáy quanh mệnh đề : Người Việt có nguồn gốc từ Trung Hoa. Tuy bài viết thể hiện trình độ rất nông cạn và sự hiểu biết lịch sử sơ sài nhưng vì đăng trên BBC Việt Ngữ nên vẫn tạo nên một làn sóng phẩn nộ trong cộng đồng người Việt.
Có rất nhiều công trình gần đây nhất là nhờ vào công nghệ hiện đại qua nghiên cứu ADN người ta đã khẳng định được Người Trung Hoa và Hán Tộc có xuất xứ từ người Đông Nam Á cổ.
Sau đây và một phần trong công trình nghiên cứu của một nhà Hán Học. Công trình chưa được công bố nhưng tác giả anh Đỗ Thành đã gửi cho tôi xem phần đầu cách đây đã hơn 1 tháng. Nhân tiện theo dòng phản biện bài viết của bà Đổ Ngọc Bích tôi xin phép anh đưa lên cho bà con tham khảo.
  
Ngay cả chữ viết ngôn ngữ chính thống của Trung Hoa bây giờ cũng có xuất xứ từ chữ Nôm. Chữ Nôm là chữ viết cổ của dân Bách Việt và Dân Tộc Việt.
Ngôn ngữ : "nồng cốt" văn hóa của Trung Hoa vốn xuất xứ từ Bách Việt thì tất cả mọi biện luận theo chiều ngược lại (Tộc Việt có xuất xứ từ Trung Thổ) là một thứ ngụy biện ấu trỉ.
  
Thuận Nghĩa
__________
 
Xem phần 1 ở đây:
http://thuannghia.vnweblogs.com/post/7291/226934   
Xem phần 2 ở đây:
http://thuannghia.vnweblogs.com/post/7291/226935  
      

Tiếp phần 2:
______
....Ngày nay lại có Khương Nhung bên Trung Quốc xuất bản tiểu thuyết "Tô tem Sói" cho rằng chữ tượng hình chính là do dân du mục sáng tạo ra. Từ lý giải chữ Mỹ美 chính là con dê羊 lớn mập là đại大 thì là đẹp đẹp lòng khi nuôi được con dê lớn thì là Mỹ美 (美=羊+大) tác giả cho rằng chữ vuông là của dân "du mục". Vì vậy đẹp Mỹ美 là "nuôi dê" là "du mục" và "Người Hoa-gốc bắc-du mục" sáng tạo ra chữ vuông! Khương Nhung nói về cái "đẹp" là Mỹ美 mà không dính líu với trồng tỉa và nông nghiệp! Tác giả cố tình không biết hay là thật sự không biết rằng:
Chữ Lệ麗 là cũng là mỹ là đẹp và chữ lệ còn hay hơn chữ Mỹ美 nhiều! Chữ Lệ麗 là con nai(鹿lộc) vàng ngơ ngác với trên là đôi mắt nai mở to chứ không nhắm lại! Như vậy xét theo chữ Lệ麗 thì chữ vuông là thợ săn hay "thi sĩ" hay "họa sĩ" sáng tạo ? Xin hãy cười cho vui! Người đời hay dùng chung nói đẹp đẽ là Mỹ Lệ-美麗 hay diễm lệ-艷麗.
Xin dẫn chứng tiếp:
- Chữ Diễm艷 là "đẹp" diễm tuyệt là sắc đẹp đầy tràn bên trái của chữ Diễm艷 là chữ Phong豐 bên phải là chữ Sắc色. Chữ Phong gồm chữ Đậu豆(hạt đỗ-hạt đậu) bên dưới và hình ảnh bông lúa "丰丰"đầy đồng phía trên "diễm" được diễn tả bằng "sắc đẹp" của bông lúa"丰丰" và đậu豆(đỗ). Khi phục nguyên chữ Nôm thì chữ "Diễm艷" nầy lúc đầu có phát âm là "Đẹp艷". Vì sao? Vì rất nhiều địa phương không phát âm vần "Đê/đ" được! Ngày nay tiếng Bắc Kinh Quảng Đông Triều Châu đều không có âm "Đ" cho nên đã đọc "Đẹp艷" là "Dep-diẹm" rồi thành-diềm艷 (tiếng Quảng đông ngày nay) diễm艷(Từ Hán-Việt) dén/yen艷 (Tiếng Bắc kinh ngày nay)"
- Phục nguyên chữ Nôm "lệ麗" chính là "đẽ麗" vì "đẽ麗" nhiều nơi đọc không được đọc trệch thành "lẽ" và "lẹ" rồi thành "lệ麗" . Nhập chung lại sẽ thấy "đẹp đẽ-艷麗" sinh ra "Diễm lệ" trở thành "diễm lệ-艷麗"
- Phục nguyên chữ Nôm "Phong豐" có thể chính là "bông豐" vì chữ nầy nói về "bông" lúa và âm "đậu" hay "đỗ" hoàn toàn phù hợp ý nói "đậu bông" "trỗ bông". Phong phú豐富 là bông lúa豐富 có nhiều lúa (với phú富 gồm chữ Điền田 và bông lúa) là giàu! Chữ "bông豐(Hoa)" kết với chữ "sắc色(sắc đẹp)" thì đúng là "đẹp艷Diễm".
- Chữ Nhã雅 là tao nhã là đẹp với chữ "nha 芽" tức là manh nha nhú mầm nẩy mầm nhảy mầm của hạt giống mới nẩy mầm. Phục nguyên giọng đọc của "Nha芽" và "Nhã雅" chính là "Nhảy芽/雅" bị đọc trệch là "Nhã雅" Hán-Việt và "Ngạ雅" / tiếng Quảng Đông "nghè-Nghe nghé雅"/ Tiếng Triều Châu và "Dã雅(ya)" / Tiếng Bắc Kinh... chính là dân nông nghiệp ca tụng cái đẹp của "nhẩy芽nẩy nhú" mầm của hạt giống.
Chữ Phước福 có Y/衣/áo cũng có Điền田 là ruộng lúa nước.

Có thể kể ra thật nhiều trường hợp nữa nhưng tôi tạm dừng ở đây vì muốn nói cho cùng phải làm một công trình quy mô khảo cứu và dịch toàn bộ sách Thuyết văn. Nhưng để chứng minh chữ Nôm của người Việt có trước chữ Hán của người Hoa thì có lẽ cũng là đủ vì còn phải dẫn chứng qua phần chi tiết khác.
Thứ chữ mà tôi gọi là chữ Nôm thì nhiều người gọi là chữ Việt cổ. Không sao chỉ là cách gọi. người Hoa Hạ đã dùng chữ Nôm của người Việt cổ phương Nam chế ra chữ Hán.
Khi tìm ra cội nguồn chữ Nôm sẽ càng hiểu mức độ văn hóa và sức sống mãnh liệt nguồn gốc và văn minh Bách Việt của tộc Việt càng cảm thông và kính phục cha ông mất bao trí tuệ và công sức sáng tạo và bảo tồn cho chúng ta về chữ và ngữ của tổ tiên.
Chử Nôm có trước từ xưa và vẫn tồn tại trong suốt qúa trình lịch sữ và cho đến ngày hôm nay; Đó là lý do vì sao tôi đã phục nguyên được "Việt nhân ca" và "Duy Giáp lệnh".

(Còn tiếp...{Với bằng chứng "kinh Hoàng" và "rỏ ràng" hơn})

Sacramento Ngày 29 tháng 03 năm 2010.
Đỗ Thành/ Nhạn Nam Phi

More...

NGUỒN GỐC CHỮ HÁN LÀ CÓ TỪ CHỮ NÔM CỦA BÁCH VIỆT phần 2 (Nghiên Cứu)

By Lê Thuận Nghĩa

 TIẾP THEO PHẦN 1
__________________
 

     
-
Xét thêm: Thảo bộ 艸部   kỹ-(hệ)   狗毒也 cẩu độc dã 从艸繫聲 tùng thảo kỷ  (Hệ) thanh古詣切 
Cổ chỉ thiết.

Cổ chỉ (nghĩ)= kỷ ngày nay dùng ch nầy cho ý nghĩa "liên kết" mà khi có 2 ch "liên kết" lại đọc là "liên hệ". Thật ra thì xưa Trung Cổ ghi là "古詣cổ ngĩ =kỷ" và biến âm "kỷ" thành ra "kết" nhưng sau nầy thành ra "hệ" như ngày nay. (Ngày xưa đọc chữ "chỉ" là "Nghĩ": Ngôn chỉ = nghĩ và phiên âm là 五計 / Ngũ kế). Phân tích kỷ lưỡng lời trong Thuyết văn sẽ thấy rõ là "nọc độc của chó gọi là "Cẩu Kỷ (nọc độc)" và "Tùng thảo kỷ thanh" lại là viết theo bộ thảo với là âm "Kỷ- hay kỳ". Vì tiếng xưa không cố định thanh sắc huyền hỏi ngã nặng nên âm "kỳ" gần với "kề" và hoàn toàn phù hợp với "liền kề" cũng có nghĩa tương tự như "liên hệ". Qua khảo cứu kỷ lưỡng sẽ có đủ lý do để phục nguyên chữ Nôm cổ đại "kề" đã có trước âm "hệ" quá mới và âm "kỷ" với "kết" cổ đại vẫn có sau âm "kề". Vậy: "liền kì" hay "liền kề" là có trước "liên hệ"

Ngôn bộ  言部   nghĩ(chỉ)    至也 chí dã从言旨聲 tùng ngôn kỷ thanh 五計ngũ kế = ngễ(thiết) . Từ khảo cứu nầy thấy "thánh chỉ" thời Cổ đại gọi là "thánh nghĩ" và đến thời Trung cổ là "thánh nghễ" cho nên phiên âm là "Ngũ Kế五計" = Nghễ ngày nay là "chỉ."

Chỉ bộ 旨部   kỷ   美也mỹ dã从甘匕聲tùng cam tỉ thanh; âm cam theo tỉ thanh là "kỷ"。凡旨之屬皆从旨phàm chỉ chi thuộc giai tùng chỉ職雉切 chức thị thiết =chỉ (biến âm thành chỉ): xưa đọc là "kỷ" vì là "cam" với "t thanh". Nay đọc là "chỉ"

Tỷ Bộ   匕部   tỷ   相與比敘也 tương dĩ tỉ tự dã从反人 Tùng phản nhân {cách viết như chữ nhân bị lộn ngược ()} 。亦所以用比取飯. Tỷ diệc sở dỉ dụng tỉ thủ phạn - "tỷ"có thể dùng để đựng cơm). Tiếng Việt ngày nay còn dùng "kỷ" trà kỷ đựng trầu cau. 一名柶 (nhất danh mứ/máng) còn gọi là "mứ" (hay là "máng" ngày nay)Ngày nay tiếng Triều Châu vn dùng ch "t-đọc thànhTeaá" là cái "chảo" để chiên cơm còn tiếng Việt Nam thì lại còn dùng "máng" là "máng" đựng thức ăn cho gia súc như cái "máng" dùng cho heo ăn. 凡匕之屬皆从匕phàm tỷ chi thuộc giai tùng t. 卑履切 ty lý thiết (ty lý = âm "tí-tỉ") => "tỷ" có sau nên được gii thích rõ là còn gọi là "mứ/ máng".

Mộc bộ  木部    Tỷ(mứ máng)   《禮lễ》有柶hu tỷ. tỷ/tứ(mứ máng) 匕也tỉ dã。从木四聲 (tùng "mộc" " tứ" thanh ) âm cổ là theo mộc với "tứ" thanh tức là "mứ" hay "máng" cái "máng" đựng thức ăn cái "máng" hay cái "mứ" hay cái "tỷ" cái "kỷ" lại là dùng đ đựng thức ăn trong dịp lễ息利切  tức lị thiết = tỷ (ghi chú: l đọc là "l" chỉ đến khi có vua tên Lê Lị thì kỵ húy nên l mới đi đọc thành lợi).=> 从木四聲 Tùng mộc tứ thanh: mộc + tứ là "mứ"/ máng  là "ch Nôm" có trước âm "tỷ" có sau và chỉ đọc "tức lị息利" bằng Hán-Việt được mà thôi còn "xĩa lía息利"= "xĩa"/ tiếng bắc kinh và "xíc lì息利"= "xi"/ Tiếng Quảng Đông và "xech lịa息利"= "xia"/ Tiếng Triều Châu... đều "khó lòng" và "không" "phiên âm" được ch nầy thành ra ch nào có âm chính xác theo cách "phản" cũng như là "thiết"! Chính vì vậy mới thấy được cái âm "Mứ Máng" là chính xác và có trước và âm Tỷ là có sau. Các "phương ngôn" khác của chữ nầy thì khỏi bàn luận... vì không dùng nỗi dùng sai hoặc biến âm khác xa rồi hoặc không còn dùng chữ nầy nữa. Chữ nầy cũng là một bằng chứng rằng tiếng Nôm chữ Nôm có trước!

  Chữ "gần" ở Triều Châu đọc là "gìn/ kìn" ở Phiên Ngung đọc là "khạnh/ cạnh" ở Bắc Kinh đọc là "Jín". Thời nhà Đường nhiều nơi lại đọc là "cận " ; chữ "tiệm" ở Triều Châu đọc là "tiẹm" ở Quảng Châu đọc là "tiêm" ở Bắc Kinh đọc là "tién" thời nhà Đường nhiều nơi lại đọc là "điếm". Gần-gìn khạnh/cạnh với "jín" cũng chính là "gìn" cùng với "tiệm" "tiêm" "tiẹm" "tiién"... Xin nhấn mạnh là riêng ở bên "tiếng Hoa" thì đã chứng minh và công nhận rằng tiếng Quảng Đông và Triều Châu là có trước tiếng Hoa-Bắc Kinh mấy ngàn năm. Như vậy cũng có nghĩa là chữ "gần/ cạnh" có trước chữ "cận hay jín" và "tiệm/ tiêm" có trước "tién" hay "điếm" của "Hán -Việt" vậy.
(xem tiếp phần 3)

More...

NGUỒN GỐC CHỮ HÁN LÀ CÓ TỪ CHỮ NÔM CỦA BÁCH VIỆT phần1 (Nghiên Cứu)

By Lê Thuận Nghĩa

 

Mấy hôm nay dân cư mạng xôn xao bàn tán phản biện một bài viết có tính vong bản của một người mạo danh là Tiến Sĩ Giảng Viên Đại Học Yale bà Đổ Ngọc Bích. Bà Bích là một người Việt chính gốc nhưng vì háo danh muốn làm như một kẻ đốt đền lợi dụng sự háo tin của BBC Việt Ngữ Bà đã mạo danh là tiến sĩ Hoa kỳ học để gửi cho BBC Việt Ngữ một bài viết có tính chất nhục mạ Dân Tộc Việt Nam.
Bà Đổ Ngọc Bích thì không cần phải bàn đến vì khi một người háo danh mà nhất là phụ nữ háo danh thì họ sẽ đánh đổi tất cả để đạt được mục đích. Để đạt đỉnh cao danh vọng hão huyền ấy họ có thể đánh đổi tất cả sự liêm sĩ nguồn gốc xuất thân quên luôn cha mẹ ông bà quê hương. Loại người này chúng ta không chấp. Nhưng BBC Việt Ngữ vốn là một tờ báo có uy tín. Khi đăng tải bài viết của người đàn bà vong bản này vô tình đã tạo nên một định hướng lăng nhục người Việt Nam.
Xin xem thêm chi tiết ở đây:
http://quechoablog.wordpress.com/2010/04/19/khoc-ba-do-ngoc-bich/#comments     
    
Trọng tâm chủ yếu của bài viết chủ yếu xoáy quanh mệnh đề : Người Việt có nguồn gốc từ Trung Hoa. Tuy bài viết thể hiện trình độ rất nông cạn và sự hiểu biết lịch sử sơ sài nhưng vì đăng trên BBC Việt Ngữ nên vẫn tạo nên một làn sóng phẩn nộ trong cộng đồng người Việt.
Có rất nhiều công trình gần đây nhất là nhờ vào công nghệ hiện đại qua nghiên cứu Gen và ADN người ta đã khẳng định được Người Trung Hoa và Hán Tộc có xuất xứ từ người Đông Nam Á cổ.
Sau đây và một phần trong công trình nghiên cứu của một nhà Hán Học. Công trình chưa được công bố nhưng tác giả anh Đỗ Thành đã gửi cho tôi xem phần đầu cách đây đã hơn tháng. Nhân tiện theo dòng phản biện bài viết của bà Đổ Ngọc Bích tôi xin phép anh đưa lên cho bà con tham khảo.
(Ngay cả chữ viết ngôn ngữ chính thống của Trung Hoa bây giờ cũng có xuất xứ từ chữ Nôm. Chữ Nôm là chữ viết cổ của dân Bách Việt và Dân Tộc Việt. Ngôn ngữ "nồng cốt" văn hóa của Trung Hoa vốn xuất xứ từ Bách Việt thì tất cả mọi biện luận theo chiều ngược lại (Tộc Việt có xuất xứ từ Trung Thổ) là một thứ ngụy biện ấu trỉ.)
Thuận Nghĩa
                                      
   
 
NGUỒN GỐC CHỮ NÔM

                                                        Đỗ Thành.

Có rất nhiều và đủ bằng chứng hiển nhiên là chữ Nôm có trước chữ Hoa và Hán-Việt.

2800 năm trước có bài hát của người Việt khi chèo ghe là bài "Việt nhân ca" được truyền đến ngày nay là chữ Nôm.

2500 trước có "Duy giáp lệnh" của Việt Vương Câu-Tiễn nằm trong sách Việt Chép là chữ Nôm.

Các truyền thuyết cổ sử cổ thư và cổ thi từ dân gian cho đến sách của Khổng Tử biên soạn và "từ điển" thời xưa v v... đều sẽ chứng minh được là "hiển nhiên" rằng: chữ Nôm có trước!

Tôi xin trình bài khảo cứu nguồn gốc chữ Nôm và Chữ Nôm có trước chữ Hoa và Hán-Việt với nhiều bằng chứng rỏ ràng được xét từ giáp cốt văn cổ thư-cổ sử.

 Xin lần lượt xem qua từng bằng chứng:

  Sách "Thuyết-Văn" còn gọi là "Thuyết văn giải tự"do Hứa Thận thời Đông Hán biên soạn bao gồm 2 phần là Thuyết văn và Trọng Văn.

     - Phần Thuyết văn gồm 9.353 chữ chia theo 540 bộ chữ.

     - Phần Trọng Văn gồm 1 163 chữ chỉ ra những chữ cùng âm cùng nghĩa nhưng mà cách viết khác nhau.

       Sách Thuyết Văn gồm 14 chương chính và 1 chương mục lục tổng cộng có 133.441 chữ trong lời ghi chú để giải thích chữ nghĩa. Năm Vĩnh Nguyên thứ 12 (Công nguyên năm 100) sách Thuyết-văn được hoàn tất nhưng mãi đến năm Kiến Quang thứ nhất (Công nguyên năm 121 ) Hứa Thận mới giao cho con là Hứa Xung dâng lên triều đình Hán .

         Nguyên bản của Thuyết văn đã thất lạc cũng là nhờ các thư tịch khác thời Hán và các đời sau đã dùng Thuyết văn để dẫn chứng nhiều cho nên sau nầy người ta có tài liệu biên soạn lại sách Thuyết văn. Thời Bắc Tống rồi đến thời Mãn Thanh đều có người nghiên cứu và hiệu đính.

          Sách Thuyết văn dùng 2 phương pháp "Phản" và "Thiết" để tra chữ rồi giải thích nghĩa tạo ra tiền lệ và trở thành quyển từ điển đầu tiên. Các từ điển sau nầy là phỏng theo phương cách của Thuyết văn.

          -"Phản" là cách nói phản-nghịch (nói lái): dùng từ phản (nói lái) để đọc ra phát âm của chữ cần tra cứu. Ví dụ:

           Phát âm chữ "Thiên " là theo cách nói lái của "Tha-Tiền 他前" là "Thiên Tà" thì sẽ biết "Thiên" là phát âm của chữ  "Thiên ": = 他前.

         -"Thiết" là nhất thiết là tất cả: chữ đầu lại dùng luôn âm vần của chữ thứ 2 để phiên âm ra giọng đọc của chữ cần tra cứu. Ví dụ:

          Phát âm chữ "Thiên " là dùng chữ "Tha-Tiền 他前". Với cách đánh vần chữ "Tha " dùng luôn âm "iên" của chữ "tiền" thì sẽ được Tha-iên-Thiên: =他前.

         Hai phương pháp "phản" và "thiết" có cách dùng trái ngược nhau nhưng nhập chung lại thì cách nào cũng được và gọi chung là "phương pháp phản-thiết" để phiên âm.

         Nhờ cách phiên âm phản-thiết của Hứa Thận cho nên người ta có thể căn cứ vào cách đọc của Thuyết văn để phục nguyên âm đọc Hán ngữ cổ. Cách giải tự trong Thuyết văn có nhiều đóng góp cho việc khảo cứu ngôn ngữ học. Qua đó người ta có thể phục nguyên cách đọc của thời cổ xưa. Đời nhà Thanh có bốn học giả nổi tiếng đã nghiên cứu và hiệu đính Thuyết văn.

Có hiện tượng "không bình thường" là khi dùng tiếng Hoa ngày nay để đọc "Hán ngữ" cổ thì khó khăn không thích hợp còn dùng tiếng Việt để đọc lại dễ dàng. Từ đó rút ra kết luận: đọc Thuyết văn theo tiếng Việt thì đúng mà đọc theo tiếng Hoa thì nhiều khi sai vì không hoặc khó phiên âm đúng.

     Chính vì tiếng "Hoa" không đọc nổi "Thuyết văn giải tự" cho nên các đời sau nầy khi biên soạn lại sách Thuyết văn người ta thêm vào cách phiên âm "mới" hơn so với thời Cổ đại. Dù là như vậy nhưng những âm Trung Cổ đại lại một lần nữa cũng gần với âm Việt hơn là tiếng Hoa ngày nay. Chúng ta có thể nhận ra những phần phiên âm theo cách "phản-thiết" mà người đời sau thêm vào. Khi đọc sách Thuyết văn thấy đã có hướng dẫn cách đọc chữ của Hứa Thận rồi mà lại có thêm 3 chữ "X X thiết" nữa mà lại khác với cách "hướng dẫn các đọc" của câu có trước thì đó là bản được "soạn" lại! Bản nào được biên soạn vào đời nhà Thanh thì có thêm phần "XX thiết" đọc theo tiếng quan thoại-phổ thông được hơn.

 Liệu có còn bản chính của Thuyết văn do Hứa Thận thời nhà Hán viết ra không? Không! bản Thuyết văn xưa nhất hiện thời cho dù được gọi là "nguyên bản" được chụp hình đăng lên Internet hay in thành sách để bán thì cũng là bản được biên soạn vào thời nhà Tống ! Những bản khác còn được làm muộn hơn nữa.

Nhưng dù sao đi nữa sách Thuyết văn có giá trị là nhờ nó giữ được nhiều nguyên văn cổ xưa của Hứa Thận và có nhiều điển tích trong những lời giải thích. Đồng thời sách cũng đưa ra quy tắc chữ viết cùng một bộ thì có phát âm giống nhau v v... Tôi nhận thấy đọc Thuyết văn theo tiếng Hoa-quan thoại thì không phiên âm được chữ như chú dẫn của Hứa Thận còn khi đọc theo các tiếng Việt thì đọc đúng! Ví dụ:

    -     Chữ  tiếng Hoa ngày nay đọc là "Xia". Thuyết văn ghi:    : 中國之人也. 夊從頁從

More...

HÀNH HƯƠNG QUA CÁI QUẦN (bình luận)

By Lê Thuận Nghĩa

 HÀNH HƯƠNG QUA CÁI QUẦN CỦA BÙI GIÁNG
                          thuận nghĩa
         
   
Từ nhà tôi ở đến chỗ tôi làm việc đúng 950 mét. Sử dụng phương tiện gì cũng lỡ làng. Đi xe máy hay đi ô tô đều uổng công rồ máy. Đi xe bus thì lại càng vô duyên hơn bởi vậy trừ những trường hợp khẩn cấp tôi mới sử dụng phương tiện còn không thì đi bộ là hay nhất. Con đường không dài nhưng đủ để vừa đi vừa vớ vẩn nghĩ suy.
   
Trên con đường đó đã ra đời không biết bao nhiêu bài thơ của tôi.
Tôi không dồn bước chúi đầu hấp tấp như phong thái thường ngày khi có việc đi lại. Không biết vì sao đi đâu thì khác cứ như có ai đốt pháo sau đít đi như đi ăn cướp. Nhưng trên con đường đó thì tôi không vậy thẩn thơ chậm rãi thỉnh thoảng còn tưng tửng nhảy tưng tưng vài bước theo nhịp điệu cấu tứ một bài thơ nào đó.
   
Con đường đó tôi gọi là con đường Bùi Giáng. Vì mỗi lần tôi đi trên con đường đó tôi lại nghĩ đến Ông. Người "đứng phố ngồi hè" vĩ đại nhất trong tâm hồn của tôi. Người mà cái chất NGƯỜI trần trụi kiêu hãnh không một chút pha tạp cái hào nhoáng của  sự giả dối bịp bợm kể cả trong hình thức lẫn tâm hồn.
Một con người NGƯỜI nhất mà đời tôi đã từng gặp trên đời.
     
Người ta nói Ông ta điên. Hứ! đúng vậy Ông ta điên vì ông ta không thèm khoác cái mặt nạ ma mị bặt thiệp của người đời thường mang.
  
Có một bài thơ của Ông mà tôi đã đọc đi đọc lại hàng ngàn lần trên khi đi trên con đường đó.
     
Bài thơ về Cái Quần một cái quần mà tôi hành hương trong đó ngày này qua tháng khác vẫn không đi đến hết chiều thăm thẳm vô cùng vô tận của nó.
  
Cứ mỗi lần tôi nhún nhẩy theo nhịp tứ đặc biệt của bài thơ tôi lại tưởng tượng ra cái hình ảnh Ông vừa đi vừa nhún nhẩy một cách thật vô tư thật trong sáng thật thanh thản và thật hạnh phúc.
   
Người con gái..(nhún một cái)..hôm nay ...(xớt lê chân một cái).. mặc quần đỏ... (nhún một cái)...Vì hôm qua..(nhún một cái)...đã mặc...(xớt lê chân một cái)...đã mặc chiếc quần đen...(nhảy tưng tưng một cái)...
Đen và đỏ...(nhún) là hai màu (xớt lê chân)...rồi đó (nhảy tưng tưng"....Cũng như đời ..(tưng tưng nhảy).. hai nẻo xuống lên...(lại nhảy tưng tưng).
  
Sướng thật thống khoái lắm. Cứ vậy vừa đi vừa nhún nhẩy:
     
Người con gái hôm nay mặc quần trắng
Vì hôm qua đã mặc chiếc quần hồng
Hồng và trắng là hai màu bẽn lẽn
Cũng như núi và rừng đều rất mực chông chênh
 
  
Người con gái hôm nay mặc quần tím
Vì hôm qua đã mặc chiếc quần vàng
Vàng và tím là hai màu mỉm miệng
Mím môi cười và chúm chím nhe răng
  

Người con gái hôm nay mặc quần rách
Vì hôm qua đã mặc chiếc quần lành
Lành và rách đều vô cùng trong sạch
Bởi vì là lành rách cũng long lanh
    

  
Bạn chớ cười tôi đã quá nửa đời rồi tóc đã điểm màu muối tiêu đã quá cái tuổi tri thiên mệnh mà vẫn hành hương chưa đi  đến hết chiều thăm thẳm sắc màu diệu vợi của cái quần Bùi Giáng.
Bạn có nghĩ rằng bạn đã đi tới chỗ : "Bởi vì là lành rách cũng long lanh" chưa?
  
(Nghệ sĩ Kim Cương hay Kim Cương Nương Tử đến thăm Bùi Giáng trên lề đường Sài Gòn)
          
Và chính "người con gái mặc quần..." đó của Bùi Giáng trên con đường hành hương về CÕI của tôi là EM trong thơ của tôi chứ không hề có một em nào trên đời thật sự hiện hữu trong thơ của tôi hết.
 
03.04.10

More...

HI HI ...HA HA...HÔ HÔ....

By Lê Thuận Nghĩa

Muốn làm cái entry giải độc cho bạn bè và đồng nghiệp biết chơi để ai có duyên thì ứng dụng.
Định lấy một ít tư liệu từ các công trình và trước tác khoa học làm lý luận minh giải nhưng khi đọc lại các công trình đó thì lại thấy hơi tức cười. Đúng là khoa học thật họ cứ tràng giang đại hải đào sâu vào các cơ chế nhiễm độc bằng những công thức hàm số phản ứng... với những lý luận tận trên trời xanh. Nói cho tợn rồi cuối cùng cũng chỉ có một câu "cơ thể hàng ngày phải tiếp nạp rất nhiều tác nhân có hại cần phải đào thải nó đi". Biết rồi nói mãi....khổ lắm...
Cũng như những trước tác về Đông Y và Y học cổ truyền gần đây. Trích dẫn Hán Tự búa xua Thái cực Ngũ hành Kinh dịch hà rầm thôi thì  Hải Thượng Lãn Ông Y Tâm Lĩnh Thương Hàn Luận..ngất trời nào là Tứ Chẩn Bát Pháp Thất Tình Lục Dục ..dậy núi. Biết rồi nói mãi...khổ lắm. Đọc một hồi cuối cùng cũng rơi vào ma trận của chữ nghĩa.
Nói dông nói dài thì cuối cùng thì cũng hai chữ Âm-Dương mà thôi.
Bệnh tật là gì: Là âm dương không đều hòa
Nguyên nhân: Chính khí hư tà khí thịnh
Chẩn bệnh : Tìm ra chỗ nào âm-dương không điều hòa
Liệu pháp điều trị: Điều hòa âm-dương
Thiên kinh vạn quyển kết cuộc cũng chỉ chừng ấy chữ dông dài gì cho nó mất thời gian.
Hoa Đà Biển Thước Tuệ Tỉnh Lãn Ông Trương Trọng Cảnh gì rồi cuối cùng cũng chỉ có 4 chữ: Điều Hòa Âm Dương mà thôi. Đố ông nào là Thần Y mà dám đi chệch ra ngoài 4 chữ ấy đấy.
Rồi thì trăm phương nghìn kế vạn vạn toa bí truyền nào là kỳ hoa diệu thảo gì đó rồi mục đích tối hậu cũng không ngoài 4 chữ: Điều Hòa Âm Dương. Thế đấy!
Vậy chính khí hư là gì? cần chi phải dông dài nào là Vinh Khí Vệ Khí nào là Tiên Thiên Hậu Thiên cho nó mệt xác. Cứ một câu chắc cú là đủ: Là cái cơ thể cần phải có nhưng bị thiếu hụt
Vậy tà khí thịnh là gì? đâu cần phải con cà con kê nào là thất tình bi hỉ nộ ưu tư kinh khủng... nào là lục dục hàn nhiệt thấp táo phong thử ...làm gì cho nó hao hơi cứ đóng mấy chữ là êm xuôi: Là cái cơ thể không cần nhưng bị dư. Vậy thôi!
Không cần biết nó là cái thứ gì là ung thư hay sida là viêm gan vi rút hay máu mỡ là tiểu đường hay áp suất máu cao mặc kệ là suy nhược cái gì cũng được...cứ một cú điều hòa Âm-Dương là xong hết...đếnh sợ "thằng" quái nào hết.
Nhưng làm thế nào để điều hòa âm dương và biết nó rối loạn ở chỗ nào mà điều hòa. Cũng đếch cần biết luôn. Chỉ cần thở ra hít vô đều đặn nâng tay lên hạ tay xuống theo mấy chiêu Khí Công là đủ. Dư đủ!
Chỉ cần vậy thôi rồi cơ thể tự nó làm tất cả tự nó tìm chỗ nào hư chỗ nào thiếu chỗ nào cần bổ sung chỗ nào cần bớt đi. Nó làm được tất vì đó là trách nhiệm của nó. Chính cái hơi thở đều đặn theo cái nâng lên hạ xuống của bàn tay đó đã đánh thức cái lười biếng ỷ lại của cơ thể bắt nó phải phục hồi lại chức năng và làm việc tích cực cho tròn bổn phận của nó đấy.
Chẳng cần nói đâu xa như tháng trước đấy có một cô nàng bị bệnh ung thư hạch bác sĩ đã mổ và vứt mẹ nó mấy cái khối hạch ung thư ở hai bên bẹn. Hạch bẹn cắt vứt hết nên con đường thủy đạo bị cắt ngang nước không thể lưu thông được vì vậy tụ xuống hai chân như hai chân voi. Bác sĩ Tây y cho mang một loại vớ đặc biệt dày như da trâu ép từ dưới lên cho chân khỏi tụ nước và nói phải đeo cái vớ "da trâu" đó cho đến trọn đời có nghĩa là mang đến khi nào ung thư hạch nó tái phát mà không trị được nữa thì thôi. Cô ta đến chỗ tôi khóc lóc ỉ ôi than vãn cầu cứu. Tôi nói: đơn giản chơi mấy đường Thiên Lý Tiêu Dao hét mấy tiếng ha..hi..hô là êm chuyện tin thì làm không tin thì "xéo" đi với cái vớ da trâu của cô. Cô ta nói: chưa tin nhưng cứ làm thử. Tôi nói thử đi thì biết.
Mới chơi có tháng rưỡi với Thiên Lý Tiêu Dao và ngày nào cũng "tra tấn" chồng con và hàng xóm với tiếng hét: Hư-Ha-Hô-HI-Suy-Hư (he he...càm nhàm la hét là nghề của mấy bà mà). Thứ 6 vừa rồi đến lại chỗ tôi chân không mang vớ vạch cặp chân dài như chân hươu cao cổ ra khoe với tôi và hỏi: đẹp không đẹp không?. Tôi nói: hơi mập hơi mập!. Cô ta toét miện ra cười: không sao không sao vừa sinh thiết thử nghiệm xong kết quả không còn sợ di chứng nữa.
Thế đấy tôi chả cần quan tâm đến cái cơ chế chết người của ung thư làm gì chả cần biết đến hóa trị xạ trị là cái quái gì cho nó hao tâm. Ưỡn ẹo mấy động tác như giỡn chơi hít vô thở ra đều đều vậy là nó điều hòa bà nó cái âm-dương trong cơ thể cô ta. Xong!
Các bác không tin hả. Mai mốt cô ta viết bài khoe trên báo tôi cop xuống cho bà con coi.


Đây. HI HI...HA HA...HÔ HÔ kính biếu các Bác.
______
  
    Lục Tự Quyền theo Nhật Khởi Đông Khai (Chữ Hư đứng đầu) dùng để luyện tập điều hòa thân thể cho một cơ thể bình thường (không mang trọng bệnh) nhằm mục đích bồi bổ chính khí thanh trọc cơ thể phòng chống bệnh tật .

  Lưu ý: vì điều kiện thời gian gửi băng có hạn nên đã lược giản bớt số lượng phát Tự Quyền.
Có hai cách phát Tự Quyền:
1) Phát đơn Tự: tức là tập hô từng chữ một chữ Hư một lần chữ Ha một lần....cứ vậy theo thứ tự cho đến hết chữ Hu (Hư-Ha-Hô-Hi-Suy-Hu..) hết chữ Hu thì lặp lại vòng chữ Hư tập 3 vòng 6 vòng 9 vòng tùy thời gian và điều kiện
2) Phát bội Tự: tức là cứ mỗi chữ phát 3 lần hay 6 lần hay 9 lần xong thì chuyển sang chữ khác cũng theo tuần tự như trên: Hư-ha-Hô-Hi-Suy-Hu....
______
 Cách phát từng Tự Quyền như thế nào thì đây:
Phát Chữ HƯ:

He he...không ngờ cái hơi thở đan điền của mình quay vô hình cứ y chang như bà bầu 9 tháng vậy ngượng thế.
   _______
   
Phát Chữ HA
 
 Chữ này có lần mình không kiềm chế nổi bực bội úp mặt vô tường mần một cú he he...điện đóm dàn mày ti vi cả tòa nhà cháy sạch may không ai biết không thì bị đền ốm đòn.

_____
 
Phát Chữ HÔ
  
__________
  
Phát Chữ HI
 
  Còn chữ này thì hồi trước qua Đông Đức bị mấy chục thằng đầu trọc chận đánh mình nổi điên hét một cú kinh thiên động địa làm cả mấy chục thằng nằm quay đơ trong đó có thằng nghe nói đến giờ này vẫn còn ngất ngất.
__________
 
Phát Chữ SUY
  

  
______
Phát Chữ HU
  
  ...Là thầy thuốc khi luyện Lục Tự Quyền đạt khí. Khi châm kim lên huyệt không cần thủ pháp vê kim chỉ vần vận công hét Tự Quyết kim trên huyệt ở bệnh nhân cứ rung lên bần bật theo ý muốn. Khi nào có điều kiện biểu diễn một cú lấy oai hè.....
 
_________
 
Còn đây là bài luyện cho các bệnh về MẮT: Cho dù là viễn thị cận thị loạn thị lão thị hay là viêm hoàng điểm đục thủy tinh thể thậm chí cả mù rồi cũng chữa khỏi tất. Không tin thì cứ làm thử hiệu quả ngay trước mắt. Ai cận thị viễn thị hay lão thị giảm độ ngay. Như tôi đây dù không luyện tập thường xuyên chỉ thỉnh thoảng mới làm mấy đường thôi nhưng cho đến bây giờ đã hơn 50 tuổi vẫn chưa bao giờ biết kiếng là gì.

  Lưu ý:
-Bài Lục Tự Quyền cho bệnh mắt theo vòng Ngũ Trung Đại Hóa :   có nghĩa là phát chữ Hô (thổ)  đầu tiên chứ không phải phát chữ Hư như vòng Nhật Khởi Đông Khai và vẫn theo thứ tự tương sinh đó và lúc kết thì ở chữ Suy. Và lúc tập đến chữ Hư và chữ Suy thì tăng số lần phát 2 chữ đó lên gấp hai lần các chữ khác: Ví dụ các chữ khác phát 3 lần thì chữ Hư và chữ Suy phát 6 lần chẳng hạn.
- Bài Lục Tự Quyền dành riêng cho bệnh mắt. Lúc phát tự quyết cả hai thức trong một tự quyết đều không phát ra âm lượng nghe thấy chỉ nghe tiếng xì xào gầm gừ trong cổ họng và không nên há miệng ra quá to lúc xả tự quyết ra bằng miệng.
(xem lại băng hình minh họa)
______
   
  Còn đây là bài Lục Tự Quyềndành cho việc giải độc Gan và Thận:
Bài này theo vòng Vọng Nguyệt Tàng Nguyên...Tức là khởi luyện bằng chữ SUY và kết ở chữ HI và cũng tăng hai chữ SUY và HI lên gấp đôi lần luyện các Tự Quyết khác.


  
   - Lưu ý: Lục Tự Quyền dùng để giải độc Gan- Thận lúc phát hai thức của mỗi tự quyết đều phải phát ra tiếng cả hai thức. Có nghĩa là không phải một Tự vang và một Tự câm như lúc luyện bình thường vòng Nhật Khởi Đông Khai. Hay là cả hai Tự đều câm như vòng Ngũ Trung Đại Hóa dành cho bệnh Mắt.
- Bài này là một phương pháp giải độc Gan Thận vô cùng vi diệu không có thứ dược liệu nào loại nước mát trà giải nhiệt nào hay bằng nó đâu. Nhiễm mỡ gan viêm gan nóng gan nóng thận đái buốt đái dắt mẫn ngứa gì ...luyện nó là đi bay hết.
Không tin các bạn cứ thử biết liền:
- Ví dụ bạn uống rượu vào nồng độ rượu trong máu rất cao và phải mất một thời gian lâu mới giãm và thường hay bị choáng váng nhức đầu....Chỉ cần bạn đi mấy vòng bài này xong lúc đo nồng độ rượu ngang với chưa uống và thở ra không còn nồng nặc mùi cồn nữa (đã đo thử nghiệm lâm sàng). He he ...một bật mí cho các bợm nhậu. Cứ nhậu một chầu kiếm chổ nào vắng đi mấy vòng bài này vô uống tiếp bảo đảm là trên giang hồ không tìm ra đối thủ đối tửu.
- Hoặc các bạn làm nghề bếp trong nhà hàng hay làm nghề móng tay giả ở Âu-Mỹ. Hàng ngày phải hít thở khí ga hay hơi độc của hóa chất làm móng giả. Gan thận của bạn nhiễm độc trầm trọng. Theo nguyên tắc thì khi cơ thể bị nhiễm độc thường có hiện tượng khát nước trầm trọng để đào thải chất độc. Nhưng khốn nỗi cái chất độc mà các bạn hít thở hàng ngày quá nhiều nó làm "tịt mẹ" nó đi cái chức năng tự nhiên đó rồi vì vậy mà các bạn có càng nhiễm độc thì lại càng lười uống nước thế mới khốn chứ. Cho nên thôi thì mẫn ngứa mọc đầy thân da khô mắt vàng  mặt xạm xịt mũi xụt xịt quanh năm toàn thân nhức mỏ  đau đầu mất ngủ... vân và vân vân...Bạn cứ thử luyện bài này mà xem luyện xong dù động tác mềm dẽo nhẹ nhàng không ra một tý mồ hôi nào nhưng bạn sẽ khát nước ngay khát một cách quay quắt mà lại thèm uống nước lọc mới diệu chứ. Đó là khả năng đòi hỏi nước để thải độc của cơ thể được phục hồi đấy. Cú thử nghiệm này không thử được trong Nước Vitệ được vì trời nóng bỏ xừ đi lúc nào mà chẳng muốn uốn nước đá chanh đá cà phê đá bia đá...(đồ điên hết...toàn là chất độc)
_______
  Còn đây là bài Lục Tự Quyền dành riêng cho bệnh nhân giải độc và phòng chống di chứng sau Hóa trị và Xạ trị trong Ung Thư:
Bài này luyện theo vòng Chính Dương Vi Quân. Tức là khởi luyện bắt đầu từ chữ  HA và kết thúc ở chữ HƯ. Các chữ đều luyện đồng đều chỉ riêng chữ Hư thì có thể luyện tănng bội số lên   và lúc luyện tuôn thủ theo nguyên tắc cơ bản: Một âm vang và một âm tịt hì hì...(Một âm phát tiếng ra ngoài và một âm thì phát trong cổ họng không nghe tiếng)
(Bạn có tin là bài này có tác dụng tốt cho người sau các trị liệu Ung thư không? Không tin thì thôi đừng tập. Chỉ biết rằng nhờ bài này tôi đã đưa ít nhất là trên cả chục người từ cõi chết trở về đấy)
 
 
_________
 
HI HI...HA HA...HÔ HÔ bài này mình viết đúng ngày cá tháng tư. Ai có duyên thì tin thì chơi không tin thì cứ coi như bốc phét trong ngày nói láo thế giới vậy.....HƯ HƯ...HU...HU....
_____
01.04.10
tn

More...

THANH LỌC và GIẢI ĐỘC CƠ THỂ BẰNG LỤC TỰ QUYỀN (tư liệu)

By Lê Thuận Nghĩa

Vào những năm từ 1995 đến 1998 hầu như thứ bảy chủ nhật nào tôi cũng từ thành phố Göttingen đến chùa Viên Giác ở thành phố Hannover để châm cứu thiện nguyện chữa bệnh cho  cộng đồng người Việt ở đó.
Có một lần tôi đang "vật lộn" hướng dẫn Lục Tự Khí Công phục hồi vận động cho mấy người bệnh bị bán thân bất toại di chứng của tai biến mạch máu não. Hôm đó chùa Viên Giác có rất đông thiện nam tín nữ khắp châu Âu tụ hội về bởi vì dịp đó có Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 14 ghé lại thăm chùa Viên Giác mấy ngày.
Trong khi tôi đang "quần thảo râm ran" với người bệnh trong căn phòng nhỏ mà Thầy Trụ Trì dành cho tôi. Nào là Hô nào Ha nào Hi..Suy loạn xạ ngầu cả lên thì có một người ghé vào xem. Ông lặng lẽ chăm chú nhìn tôi cực nhọc hướng dẫn cho người bệnh bại liệt cách thu nạp hô hấp và tập hét các Tự Quyết trong Lục Tự Khí Công nhằm mục đích dùng chấn động âm thanh nội tại để phục hồi chức năng điều khiển vận động của não bộ bị tổn thương do tai biến mạch máu não đưa lại (đột quị). Nhìn một hồi lâu rồi ông nhẹ nhàng nhìn tôi ân cần nói: - "chưa bơi được mà đã muốn vượt vũ môn khó lắm thay..". Thoáng sững sờ trước câu nói có âm lực chấn động tâm thức rất dữ dội tôi lặng người đi một hồi lâu mới tĩnh trí lại được. Khi bình tĩnh trở lại được thì người đàn ông đó đã rời căn phòng và đi lẫn vào trong đám đông thiện nam tín nữ trong sân chùa.
Tan buổi trị bệnh tôi tìm gặp anh bạn vong niên giáo hữu Thị Chơn NND. Hồi đó anh đang phụ trách tổng hội Thanh Niên của Giáo Hội Phật Giáo Thống Nhất Hải Ngoại biên tập viên của báo Viên Giác. Nghe tôi mô tả người đàn ông đó. Thị Chơn NND mỉm cười và nói: "- rứa là chú có duyên lắm mới được thầy Khổ Toại để ý đến may hỉ may hỉ..". Anh Thị Chơn dẫn tôi đi gặp thầy Khổ Toại gặp lúc thầy Khổ Toại đang luận chuyện với một vị Lạt Ma Tây Tạng vị này là bác sĩ riêng của Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 14. Thị Chơn giới thiệu tôi với nhị vị Đại Sư ấy. Sau cái duyên hội ngộ ấy Thầy Khổ Toại truyền lại cho tôi Lục Tự Quyền. Một môn quyền thuật dùng sự nhu chuyễn của hay bàn tay để dẫn ý trợ khí cho âm lực của Lục Tự Khí Công.
Lục Tự Khí Công vốn là một môn Tĩnh Công dùng chấn động nội lực của âm thanh để điều hòa khí huyết của cơ thể
Lục Tự Khí Công tuy chỉ có sáu tự quyết đơn giản: Hư-Ha-Hô-Hi-Suy-Hu biểu tượng của ngũ hành: Mộc- Hỏa-Thổ-Kim-Thủy ứng với các tạng phủ: Can   Đởm- Tim Mạch Tiểu trường- Tỳ Vị- Phế Đại trường- Thận Bàng quang và Tam tiêu. Nhưng cách phát âm bằng sự hô hấp đan điền ở tư thế tĩnh rất khó áp dụng cho hành giả có căn cơ tập luyện khí công thấp.
Lục Tự Quyền khắc phục được nhược điểm đó dùng sự chuyển động nhu nhuyễn của hai bàn tay dẫn ý và lan truyền chấn động của âm lực đến vùng cần phải điều hòa và chữa trị. Không những làm cho Lục Tự Khí Công luyện tập được dễ dàng hơn hiệu quả hơn mà còn phát huy được triệt để khả năng phục hồi chức năng của các cơ quan trong cơ thể bị suy thoái. Đặc biệt là khả năng thanh trọc giải độc tuyệt diệu của Lục Tự Khí Công.
Đại Sư Khổ Toại là người Nhật xuất xứ từ một dòng Võ Sĩ Đạo nổi tiếng ở Nhật. Ông là một trong những truyền thừa đắc ý của Thánh Tăng Tuyên Hóa (Hoà Thượng Tuyên Hóa là truyền nhân đời thứ 9 phái Qui Ngưỡng Thiền Tông Tổ Phật Giáo đời thứ 47 sau Thích Ca Mâu Ni và là Tổ Thứ Nhất Phật Giáo ở phương Tây)
Nếu bộ Bát Linh Công của Đại sư Độ Giác có công năng đặc biệt trong việc trị các chứng bệnh về cột sống và hệ vận động. Bộ Càn Khôn Thập Linh của Thượng Toạ Hằng Trường có tác dụng rất diệu kỳ trong việc khai mở các trung tâm năng lượng sinh học (luân xa). Thì bộ Lục Tự Quyền lại có công năng đặc biệt trong việc thanh trọc thân thể và giải độc hoá trược khai thông sự ứ trệ cho các cơ quan nội tạng. Và đặc biệt tinh nhạy trong việc khôi phục chức năng bị suy thoái của các cơ quan có cấu tạo vi tế mà hoạt động của nó liên quan trực tiếp đến trung khu thần kinh và võ đại não   như các cơ quan ngoại cảm : mắt tai mũi lưỡi...và các tuyến nội tiết.
Lục Tự Quyền là phương pháp chủ yếu mà tôi đã ứng dụng cho việc giải độc sau hóa và xạ liệu trong điều trị Ung thư cũng như việc phục hồi các cơ quan nội tạng do xạ liệu và hóa liệu làm tổn thương. Đặc biệt Lục Tự Quyền kết hợp với Ngũ hành Khí công là một phương thức phòng chống các bệnh nan y rất hữu hiệu nhất là trong việc chống di căn của Ung thư.
___________
  
Lục Tự Quyền:
 
 

      

Xem thêm về nội dung Lục Tự Khí Công
  
LỤC TỰ KHÍ CÔNG

Lương Y Võ Hà

Dưỡng sinh bằng những phương pháp khí công là một bộ phận quan trọng của y học cổ truyền phương Đông. Chương "Nhiếp Sinh" của sách Nội Kinh đã đề cập đến nguyên nhân mà những bậc chân nhân của thời thượng cổ có thể diên niên ích thọ. Đó là "Thuận theo trời đất nắm lấy Âm Dương hô hấp tinh khí độc lập thủ thần." Trên tinh thần nầy qua nhiều thế hệ đã có rất nhiều phương pháp khí công được biết đến. Tuy nhiên Lục tự khí công có lẽ là phương pháp duy nhất đã phối hợp giữa kỷ thuật hô hấp và sự rung động của âm thanh nhằm khai mở huyệt đạo và khử trược lưu thanh cho yêu cầu chữa bệnh dưỡng sinh.Những kỷ thuật dùng âm thanh hoặc âm nhạc để chữa bệnh hoặc để dẫn dắt con người thể nhập vào những trạng thái tâm lý hoặc tâm linh nhất định đã được biết đến từ xưa ở nhiều dân tộc cũng như nhiều nền văn hoá khác nhau trong tôn giáo cũng như trong y học. Theo quan niệm Thiên nhân tương ứng của khí công cổ đại mỗi âm thanh hoặc ý niệm đều tương ứng với một loại khí nhất định trong cơ thể cũng như ngoài vũ trụ. Do đó ta có thể vận dung âm hưởng với cường độ và trường độ thích hợp để điều chỉnh những rối loạn bệnh lý hoặc nâng cao nội khí trong cơ thể.

Lục tự khí công còn gọi là Lục tự quyết là một phương pháp khí công đặc thù đã ứng dụng nguyên tắc trên vào việc chữa bệnh dưỡng sinh. Bí quyết của phương pháp là hít vào bằng mủi thở ra bằng miệng. Khi thở ra kết hợp với niệm tự quyết. Lời quyết không phát ra thành tiếng nhưng tâm vẫn ghi nhận được. Đây là một loại tĩnh công Công pháp không cần bất cứ một động tác hoặc chiêu thức gì. Cách thở cũng đơn giản. Thở 2 thì không nín hơi. Tuy nhiên sự kết hợp đặc biệt giữa hô hấp và tự quyết có thể tạo ra những xung lực có hiệu ứng khai mởthanh tẩy rất kỳ diệu.Tương truyền Lục tự khí công do Xích Tùng Tử một đạo trưởng tu luyện pháp trường sinh ở núi Hoa Sơn nghiên cứu ứng dụng và truyền bá ra cho đời sau. Lục tự quyết gồm 6 chữ : Suy Hô Hư Ha Hí Hu. Mỗi chữ ứng với một loại khí hoặc tạng phủ nhất định trong cơ thể con người.

Chữ SUY ứng với Thận Bàng quang thuộc Thuỷ khí.

Chữ ứng với Tỳ Vị thuộc Thổ khí.

Chữ ứng với Can Đởm thuộc Mộc khí.

Chữ HA ứng với Tâm Tiểu trường thuộc Hoả khí.

Chữ ứng với Phế. Đại trường thuộc Kim khí.

Chữ HU ứng với Tâm bào Tâm tiêu thuộc Hoả khí.

  • THỰC HÀNH

    Tắm rữa sạch sẽ quần áo nới lỏng chọn nơi yên tỉnh thoáng mát không có ruồi muỗi.

    Ngồi xếp bằng thông thường ngồi bán già hoặc ngồi trên ghế hai chân chạm đất. Hai lòng bàn tay đặt trên hai đùi. Eo hơi thót lại. Vai buông lỏng. Cằm hơi thu vào. Lưng thẳng. Hai mắt khép hờ.

    Hít vào bằng mủi. Hít vào xuống bụng dưới. Chỉ cần biết trong ý niệm rằng ta đang hít vào một luồng Thiên khí từ đỉnh đầu đi thẳng xuống bụng dưới. Không cần quan tâm khí đi như thế nào cũng không cần cố hít vào quá sâu.

    Thở ra bằng miệng. Trong khi thở ra liên tục phát ra một tự quyết. Ở mỗi hơi thở tự quyết chỉ phát ra một lần và ngân vang cho đến cuối hơi. Thở ra chậm nhẹ và đều đồng thời từ từ ép sát bụng vào. Thì thở ra dài hơn thì hít vào. Trong lúc thở ra môi và lưỡi ở vị trí thích hợp để phát ra âm quyết đã chọn. Tuy nhiên chỉ phát bằng ý niệm mà không phát ra thành tiếng sao cho chỉ có sự rung động trong cổ họng và nghe được rõ ràng trong tâm mà vẫn không phát âm ra ngoài. Như vậy sẽ chỉ có hơi thở thoát ra miệng. Âm quyết chỉ hiện diện trong tư tưởng của người tập người ngoài không nghe thấy.

    Đến cuối hơi thở miệng lại ngậm lại đầu lưỡi chạm nướu răng trên và tiếp tục hít xuống bụng dưới để bắt đầu chu kỳ thở tiếp theo. Hơi thở nầy kế tiếp hơi thở kia khoan thai không thô không gấp.

    Đối với người bình thường có thể tập mỗi âm khoảng 24 hơi thở theo một thứ tự nhất định từ âm nầy đến âm kia. Mỗi ngày có thể tập 1 hoặc 2 lần lúc bụng trống. Trường hợp chữa bệnh có thể tập trung làm nhiều lần hơn khi đến những âm có liên quan đến những rối loạn bệnh lý trong cơ thể.

    Tập trung sức chú ý vào âm quyết trong thời gian thở ra là khâu quan trọng nhất trong Lục tự quyết. Do đó không nên nhẩm đếm hơi thở để khỏi phân tán tư tưởng. Có thể sử dụng cách lần chuỗi bằng tay với những chuỗi 24 hạt (hoặc hơn nữa) để kiểm soát được số hơi thở ở mỗi âm quyết.

    ĐẶC ĐIỂM

    Sự rung động của những âm tiết trong quá trình thực hành Lục tự quyết có công năng kích hoạt để khai mở một số đại huyệt dọc theo hai mạch Nhâm và Đốc giúp tăng cường sự trao đổi khí giữa nội khí và Thiên Địa khí và gia tăng chân khí.

    Lục tự khí công là một phương pháp hô hấp tích cực. Thở sâu xuống bụng dưới giúp phát sinh nội khí ở Đan điền. Kéo dài hơi thở ra giúp gia tăng sự trao đổi chất ở các mô và các tế bào. Ép sát bụng dưới có thể tăng cường chức năng xoa bóp nội tạng của cơ hoành kích thích tiêu hoá và sự lưu thông khí huyết.

    Đối với hệ thần kinh việc tập trung tư tưởng trong quá trình thực hành Lục tự quyết đặc biệt thì thở ra chậm và dài có tác dụng điều hoà thần kinh giao cảm giúp giải toả những triệu chứng bệnh lý do căng thẳng tâm lý gây ra.

    Do quá trình thở khí ra Lục tự khí công được xem là một loại công phu thiên về tả thựckhử trược. Trược khí không chỉ thoát ra bên ngoài theo hơi thở ra ở miệng mà còn qua các huyệt vị và kinh lạc tương ứng với âm quyết và cả tay chân. Do đó trường hợp thực hành để chữa những bệnh như u bướu xơ hoá... người tập không nên ngồi kiết già để trược khí dễ dàng thông thoát ra 2 chân.

    Tác dụng khử trược hay thanh tẩy của Lục tự khí công không phải chỉ bắt đầu từ kinh lạc hoặc phủ tạng mà phát triển ngay từ những trung tâm năng lượng ở cột sống nên còn gọi là tẩy tuỷ. Điểm đặc biệt của Lục tự khí công là hoạt hoá hai đường kinh một lên một xuống ở hai bên của cột sống qua đó gia tăng khả năng thanh hoá tuỷ sống. Sau một thời gian thực hành những người có khí cảm tốt có thể nhận biết được một luồng khí từ xương cùng đi lên dọc theo rãnh bên trái của cột sống. Khi đến đỉnh đầu luồng khí nầy sẽ theo rãnh bên phải cột sống đi xuống xương cùng. Đến xương cùng luồng khí nầy sẽ tự động kích hoạt chơn hoả đi lên mạch Đốc. Hiện tượng nầy trùng khớp với mô tả của những đạo sư Yoga về 3 nguồn năng lượng chính dọc theo cột sống. Luồng Ida mang năng lượng âm ở rãnh bên trái luồng Pingala mang năng lượng dương ở rãnh bên phải và luồng hoả xà Kundalini theo đường Soushoumna ở giữa cột sống đi lên. Đối với Lục tự khí công đây là một quá trình phát triển dần dà và tự nhiên người tập không nên tuỳ tiện vận hành.

    LƯU Ý

    Không phát tự quyết ra thành tiếng để tránh tán khí.

    Khi thực hành Lục tự quyết sau quá trình xã trược khí sẽ là quá trình phản hồi tự nhiên thu thanh khí thông qua chính những huyệt vị kinh lạc mà trược khí đã được thải ra. Do đó Lục tự khí công nên phối hợp với tĩnh toạ để có thể tận dụng và phát huy quá trình phản hồi nầy trong việc thu Thiên Địa khí để tăng cường nội khí. Tĩnh toạ liền sau khi thực hành Lục tự quyết. Thời gian tĩnh toạ không giới hạn nhưng tối thiểu nên bằng với thời gian thực hành Lục tự quyết.

    Tĩnh toạ được đề cập ở đây là phương pháp ngồi thiền tự nhiên không cần vận khí chỉ cần đạt đến tình trạng thư giãn và nhập tĩnh. Nhập tĩnh là tiến đến quá trình hoà hợp mà người xưa gọi là "Thiên Nhân hợp nhất". Về mặt chữa bệnh hoà hợp là sự cân bằng giữa Âm và Dương và sự hài hoà giữa ngủ tạng lục phủ. Đây cũng là quá trình tự điều chỉnh tự hồi phục của hệ thần kinh trung ương thông qua sự điều hoà của thần kinh giao cảm và cơ chế tương tác giữa thần kinh thể dịch và nội tạng. Do đó nếu phối hợp với ngồi thiền người tập sẽ không lo tập sai thứ tự hoặc sự sai biệt nhiều ít giữa các âm quyết.

    Một trong những thứ tự để thực hành Lục tự quyết là thực hành theo thứ tự tương sinh. Mộc sinh Hoả. Hoả sinh Thổ. Thổ sinh Kim. Kim sinh Thuỷ. Thứ tự đó là HƯ HA HÔ HÍ SUY HU. Chữ HU thuộc hành Hoả liên quan đến Tam tiêu được làm sau cùng với ý nghĩa làm điều hoà và thông suốt giữa thượng tiêu trung tiêu và hạ tiêu. Một hình thức khác là tập theo thứ tự SUY HÔ HƯ HA HÍ HU. Thứ tự nầy có khuynh hướng tạo ra một vòng năng lượng từ dưới lên trên từ huyệt Trường cường đi lên theo cột sống đến đỉnh đầu để khai thông mạch Đốc.

    Sau thời gian ngồi thiền cần quan tâm đến động tác xã thiền để giúp khí huyết lưu thông điều hoà và đưa chân khí lưu tán trở về Đan điền hoặc Mệnh môn.

  • _______

  •  

  • Bấm vào các đường link dưới đây để tìm hiểu thêm về Lục Tự Quyết
      http://thuannghia.vnweblogs.com/post/7291/77750  
      
    http://thuannghia.vnweblogs.com/post/7291/77752  
       
    http://thuannghia.vnweblogs.com/post/7291/77753   
       _______
       
    Các Đại sư Khí công khác hướng dẫn cách luyện tập Lục Tự khí Công:

      
    _____
      
    ______
       
    Cách luyện tập từng Tự Quyền: Mỗi tự quyền được phát thành hai thức một thức Động (dương) và một thức Tĩnh (âm). Thức động phát trước kèm theo thanh âm của Tự Quyết phát ra ngoài nghe rõ. Thức tĩnh kèm thanh âm của Tự Quyết không phát rõ ra ngoài mà chấn động trong nội tạng.
       
    1) Phát Quyền Chữ Hư: (chấn động ở gan và mật phục hồi chức năng Gan bị suy giảm (suy gan) giải độc ở Gan và Can kinh (nóng gan nhiễm độc gan máu mỡ   viêm gan vi rút. Phục hồi và chữa các bệnh về mắt vàng da mẫn ngứa....)
     
      - Thức động: hít vào từ từ đứng thẳng người hơi nhao về phía trước bụng phình ra ở đan điền hít vào từ từ cho đến khi hết hơi thở đồng thời hai tay dang rộng ra hai bên lòng bàn tay úp cũng là lúc đan điền phình ra hết cở. Thở ra từ từ dùn người xuống hai tay đồng thời hạ xuống môi hơi hở hai hàm răng chạm nhau đẩy hơi từ đan điền lên phát ra chử Hư rền rã trong vòm họng.
    - Thức tĩnh: Hít vào từ từ đứng dậy kéo hai tay úp vào hông bụng phình ra hết cở. Thở ra hay tay úp hờ kéo từ hông xuống đùi người hai rùn xuống ép hơi từ đan điền phát chữ Hư kéo dài ra trong vòm họng không nghe tiếng phát âm.
         
    ____
    2) Phát Quyền Chữ HA:
      
    Hỏa Khí Chấn động ở Tim mạch thanh huyết tả trọc chữa các bệnh suy nhược thần kinh đau đầu mất ngủ hồi hộp...
    Thức động: Hít vài đứng thẳng người dậy hơi nhao người về phía trước hay tay ngữa cắt chéo trước mặt dang ra hai bên. Thở tra kéo úp lòng bàn tay xuống hơi giật về phía đằng sau hông đồng thời ép hơi từ đan điền phát hắt ra  tiếng chữ HA ngắn gọn trong vòm họng.
    Thức tĩnh: Hít vào hai tay khoáng từ trong ra phía trước bụng ngón đeo nhẫn và ngón út kéo úp vào lòng bàn tay ngón giữa và ngón trỏ khép chìa thẳng ra như song chỉ kéo ép hai tay vào lòng ngực ngang vú. Thở ra từ từ lật úp tay xuống toàn bộ tay thả lỏng ra thành chưởng đẩy xuống phía dưới đồng thời thở hắt ra chữ Ha không thành tiếng chỉ nghe như một tiếng "hà" rất nhẹ rất mỏng mênh vậy.
     
       
    _____
    3)
    Phát Quyền Chữ HÔ
       
    Chấn  động ở tỳ vị chữa các bệnh về rối loạn chức năng tiêu hóa tả trược ở dạ dày và lá lách.
    Thức động: Hít vào hay tay thật lỏng lẻo từ từ được khí lực nâng lên phía trước mặt bàn tay rủ xuống lòng đất. Thở ra từ từ rùn người xuống kéo hai bàn tay thuận chiều vào hướng mặt phát ra chữ HÔ om om trong vòm họng nghe tiếng.
    Thức Tĩnh: Thở vào từ lật hai bàn tay lòng bàn tay hướng lên trên hay bàn tay kéo khoành xuống hông từ đứng thẳng người dậy hơi nhao về phía trước. Thở ra hắt lòng tay ra phía sau ép hơi đan điền phát chữ Hô không thành tiếng.

       
        
    ______
      
    4) Phát Quyền Chữ HI:
       
    Chấn động vùng Phổi và kinh Đại trường. Giải độc do hô hấp nhiễm độc hóa chất.v..v
    Chữ Hi lúc phát ra rền rã ngân dài trong cuống họng.

      
    ____
    5) Phát Quyền Chữ SUY:
        Chấn động vùng Thận bàng quang và bụng dưới giải độc thận thanh nhiệt lợi tiểu chữa các bệnh về nội tiết và bộ phận sinh dục.
    Phát chữ SUY uốn lưỡi lên trên vòm họng lúc phát ra nghe như tiếng xùy đuổi gà đuổi chim vậy

      
    _____
    6) Phát Quyền Chữ HU: 
         Chữ Hu thuộc về tam tiêu chủ về đường thủy đạo trong cơ thể.
    Riêng Tự Quyền Hu được thu phát ra bằng ba hơi thở tượng trưng cho Tam Tiêu: thượng tiêu trung tiêu hạ tiêu. Chữ Hu phát ra rền rã ngân vang như tiếng hú của gió vậy.

      
    ____
      
      Luyện Lục Tự quyền có hai cách:
    Cách thứ nhất: Phát quyền đơn là cách mỗi một tự quyết chỉ phát một lần lần lượt theo vòng ngũ hành tương sinh: Hư-Ha-Hô-Hi-Suy-Hu (mộc-hỏa-thổ-kim-thủy-hỏa). Khi phát đến chữ Hu thì bắt đầu phát luyện lại từ đầu (bắt đầu từ chữ Hư) cứ thế luyện thành nhiều vòng theo cấp số 3 vòng 6 vòng hay 9 vòng....
    Cách thứ hai : Phát quyền bội là cách mỗi tự quyền phát thành nhiều lần theo cấp số 3 6 9 12....hết tự quyền này rồi đến tự quyền khác theo ngũ hành tương sinh bắt đầu từ chữ HƯ (Nhật Khởi Đông Khai)
    _____
    Lưu Ý:
         
    Với các bạn quan tâm!
    Trước lúc đi vào từng phương pháp vận dụng Lục Tự quyền chữa từng bệnh cụ thể các bạn cần phải hiểu và luyện được các tự quyền căn bản sau đó mới có từng bài luyện cho từng bệnh cụ thể được.
    Sau khi xem kỷ phần này mời các bạn xem tiếp phần 2 gồm có:
    1) Ứng dụng Lục Tự Quyền chữa các bệnh về mắt như Cận thị viễn thị loạn thị lão thị viêm hoàng điểm đục thể tinh thủy..v....v...
    2) Giải độc và phục hồi nội tạng sau Xạ liệu và Hóa liệu trong điều trị Ung thư bằng Lục Tự Quyền
    3) Giải độc Gan Thận chống nóng gan hỏa vượng máu mỡ viêm gan xơ cứng gan....bằng Lục Tự quyền
    4) Phục hồi rối loạn nội tiết rối loạn và suy giảm khả năng tình dục hiếm muộn con cái bằng Lục Tự Quyền và dược thảo kết hợp


    _____
    30.03.10
    QN thuận nghĩa
        

    More...

    TUYỆT CHIÊU CHỮA CÁC BỆNH VỀ CỘT SỐNG (tư liệu- phần 5)

    By Lê Thuận Nghĩa

    Đau lưng đau vai - cổ đau đầu gối và đau đầu là bốn loại đau nhức mà có thể nói là những thứ bệnh rất "thời thượng" bây giờ. Nó không kinh hoàng như Ung thư không khiếp hãi như đột quị không dễ sợ như máu mỡ áp suất máu cao hay "đa đoan đành đoạn" như tiểu đường. Nhưng nó triền miên âm ỉ kinh niên thống khổ vô cùng.
    Mà hầu như tất cả các thứ đau nhức nói trên đều xuất phát từ Cột Sống và có nguyên nhân sâu xa liên quan đến 4 cơ quan nội tạng Gan-Thận- và Tỳ - Vị.
    Từ ngàn xưa Y học cổ truyền đã có trăm phương nghìn toa điều trị những chứng đó nhưng đến nay những thứ đau nhức ấy vẫn đang hoành hành bá đạo đày ải nhân gian. Y học hiện đại cũng có vô vàn thiên ủng máy móc thuốc men chuyên trị nhưng đâu có trị tuyệt được những chứng đau nhức ấy đâu.
    Thuốc thuốc .. thuốc và thuốc. Những viên hóa dược như những liều độc tố chỉ tạm thời ngăn chặn cơn đau và tàn phá phá nội tạng đã trở thành "diệu dược" được ưa chuộng. Dân số Trái Đất có hơn 6 tỷ người mà mỗi ngày tiêu thụ hết 2 5 tỷ viên "thuốc độc" (Tư liệu WHO). Thật không hiểu nổi !!!!!!
    Ngay cả Châm Cứu và thảo dược cũng chữa trị và kìm hãm được cơn đau của một số bệnh có tính chất tạm thời chứ không thể nào chữa tuyệt nọc được.
    Ví dụ như bệnh thoái hóa đĩa đệm hay vôi hóa cột sống dẫn đến tình trạng chèn ép dây thần kinh gây nên chứng đau nhức thì ai dám đảm bảo là có thể châm cứu hay dùng thảo dược có thế chữa dứt điểm được. Ngay cả những biện pháp vật lý trị liệu kể cả châm cứu cũng như giải phẫu cũng chỉ tạm thời xử lý triệu chứng trước mắt chứ không thể nào đảm bảo bệnh không thể tái phát.
    Những chứng bệnh này ngoài sự vận động tích cực phục hồi chức năng tự chữa bệnh của chính cơ thể người bệnh  thì không còn một phương pháp nào có thể gọi là dứt điểm được.
    Và sự vận động tích cực có thể giúp người bệnh phát huy được khả năng tiềm tàng kỳ diệu của cơ thể trong việc phục hồi lại các cơ quan bị thoái hóa và các chức năng bị suy giảm..đó là Khí Công.


    Có người hỏi:-  bệnh vôi hóa đốt sống lưng đã dẫn đến tình trạng có gai đốt sống thậm chí đã chèn đẩy xô lệch cột sống thì ngoài việc giải phẫu để nạo vét nó đi là cách tối ưu nhất. Khí Công làm gì có khả năng đào thải được những gai đốt sống lưng đó?

    Xin thưa:-  Việc giải phẫu để cắt bỏ nạo vét phần đốt sống lưng bị vôi hóa là một biện pháp hạ sách trong trường hợp đặc biệt muốn trả lại tạm thời cho người bệnh sự vận động đang bị gai đốt sống chèn đau thì mới sử dụng mà thôi bởi vì đốt sống được giải phẫu đó sẽ tiếp tục bị vôi hóa với tốc độ nhanh hơn. Còn Khí Công thì không những nhờ sự chấn động nội lực để phá vỡ bào mòn những gai đốt sống lưng đó mà còn nhờ sự vận động khí lực nội tại có thể đào thải được những chất thoái hóa đông kết đó ra ngoài mặt khác còn phục hồi lại chức năng của cơ thể tránh được tình trạng vôi hóa tiếp theo .


    Lại hỏi: - Như đĩa sụn đệm giữa hai đốt sống lưng đã bị thoái hóa mòn vẹt hai đốt sống cọ xát lên nhau gây nên tình trạng khó vận động hoặc bị chèn ép lên bó rễ thần kinh gây đau nhức người ta thường giải phẫu để thay bằng đĩa đệm nhân tạo là tốt nhất còn khi đĩa đệm đã bị mòn vẹt thì Khí Công làm sao mà đắp đầy lại được ?

    Xin thưa:- Tại sao có người đĩa đệm bị thoái hóa có người lại không bị. Tại sao có người gia 80 90 tuổi đĩa đệm vẫn còn nguyên vẹn. Bởi vì cơ thể luôn luôn bồi đắp bảo trì tu dưỡng đĩa đệm bằng những tinh chất thủy dịch được khí huyết vận động đưa đến từ việc hấp thụ thức ăn. Sở dĩ đĩa đệm bị thoái hóa ngoài nguyên nhân sai lệch trong vận động bị viêm nhiễm ra thì nguyên nhân quan trọng nhất là chức năng bảo trì tu dưỡng đĩa đệm của cơ thể bị suy giảm. Khí Công là phương pháp tốt nhất để phục hồi lại chức năng đó cho cơ thể. Khi chức năng đó đã được phục hồi thì sự bồi đắp và tu dưỡng đĩa đệm bằng tinh chất và thủy dịch nhất định sẽ tạo lại phần đĩa đệm đã bị suy thoái hay ít nhất cũng ngăn chặn được suy thoái tiếp theo.


    Hỏi:-  Môn khí công nào có thể phục hồi lại đĩa đệm và chữa được các bệnh về cột sống và hệ vận động cũng như các bệnh đau nhức vì phong thấp ?

    Thưa:- Bất kỳ môn Khí Công nào cũng có thể làm được điều đó vì bản chất thật sự của Khí Công là điều hòa Âm Dưong bồi bổ chính khí hoạt huyết hành khí tăng sức đề kháng khai mở tiềm năng của cơ thể. Nhưng đương nhiên mỗi một môn có một thế mạnh riêng của mình. Trong suốt mấy chục năm vật lộn với bệnh đau nhức nói chung và các bệnh về cột sống nói riêng theo kinh nghiệm của tôi thì bộ Bát Linh Công là môn Khí Công có tác dụng với các bệnh về Cột Sống và hệ vận động rõ rệt nhất hiệu quả nhất và nhanh nhất.


    Một nghiên cứu mới nhất gần đây về của Y học hiện đại về bệnh xương đặc biệt là bệnh loãng xương của người già. Người ta thấy rằng nguyên nhân chủ yếu gây nên chứng này là do sự rối loạn thu nạp và điều chỉnh tích lũy các loại vitamin B (B1 B6 B12) và vitamin D của cơ thể. Một loại thuốc vừa mới sản xuất và đang lưu hành trong giới y dược đặc trị bệnh loãng xương chỉ có các thành phần 3 loại vitamin B1 B6 B12 và vitamin D hiện nay được coi là "thần dược" để chữa bệnh về xương. (Otedorit)
    Nghiên cứu về loại thuốc này là ở Lüberg Đức kết hợp với tổ chức Võ Thuật liên quốc gia SVCC đang sử dụng Bát Linh Công để chữa bệnh về cột sống đã làm một cuộc nghiên cứu trắc nghiệm. Thì kết quả thấy những người luyện Bát Linh Công cơ thể của họ không còn thiếu các hàm lượng vitamin nói trên mặc dầu họ không hề uống thêm loại thuốc nào.
    Hơn 15 năm nay tôi sử dụng Bát Linh Công kết hợp với Ngũ Hành Khí Công Lục Tự Quyết và gần đây là Càn Khôn Thập Linh hướng dẫn cho bệnh nhân có bệnh về cột sống tập luyện. Thì thấy hiệu quả ngoài hai chữ "Tuyệt Vời" ra không còn nói thêm được gì hơn nữa.
    Hàng chục bệnh nhân có ngày hẹn giải phẫu cột sống nhờ Bát Linh Công phối hợp mà lành bệnh không cần phải giải phẫu và uống thêm viên thuốc nào
    Tôi có một người thân ở Việt Nam bị bệnh đau thắt lưng và đầu gối có khi không ngồi không đứng dậy đi lại được có nhờ tôi bắt mạch và ra toa. Tôi cho một toa thuốc cắt uống 6 thang thì hết đau. Gần đây bệnh lại tái phát có nhờ tôi cho lại toa. Tôi ừ hữ và lảng tránh. Vì thật ra toa thuốc đó chỉ kìm hãm cơn đau nhờ bồi bổ Gan Thận tăng sức đề kháng của cơ thể mà có tác dụng giảm đau chứ không có khả năng đào thải gốc bệnh là bị thoái hóa đốt sống thắt lưng (thần kinh toạ).
    (Ừ hữ lảng tránh để chờ dịp có duyên truyền thụ cho Bát Linh Công mà tự luyện. Nhưng có lẽ... than ôi! Người Việt mình thích nuốt cái thứ độc dược được gọi là Thuốc hơn là vận dụng "Thánh Dược" trong chính cơ thể của họ..hu hu...đây cũng là "kinh nghiệm" trong nghề).
    Về xuất xứ của Bát Linh Công tôi đã trình bày trong các phần trước.
    Phần này tôi xin đi vào từng phương pháp chữa từng bệnh cụ thể về Cột Sống:


    Bát Linh Công là 8 thức Khí Công lấy tướng của 8 loại Linh Thú làm cơ sở đó là Ưng-Hổ-Long-Phụng-Xà-Hầu-Qui-Hạc (chim ưng hổ rồng phượng rắn vượn rùa hạc). Mỗi một thức đều có tính khai mở chấn động điều hòa khác nhau và thích hợp với từng trường hợp bệnh lý khác nhau.
    1) Đau vùng thắt lưng đau lưng do thận suy thoái hóa đĩa đệm hay vôi hóa đốt sống vùng thắt lưng.
    Qui Thức (thế con rùa)
    Ưng Thức (thế con chim ưng)
    Long Thức (thế con rồng)
    Hầu Thức (thế con vượn)
    ______
       
    Qui Thức (thế con rùa
     
    ___- Chuẫn bị:  hai chân bước rộng quá vai rùn người xuống tấn trung bình
    - Hít vào: Hay tay từ đưa lên cao trước mặt
    - Thở ra : xoay người ra sang bên trái hai tay từ từ hạ xuống kéo lui người xuống phía sau
    - Hít vào từ từ nâng người dậy hay tay nâng lên nín hơi nhón đít
    - Thở ra từ hạ người xuống lưng thẳng cổ ngước cao
    (lặp lại 3 lần)
    - Hít vào đứng dậy thế trung bình xoay người lại vị trí ban đầu hay tay ngửa ra phía trước mặt
    - Nín hơi kéo khoát tay ra phía sau-xuống dưới khi hay tay ngang hông giật tay xuống thở hắt hết hơi ra
    (lặp lại như vậy phía bên phải)
    - Hít vào: hai tay chắp lại đâm về phía trước đứng dậy nín hơi nhón chân
    - Thở ra từ từ kéo khoát tay ra phía sau hạ người xuống
    (lặp lại nhiều lần thế này như kiểu bơi lội vậy)
     Tác dụng: Chấn động tích cực lên vùng lưng hông tác dụng đến Gan Thận hoạt huyết hành khí ở tủy sống. Điều hòa khí huyết ở vùng bộng đái và bộ phận sinh dục. Hoạt khí ở Đại Trường.
    ____
      
    Ưng Thức (thế con chim ưng)
     
      

    - Chẫn bị: bước rộng hơn vai xuống tấn trung bình
    - Hít vào vung tay đột ngột cắt chéo trước mặt. Vươn rộng lên cao hai bên từ từ hạ xuống
    - Thở ra: Hạ tay xuống từ từ đột ngột thở hắt ra cúi thấp người xuống là là mặt đất hai tay thủ quyền đánh gập sát vào nhau trên mặt đất
    - Hít vào: hai ta  vươn ra hai bên người là thấp xuống đất cổ vươn lên nhìn ra trước mặt.
    - Thở ra: hai tay quành ra sau lưng lòng bàn tay ngửa chỉa ra bên như cánh đại bàng
    - Hít vào thân hình giử nguyên tư thế nín hơi nghiêng qua trái nghiêng qua phải
    - Thở ra: nhổm người giử vị trí lúc hạ thấp người xuống
    (lặp lại 3 lần)
    - Hít vào:  đột ngột vòng tay xuống đất như vốc nước vậy cắt chéo ra trước mặt đứng dậy vung tay lên cao
    - Thở ra: từ hạ tay xuống lòng bàn tay úp xuống đất lúc tay xuống ngang hông giật vai ấn chưởng xuống và thở hắt hết hơi ra
    - Thở vào: vòng tay múc ôm trước mặt đứng dậy nhót đít   nâng hay tay lên trên quá đầu
    - Thở ra từ từ vuốt xuống sau gáy rùn người thấp xuống.
    (lặp lại nhiều lần chỉ có thay đổi vuốt gáy và vuốt mắt khi hạ người thở ra)
    - Tác dụng: chấn động kích thích mạnh ở Gan Thận Tỳ Vị. đặc biệt tốt cho chứng thận suy gan yếu. Vận động sự thâu nhiếp và hoạt khí Hậu Thiên. Bền gân sáng mắt đen tóc và trường thọ.



    _____
     Long Thức (thế con rồng
      
       

    Long Thức là thức thế chủ trị về cột sống. Với nhiều trường hợp bị đau đột ngột hoặc đau quặt quẹo không đi đứng được như đau thần kinh tọa chẳng hạn chỉ cần tập một thức này nhiều lần là có thể đi lại hay ngồi nằm mà không đau đớn như trước
    - Chuẫn bị: Xuống tấn tung bình
    - Hít vào hay tay vươn ra hai bên lên cao từ từ đứng dậy nín hơi chắp hai lòng bàn tay lại như chưởng vái lạy vậy
    - Thở ra: chắp tay hạ xuống trước ngực rùn người xuống
    - Hít vào: nghiêng người qua trái cuì chỏ phải đặt lên đầu gối trái tay chỉa về phía trước quay đầu lên nhìn cho dúng vào chót cùi chỏ trái
    - Thở ra ở tư thế đó
    - Hít vào nhón đít- thở ra
    (lặp lại 3 lần)
    - Hít vào chuyển tư thế ấy sang phải (cùi chỏ trái đặt lên đầu gối)
    phải cũng hít vào thở ra ba lần như vậy)
    Thế kết:
    Hít vào: đứng dậy vươn rộng hai tay lên trên
    Thở ra: hạ tay rùn người xuống khi tay đền vùng hạ bộ thì thở hắt ra hết
    Hít vào lại vòng tay ra lên cao đứng dậy
    Thở ra lại rùn người xuống....



    _____
     
    Hầu Thức (thế con vượn)
      


    ___Hầu Thức và Xà Thức là hai thế có tính chất nhu nhuyễn trong Bát Linh Công.  Hầu Thức có tác dụng thanh lọc trọc khí phá kết giải độc rất tốt ngoài ra còn có tác dụng định thần an khí rất hay. Nếu bị đau nhức toàn thân không rõ nguyên nhân hay bị nhiễm độc ngộ độc thức ăn bia rượu...luyện hầu thức có thể khắc phục loại bỏ được hậu quả và tránh được đau nhức nhất là các chứng phong thấp tê bại....
    - Hầu thức cứ hít vào thì đứng người dậy nhón chân lên và thóp đít thở ra thì chùn người xuống
    - Hầu Thức tương tự như thế "vẫy tay" của một môn khí công đang thịnh hành trong nhân gian để phòng chống bá bệnh.  Chỉ khác hơn ở chổ hầu thức chậm rãi và như nhuyễn hơn.
    ___
      
    2) Đau nhức vùng cổ gáy nhức vai cổ thoái hóa đĩa đệm hay vôi hóa đốt sống cổ
    Hổ Thức (thế con hổ)
    Long Thức (thế con rồng)
    Hạc Thức  (thế con hạc)
    Xà Thức (thế con rắn)
    _____
     
      Hổ Thức (thế con hổ)
     
        - Tư thế chuẫn bị: Đứng hai chân trước sau. Chân trái phía trước trọng tâm nghiêng về phía sau chân trái nhớm bàn đặt thế vào gót chân. Người thẳng nghiêng sau.
    - Hít vào chồm người về phía trước hai ta vươn vòng ôm lấy khoảng không kéo úp vào ngực người nghiêng giật lại phía sau.
    - Giử hơi
    - Thở ra hai lòng bàn tay xoay ngữa ra ngoài đẩy lên ra lên trên đầu trọng tâm dồn về trước. Cánh tay đầu cổ lưng gáy và chân tạo thành 1 đường thẳng như cắm nghiêng vào mặt đất
    - Hít vào từ từ vòng tay qua đầu nghiêng người ra phía sau hạ tay từ từ xuống hai bên
    - Khi hay tay  vừa xuống dưới hông thì bất ngờ buông vai và thở hắt hết hơi ra
    - Hít vào hai tay úp xuống ngang cổ tay thả lỏng và nâng ra lên trước mặt người chồm về phía trước
    - Nín hơi kéo hay tay theo vòng thuận từ dưới lên trên từ trước ra sau theo cơ thể nghiêng người về phía sau
    - Thở ra và từ từ hạ tay xuống theo vòng thuận để bắt đầu hơi thở tiếp.
    Tác dụng: Khai mở và điều hòa hai mạch Nhâm Đốc chấn động tích cực lên dọc cột sống từ gót chân lên đỉnh đầu đặc biệt là các khớp vai cổ bền chắc cơ gân và điều hòa phủ tạng đặc biệt bồi bổ chính khí Tỳ-Vị
    (Thế điều hòa kết thúc Hổ Thức tương tự như thế Khôn trong Càn Khôn Thập Linh của Thầy Hằng Trường)
    _____
    Long Thức (thế con rồng)
    (xem phần trên)
    ______
     
    Hạc Thức  (thế con hạc)

     

    Hạc Thức là thế tích lũy nội lực cực kỳ uyên thâm
    Chuẫn bị: xuống tấn trung bình
    Hít vào: hai tay quay thuận chiều kim đồng hồ tay phải từ trên xuống  dưới tay trái từ dưới lên trên lòng bàn tay phải ngữa tay trái sấp.
    Thở ra: hai tay từ từ ép lại
    Hít vào động tác ngược lại thở ra ép lòng bàn tay lại
    Lúc nghiêng về bên nào thì bàn tay nào bỏ trên thì đưa lên cao phía trước còn tay phía dưới thì vòng lên và móc ra phía sau

    - Hạc thức lúc nghiêng về hai phía phải trái mỗi bên có 3 hơi thở lúc hít vào nhớm chân lên thót đít vào
    - Ở các thế chuyễn tiếp lúc thở ra ép hai lòng bàn tay vào nhau rồi đột ngột thở hắt ra
    Thế đều hòa:  Hít vào hai tay ôm như ôm khối cầu trước bụng lăn sang một bên lúc thở ra hay tay như khoát đẩy lại phía ngược lại. Lưu ý lúc tay ở vị trí nào thì mắt nhìn ở vị trí đó


    __
    Xà Thức (thế
    rắn)
     
       
    Xà Thức là thức tối thượng trong Bát Linh Công. Video trình bày trên đã giản lược cho hợp với thế thức của người bệnh. Còn nguyên bản chỉ dành riêng cho những người vận khí chữa bệnh hay dành cho những người đã có trình độ uyên thâm trì luyện Bát Linh Công.
    - Chuẩn bị: xuống tấn trung bình hay tay chắp mặt vào nhau tước bụng tay phải trên tay trái dưới.
    - Hít vào một hơi thật sâu ém khí đan điền
    - Nghiêng người qua trái quay tay ba vòng từ trong ra ngoài từ trước ra sau: Ngược chiều kim đồng hồ.
    - Rút tay về vị trí cũ trước bụng mới thở ra
    - Hít vào tay trái lật úp nên tay phải
    - Nín hơi quay tay 3 vòng cùng chiều kim đồng hồ nghiêng về bên phải
    - Rút tay lại vị trí cũ thở ra
    - Hít vào tay phải chồm thẳng ra phía trước ngược chiều kim đồng hồ
    - Thở ra tay trái lòng dưới tay phải quay chồm ra phía trước ngược chiều kim đồng hồ
    - Thở ra hít vào quay như vậy 3 phía trước mặt- bên trái- trước mặt- bên phải-trước mặt.
    - Hít vào một hơi dài ém khí quay trước mặt 3 lần- thở ra
    - Hít vào ém khí đan điền. Quay thật nhanh thật nhiều vòng từ dưới lên trên rồi đột ngột giật tay thả hắt hết hơi ra.
    Hít vào thở ra từ từ hay tay úp xuống đất xoay song song ngược từ dưới lên trên.

    ______
    3) Đau thần kinh tọa đau đầu gối
    Phụng Thức (thế chim phụng)
    Long Thức (thế con rồng)
    Qui Thức (thế con rùa)
    Ưng Thức (thế chim ưng)
    _______
      
      Phụng Thức (thế chim phụng)

    Phụng Thức là thức có tác dụng điều hòa tạng phủ rất kỳ diệu ngoài ra còn có tác dụng định thần an ý rất diệu dụng. Ngoài tác dụng chữa đau đầu nhức mỏi tứ chi còn có tác dụng an thần chống hoảng loạn tinh thần suy nhược thần kinh rất tốt.
    - Hạc thức lúc đưa chân lên thì hít vào lúc hạ chân xuống hay đưa ra sau thì thở ra
    - Ở tư thế Phụng Hoàng chân trước chân sau thì dụng đến 3 hơi thở.
    Lúc hít vào nhón cả hai chân về phía trước thóp đít vào tay nắm lại. Lúc thở ra thì  hạ người ra phía sau và xòe tay ra.
    ______
      
    Long Thức (thế con rồng)
    Qui Thức (thế con rùa)
    Ưng Thức (thế chim ưng)
    (xem video phía trên)
    ________
     4) Bệnh phong thấp tê thấp nhức mỏi toàn thân thì dùng các thế
    Hổ Thức
    Ưng Thức
    Long Thức
    Hầu Thức và Hạc Thức
    (Xem video phần trên)
    _______
       Lưu ý:
    -
    Sự thâu nhiếp hô hấp trong Bát Linh Công tuân thủ theo nguyên tắc: hơi thở trải qua ba giai đoạn: hít vào-giử hơi-thở ra. Hít vào thở ra giử hơi đều bằng mũi. Miệng hoàn toàn ngậm trong quá trình luyện công.
    - Nếu bị đau nhức hay thoái hóa cột sống cả cổ gáy và thắt lưng hay bị thần kinh tọa phong thấp lưng gối đều đau nhức thì nên tập cả 8 thức thì tốt
    - Nếu bắt đầu tập luyện khởi công bằng 4 thế Khí Công Tâm Pháp Biệt Truyền mất độ 7 đến 10 phút để khởi động. Luyện Bát Linh Công mất độ 25 đến 45 phút để cố sáp gân cốt bền vững sống lưng bồi bổ gan thận. Sau đó dành độ 7-10 phút để luyện Ngũ Hành Khí Công để điều hòa châu thân thì không có một thứ thuốc thang nào sánh bằng để phòng chống bá bệnh . (Các bài vừa nhắc đã trình bày trong các phần trước)
      
    (Nếu mỗi ngày mất độ 1 tiếng cho việc luyện tập này mà còn có bệnh tật mới là chuyện lạ và sống tới 100 tuổi vẫn coi đó là chết non he he...)
      
    ________
    Phụ Lục :
    Xem một đại sư khí công lừng danh biểu diễn Hổ Thức và Ưng Thức ở đây
    Đại Sư Lim là một Khí Công sư thuộc dòng Bát Linh Công có những cuộc biểu diễn khí công hầu như khắp nơi trên thế giới
      

    ______
    Xem một vị Đại Sư khí công 80 tuổi người Trung Hoa trình bày năng lực của Khí Công:

    _
      
      Khí Công Sư Jon Chang là một Đại Sư khí công nổi tiếng thế giới đã có hàng trăm nhà nghiên cứu làm nhiều cuộc thẩm tra khoa học về năng lực siêu nhiên của Ông. Những hình ảnh trong Video là hoàn toàn sự thật. Và chính tôi cũng đã tận mắt chứng kiến ông biểu diễn nhưng kỳ năng trị bệnh của Ông trong hội nghị Khí Công Quốc Tế ở Áo Quốc. Ông thuộc Ngũ hành Khí Công phái.


    _______
    Thực hiện: Thuận Nghĩa

    More...