HỎA XA LUẬN (Phần cuối- Vòng Thái Âm Chân Khí)

By Lê Thuận Nghĩa

 
Tiếp phần 6 : Lăn tăn với Vòng Thái Âm Chân Khí
 
 
Tôi nói với Giáo sư M.A Ghori đã khẳng định được vòng Thái Âm chân khí bây giờ cần phải tìm ra những loại thảo dược hoặc các loại dược liệu tự nhiên để kích hoạt có hiệu quả đến cách kinh Âm mà đặc biệt là các chiết xuất ảnh hưởng mạnh đến các trọng Huyệt. Trong các sách thuốc Á đông khi nhắc đến các vị thuốc bao giờ cũng nhắc đến nó có tác dụng và đi vào đường kinh nào. Vì vậy lấy đây là điểm mấu chốt để tìm ra các loại thảo dược thích ứng cho các đường kinh Âm.
  





Các loại chế xuất thảo dược của các hãng thuốc nỗi tiếng đều được đem thử nghiệm. Trên đây là các loại thuốc của hãng NLK   những chế xuất thảo dược chống Ung thư của họ đang dần dần thay thế hóa dược trong hóa trị điều trị Ung thư hiện nay Mỹ Pháp và Đức đang lưu hành trong các trung tâm điều trị ung thư
_____

 

Đặc biệt là các chiết xuất từ các dược thảo có nguồn gốc từ Việt Nam được tôi dành cho nhiều ưu ái nhất (vì có ý đồ riêng)
______












Tất cả các loại thuốc thảo dược các sản phẩm chức năng của các tên tuổi nổi tiếng trên thế giới đều được đem thí nghiệm ứng dụng trong đó có các sản phẩm của Mitochondrien Medizin và Vital Natur là hai tên tuổi đang được đánh giá cao trong các sản phẩm tự nhiên chống Ung thư và Phong thấp. 
_____
 
  

 

 

  

 

Cuối cùng đã có những sản phẩm đặc trị dành cho các trọng huyệt trong vòng Thái Âm Chân Khí. Các sản phẩm này mang tên của từng Huyệt riêng ví dụ như sản phẩm có tên là Ma36 trên là thuốc kích hoạt huyệt thứ 36 trong kinh Vị (Túc tam lý) HE9 là huyệt số 9 của kinh Tâm(Thiếu xung). LU 7 là huyệt số 7 của Phế kinh (Liệt Khuyết)...Sản phẩm đặc trị trọng huyệt có hai loại loại uống trong và loại tinh dầu xoa lên huyệt để tăng thêm tác dụng kích hoạt vòng Thái Âm Chân Khí.
 
________
 
  
Những chuyên gia Y tế quan tâm ứng dụng lâm sàng Sản phẩm kích hoạt Thái Âm Chân Khí
 
 
Tiến sĩ Y khoa chủ tịch hiệp hội chất lượng châm cứu Áo Quốc



Giáo sư tiến sĩ Trung Y  
  

 
Tiến sĩ Y khoa chủ tịch hiệp hội bác sĩ Nhĩ châm và Tibet Medizin của Thụy Sĩ
________
  
Một số báo cáo kết quả thử nghiệm lâm sàng sản phẩm kích hoạt Thái Âm Chân Khí trên bệnh nhân ung thư và phong thấp

 





  
 Việc thử nghiệm các sản phẩm thảo dược tự nhiên và các sản phẩm chức năng của các hãng thuốc đang được tín nhiệm trên thị trường Y dược của châu Âu tất nhiên đem lại kết quả rất khả quan. Và có thể trong hàng trăm loại sản phẩm có nguồn gốc tự nhiên đó có rất nhiều loại thích hợp cho việc kích hoạt vòng Thái Âm Chân Khí ví dụ như Q10 Selen Coenzim 500 TriVitB VitC500 của Mitochondrien Medizin từ Pharma MSA. Base Pulver Traumenextrax của Vital Natur Nkl1 Nkl 7 của NKL. Procurmin ProDitavit Procolostal...của hãng Tiso và một số sản phẩm chức năng của hãng Liff. Nhưng những sản phẩm đó vẫn có nhiều trở ngại. Thứ nhất không phải bệnh nhân nào cũng thích hợp với các loại sản phẩm đó cho nên đòi hỏi phải có sự đo đạc hoặc chọn lựa qua vài lần thử nghiệm xem có tác dụng không mới có thể cho bệnh nhân sử dụng được. Thứ hai những sản phẩm đó có giá thành quá đắt so với túi tiền của người dân lao động có thu nhập không ổn định. Và những loại dược thảo đó phải dùng với liệu trình lâu dài ít nhất là 3 tháng đến 6 tháng mới có tác dụng rõ rệt.


     

  
 
Vì vậy việc tìm ra những thảo dược dễ tìm kiếm dễ nuôi trồng rẽ tiền dễ chế biến và có cách sử dụng đơn giản và có tính phổ cập với tất cả mọi thể trạng nhưng lại có kết quả hữu hiệu và đặc biệt thích hợp cho việc kích hoạt vòng Thái âm chân khí để phòng và chống những căn bệnh nan y do sự suy hư khí huyết trong các kinh Âm như bệnh Ung thư bệnh suy giảm chức năng miễn dịch bệnh phong thấp...đòi hỏi phải có một thời gian lâu dài và một sự hiểu biết rất cặn kẻ về thảo dược.
 
Gần 10 năm nay tôi đã đặc biệt chú ý nghiên cứu và sưu tầm các loại thảo dược có thể nuôi trồng đại trà trong điều kiện phong thổ của nước ta. Kết hợp với thuận lợi truy tìm thảo dược kích hoạt vòng Thái âm chân khí tôi đã tập hợp được 49 loại thảo dược có giá trị kích hoạt vòng Thái âm chân khí trong đó có 12 loại có tinh dầu và trên 30 loại có thể chế biến thành trà uống hàng ngày. Những loại thảo dược này có tác dụng phòng và chống các bệnh ung thư phong thấp tiểu đường và có tác dụng dưỡng sinh phòng chống bệnh tật cao. Ví dụ trong 49 loại thảo dược đó có các loại rất quen thuộc với Nam dược của chúng ta như cây Ngưu tất cây Thiên môn đông cây Xạ can cây Mỏ quạ cây Tơ hồng cây Phù dung cây Rau đắng cây Sắn dây cây Sinh địa cây Trinh nữ hoàng cung cây Rong mơ cây Hoàng cầm....
 
Và đây cũng là mơ ước dự án trang trại trồng thảo dược với vòng khép kín cùng cơ sở sản xuất những sản phẩm chức năng trà thảo dược ..có "mẫu số chung" cho nhiều căn bệnh hiểm nghèo theo phương pháp kích hoạt vòng Thái Âm Chân Khí.
  
 

Trình diễn Thiên Lý Tiêu Dao với Giáo sư M.A Ghori

Phải nói rằng việc đo đạc để tìm ra vòng luân chuyển của Thái âm chân khí trong các tạng Âm đặc biệt là phát hiện ra 9 trọng huyệt có tính chất quyết định việc kích hoạt vòng TACK đều nhờ vào những cao thủ trong giới khí công đặc biệt là những người đã có một bề dày công phu với các pho Thái âm công Ngũ hành mê tông bộ Thiên lý tiêu dao và Lục tự khí công. Đó là những pho khí công có liên quan mật thiết đến sự vận hành khí huyết bồi bổ sinh lực rất rõ rệt.
 
Những cao thủ khí công trong đó có tôi là những "vật tế thần" cho công việc khảo cứu vòng Thái âm chân khí qua biểu đồ sinh khí của họ cùng với khả năng vận khí theo kinh mạch và huyệt vị và nhờ các thiết bị đo đạc tối tân chúng tôi mới xác định được chính xác vòng luân chuyển chân khí và các trọng huyệt của Thái âm chân khí.
 
Khi chúng tôi mày mò đi tìm các thảo dược có "mẫu số chung" để kích hoạt vòng TACK một Khí công sư người Tây Tạng nói "Tại sao lại phải đi làm một công việc vô bổ như thế trong khi Khí công có đầy đủ khả năng và không hề tốn kém mà vẫn đáp ứng được yêu cầu kích hoạt Thái âm chân khí".
 
Không phải là chúng tôi không biết điều đó và chính tôi cũng như Giáo sư M.A Ghori cũng đã từng chứng kiến những phép nhiệm mầu của Khí công đã cãi tử hồi sinh cho người bệnh như thế nào. Nhưng Khí công vốn là công phu hiệu quả trị bệnh của nó phụ thuộc vào một quá trình trì luyện lâu dài và vả lại không phải ai cũng có niềm tin với Khí công và dẫu có có niềm tin đi chăng nữa cũng không có mấy người đủ kiên nhẫn để trì luyện trừ phi đó là cứu cánh cuối cùng của họ.
 
Những hiệu quả phòng chống bệnh tật của Khí công rất nhiều người biết đến và họ cũng biết rằng không có một phương toa nào một vị thầy thuốc nào có tài năng bằng chính cơ thể của họ. Họ biết cơ thể và ý chí của người bệnh là vị Thầy thuốc siêu việt nhất là phương toa kỳ diệu để làm nên những kỳ tích cho chính người bệnh. Nhưng cho dù có những bộ khí công đơn giản an toàn dễ luyện tập và rất có diệu dụng thì cũng có rất ít người kiên trì và chịu khó luyện tập. Trừ phi họ là những người già những người đã và đang đối mặt với tử thần mới có hứng thú với những môn dưỡng sinh có kết quả "rất mơ hồ" này.
  
Hoặc là chỉ có những người đã có thời gian "chung sống" với khí công coi việc trì luyện dưỡng sinh như một phần của cuộc sống như nhu cầu cơm ăn nước uống hàng ngày vậy thì mới thường xuyên và đều đặn trì luyện mà thôi. Con người là vậy đó nhu cầu hưởng thụ ỷ lại là một tính cách rất khó để thay đổi. Người ta có thể bỏ ra hàng tiếng đồng hồ để ngồi bên ly bia và nói chuyện tào lao hoặc có thể tiêu phí rất nhiều thời gian cho những chuyện vô bổ. Nhưng để dành cho việc luyện tập dưỡng sinh mỗi ngày 5 đến10 phút thì lại không có thời gian. Đó là một sự thật khá "phủ phàng" với những Khí công gia khi muốn truyền bá một môn khí công nào đó.
 
Người ta là vậy đó họ có thể nằm ườn nướng ra trên giường sau giấc ngủ để tận hưởng khoái lạc của sự lười biếng vài chục phút nhưng rất khó để vận động 5 10 phút cho sự sự an nhiên của cả một đời.
 
Cũng không trách được họ một phần vì Khí công có tác dụng dưỡng sinh rất chậm người ta chỉ cảm nhận ra được sự diệu dụng của nó thông qua một quá trình trì luyện lâu dài chứ không thể cảm nhận ra được hiệu quả nhanh như nuốt một viên thuốc hóa dược.
  
 


 Nói về tác dụng của khí công với bệnh nhân ung thư



Hướng dẫn bệnh nhân ung thư luyện tập Thiên Lý Tiêu Dao
 

 
 Hai bệnh nhân đang đối diện và chuẩn bị "hét" Thái Âm Công vào nhau
  _______

Làm thế nào để giúp cho quá trình trì luyện khí công có được hiệu quả "trước mắt" để tạo lòng tin cho người bệnh (kể cả những người chưa phát bệnh). Liệu có những phương pháp gì thúc đẩy được sự đắc khí nhanh trợ giúp cho người bệnh có được thành quả nhanh trong quá trình luyện tập không. Đó cũng là một băn khoăn rất nhức nhối cho những người hành nghề y muốn người bệnh đánh thức tiềm năng tự chữa bệnh trong cơ thể của chính họ.
 
Khí lực đạt được có tính chất khai mở bền vững và chân chính của một hành giả Khí công là nhờ vào khả năng hóa nhập Tiểu ngã (cơ thể) với Đại ngã (vũ trụ) thông qua những cánh cửa sinh học mà chúng ta thường nghe nói là các luân xa. Các luân xa này ở trong cơ thể đóng vai trò như những trung tâm năng lượng thần kinh và như những cánh của khai thông với tự nhiên để thu nạp năng lượng siêu nhiên của Vũ trụ.  
Những luân xa này có sự vận động tương ứng với các tần số ánh sáng các tần số âm thanh và các sóng điện từ nhất định. Điều này hầu như tài liệu khoa học nghiên cứu về Yoga Khí công Thiền định (meditatin) hay là Cảm xạ học nào cũng đều có nhắc đến. Vì đó là điểm mấu chấu để lý giải cơ chế thành tựu năng lực huyền bí của các môn đó.
 
Vậy thì chúng ta thử lật ngược lại vấn đề xem sao. Có những tác động với tần số ánh sáng màu tương ứng tần số âm thanh tương ứng và tần số dao động sóng điện từ thích hợp...liệu có trợ giúp được cho hành giả khí công rút ngắn được thời gian luyện tập mà vẫn đạt được thành tựu hay không. Nếu lý giải được câu hỏi này thì sự băn khoăn của người truyền bá Khí công trút đi được bao gánh nặng.
 
Và đây là những bước đầu đi tìm câu lý giải cho vấn đề hóc búa này của tôi.



Thử nghiệm với máy bắn điện từ "Mitosan"
  
 

Những tấm phóng điện tự được đặt lên vùng huyệt trọng yếu có vòng TACK luân chuyển
  


Thử nghiệm với đệm rung và ánh sáng màu- (hệ thống này do tôi tự chế tạo)
  
   

  "Chiếc gường thần kỳ" là một tổ hợp lắp ghép giữa các thiết bị "Nệm điện từ" của hãng Medica (ca. 2000 Euro) Giường lắc thư giãn của hãng MediMedi (4500 Euro). Và hệ thống Farbtheraphie (Trị liệu bằng ánh sáng màu) cũng như hệ thống Frequenztherapie (Âm thanh trị liệu) của hãng Medica (ca. 3500 Euro)
 

 

Một bệnh nhân bại liệt sau đột quị đang được điều trị trên "chiếc giường thần kỳ" do tôi lắp ghép
  
   
 


 Hệ thống điều chỉnh màu và tần số giao động âm thanh
  

 

Thiết bị cảm ứng nhiệt kiểm tra sinh khí
  
 
 

Tai nghe và kính phát màu dùng để điều trị
  
  Tác dụng ảnh hưởng trợ giúp cho việc luyện tập Khí công có tác dụng nhanh như thế nào thì chúng tôi đang trên con đường đo đạc và thử nghiệm. Nhưng có một điều chắc chắn là những người bệnh được ứng dụng sản phẩm kích hoạt Thái âm chân khí nếu cũng đồng thời luyện tập các môn khí công tương ứng như Thiên lý tiêu dao Ngũ hành mê tông bộ Thái âm công thì kết quả nhanh và bền vững hơn gấp nhiều lần là đơn lẽ chỉ dùng thảo dược hay chỉ luyện tập khí công. Điều cần phải ghi nhận là người bệnh dùng thảo dược kích hoạt Thái âm chân khí cùng đồng thời điều trị trên chiếc giường kỳ diệu có kết quả không thua kém mấy với việc cùng luyện tập với khí công. Đây là một cơ sở khích lệ cho việc tìm phương pháp hổ trợ và thay thế luyện tập khí công bằng các thiết bị vật lý.
 
Xem thêm về "chiếc giường kỳ diệu" ở đây.

  
  Hết
  
21.01.11
QN-TN
  
  _____

Hai entry cuối 6 và 7 có post lại một số hình ảnh cũ trong các entry trước quả thật là để quảng cáo tự  "đánh bóng"  mình. Nhưng đây là nhu cầu được sẻ chia và cũng coi như là một "báo cáo" trước cho dự án để người quan tâm có cơ sở "đầu tư". Mặt khác hai entry này còn nhằm mục đích để dịch ra tiếng Ả rập quảng cáo cho bệnh viện Mitochondrien Medizin- Energie Therapie của anh em nhà Giáo sư Ghori ở Ả rập Xê út.
  
 

Bệnh viện vừa xây dựng xong ở Ả rập Xê út của anh em nhà Giáo sư Ghori toàn bộ tầng 1 để dành cho phòng chẩn trị bằng máy Prognos và Thái âm chân khí trị liệu.

More...

HỎA XA LUẬN (Phần 6- Vòng Thái Âm Chân Khí)

By Lê Thuận Nghĩa



   
  
Máy đo sinh khí Prognos dụng cụ y tế nơi từ đó phát hiện ra vòng Thái Âm Chân khí. Máy được đo đạc và kiểm nghiệm trên tàu vũ trụ Mir của Nga
  
____
 

 
Giáo sư tiến sĩ  y khoa Poloyakov nhà du hành vũ trụ Nga. Người sáng lập nên Kosmosmedizin. Cha đẻ của máy Prognos








Giáo sư Poloyakov và đồng nghiệp


 
Giáo sư Polyakov và Giáo sư M.A. Ghori (Giáo sư M. Ghori là người đỡ đầu cho Vòng Thái Âm Chân Khí là ông chủ hiện nay của tôi và cũng là "nạn nhân" của vòng TACK
 

 
 
Giáo sư M.Ghori và Đại sứ đặc mệnh toàn quyền Nga tại Berlin trong buổi giới thiệu về chương trình mới của máy Prognos
  



TN: - Báo cáo ngài là có một vòng Thái Âm Chân Khí thật đấy!
M.Ghori: - Mần luôn đi cần chi cứ nói.. (he he he..)
  



Vạch chương trình "ngâm cứu"...
 
___




Nơi xảy ra "tai họa" với vòng Thái Âm Chân Khí
  

"Đại đệ tử" tới thăm Ba
   

Người hứa bảo trợ tương lai cho việc phổ cập Vòng Thái Âm Chân Khí ở Việt Nam tới thăm
_____


Hai người bạn thân đến từ Pháp và Mỹ.   NTCC. Tiến sĩ sinh học Pháp chuyên viên công nghệ gene Sinh viên khóa 1 Đại học tổng hợp Huế. NTP Kỹ sư Vật lý Thiên Văn đến từ Mỹ (Sinh viên khóa 1 Đại học tổng hợp Huế). Đặc biệt bay đến để cho góp ý về tính khả thi của ý tưởng "Giải mã giao động âm thanh từ thảo dược" một phần liên quan đến vòng Thái Âm Chân Khí


Bloger Trịnh Quốc Dũng Giáo viên Đại học Bách khoa Hà nội Tiến sĩ điện lạnh nói: - Dẹp mẹ nó cái chuyện vớ vẫn ấy đi ăn chả cá Lã Vọng nhà Ba Đen đi anh ươi!
  

  
 

 

 

 
 
Đồng nghiệp tích cực..

 

Đo sinh khí kiểm tra bệnh tật cho bệnh nhân trên máy Prognos
 


Đo kiểm tra sức khoẻ cho con trai


Bệnh nhân Phong thấp


  Bệnh nhân bại liệt sau đột quị
 
 

  

Bệnh nhân ung thư
 
  

   
   Đo kiểm tra kinh Tam tiêu

  

So sánh với với các kinh mạch trong khoa châm cứu
      

Biểu đồ sinh khí trong các kinh mạch



Biểu đồ sinh khí được thể hiện bằng các chỉ số mili ôm trong cả 14 kinh mạch chính của cơ thể chỉ số này từ 890 đến 980 mili ôm là chỉ số bình thường an toàn. Trên 980 miliôm là chỉ số "thực"- bế tắc. Dưới 890 miliôm là chỉ số "hư"-rỗng
Cột dọc bên trái có ghi các chỉ số sinh khí từ 0 đến 2000 miliôm. Cột ngang có chia thành các vạch dọc là số đo sinh sinh khí của các kinh mạch. Từ trái sang phải: Phế (Lu)- Đại trường (Di)- Vị (Ma)- Tỳ (Mp)- Tâm (He)- Tiểu trường (Dü)- Bàng quang (Bl)- Thận (Ni)- Tâm bào lạc (Ks)- Tam tiêu (3E)- Đởm (Gb)- Le (Can)
  

 
Biểu đồ của một người hoàn toàn khoẻ mạnh là như thế này tức là biểu đồ màu xanh nằm trong giữa 2 vạch đỏ vạch dưới chỉ giới hạn tối thiểu cho mức sinh khí an toàn khoẻ mạnh vạch trên chỉ giới hạn tối đa cho chỉ số sinh khí an toàn nếu chỉ số sinh khí trong các kinh mạch vượt ra khỏi giới hạn này đều là biểu hiện của bệnh lý
 

 

Biểu đồ của một người bình thường khác (vị kinh hơi bị tắc)
 

 
Người sức khoẻ bình thường biểu đồ hoàn toàn màu xanh các chỉ số sinh khí trong 12 kinh mạch đều ở khung an toan
  



Biểu đồ an toàn chỉ hơi rối loạn Tam tiêu nhẹ
  
 

 
Biểu đồ của người tỳ suy
  
 
Biểu đồ của bệnh nhân bị sỏi mật


 

Biểu đồ của người suy chức năng gan nhẹ
  

 

Biểu đồ của người ăn khó tiêu


_____________________
 
 
Biểu đồ của các bệnh nhân Ung thư 
 
Lưu ý những dấu chấm xanh nằm giữa vạch đỏ là chỉ số sinh khí an toàn của kinh mạch đó còn chấm vàng phía trên vạch đỏ trên là chỉ số khí thực bế tắc uất kết. Chấm đỏ nằm phía dưới vạch đỏ dưới là chỉ số sinh khí hư thiếu rỗng
đồ sinh khí trong các kinh mạch

 

 


 

 



  
 

 



 
Chỉ số giữa 2 vạch đỏ là chỉ số an toàn. Nhưng biểu đồ của các bệnh nhân ung thu dù mới bị hay đang điều trị hoặc đã qua hóa xạ trị đều có biểu đồ gần như giống nhau. Tất cả biểu đồ của bệnh nhân ung thư đều cho thấy: các kinh Phế Tiểu trường Tim Thận và Tam tiêu bị suy hư nặng và các kinh Gan Tỳ Vị Bàng quang Đởm.. đều bị bế tắc và uất kết nhiều độc tố cũng ở cấp báo động.
_______
  
  

Biểu đồ của các bệnh nhân bị bệnh Phong Thấp:

  


 


 







 


 


 








 





 
 




 
Biểu đồ của tất cả các bệnh nhân bị bệnh Phong Thấp đều có kết cấu gần như giống nhau: Chỉ số sinh khí ở các tạng Âm: Tim- Tỳ- Phế- Thận lúc nào cũng có chỉ số dưới mức an toàn chỉ số của suy hư-rỗng. Còn chỉ số của các Phủ: Vị Đại trường Đởm Bàng quang và tạng Can đều ở chỉ số trên vạch an toàn là chỉ số của bế tắc uất kết nhiễm độc...
____________________



 

Chuyên viên y tế sau khi đo sinh khí có biểu đồ như thế này phải làm thế nào đó là châm cứu dùng thảo dược kích thích bằng điện từ.v..v..sử dụng sở trường thích ứng với từng bệnh nhân để đưa chỉ số sinh khí trong kinh mạch nằm ngoài vạch an toàn vào trong khung an toàn (theo mũi tên chỉ)
  
 
Dụng y lần thứ nhất chưa được thì lại dụng tiếp cho đến khi nào...
 

 

Chỉ số sinh khí trên biểu đồ sinh khí ở trong các kinh mạch đều trở về khung an toàn (nằm giữa hai vạch màu xanh) là được. Bệnh nhân đã khỏi bệnh.
 
Máy Prognos có các chương trình điều trị nhằm kích hoạt sinh khí trong các kinh mạch trở về giới hạn an toàn. Trong đó có chương trình kích hoạt sinh khí bằng tần số âm thanh đặc biệt. Bệnh nhân chỉ cần nghe một lập trình giao động âm thanh do máy chỉ định thông qua các thông số của sinh khí. Chương trình dùng giao động âm thanh để kích hoạt sự vận động sinh khí trong các kinh mạch để điều hòa cân bằng thể trạng là một chương trình độc quyền chỉ dành riêng cho máy Prognos phần mềm cài đặt chương trình này bị mã hóa với code của từng máy riêng biệt. Chương trình giao động âm thanh kích hoạt sinh khí này được nghiên cứu và đo đạc kiểm tra trên tàu vũ trụ Mir đúng 428 ngày do chính nhà du hành vũ trụ Giáo sư Poloyakov đích thân thử nghiệm. (Đây cũng là tiên đề cho ý tưởng giải mã thảo dược Á đông ra các giao động âm thanh tương ứng để trị bệnh không dùng thuốc mà tôi đã có dịp bàn tới)
 
Khả năng kích hoạt sinh khí bằng giao động âm thanh của chương trình máy Prognos cũng có hiệu quả khá cao. Nhưng bất tiện ở chỗ là bệnh nhân phải trực tiếp nghe giao động âm thanh kích hoạt trên máy có khi phải nghe hàng chục lần mỗi lần ít nhất 30 đến 45 phút mới có kết quả khả quan. Có nghĩa là muốn chữa bệnh phải có máy Prognos và các phần mềm chạy máy (Giao động từ 20 ngàn đến 50 ngàn Euro tùy theo số lượng chương trình được nạp). Tính phổ cập không khả thi.
______

Khi đo sinh khí cho bệnh nhân bị bệnh ung thư hay bệnh phong thấp bệnh suy nhiễm chức năng miễn dịch..tôi thấy có một điều rất kinh ngạc là hầu như biểu đồ sinh khí của các loại bệnh trên đều có cấu trúc rất giống nhau (Xem biểu đồ sinh khí của bệnh nhân ung thư và biểu đồ sinh khí của bệnh nhân phong thấp ở trên). Mà đa số là chỉ số sinh khí của các tạng Âm như Phế Tỳ Tiểu trường Tâm Thận Tâm bào và phủ Tam tiêu đều có chỉ số dưới mức an toàn tức là khí huyết (sinh khí- Energie) bị suy hư thiếu rỗng trầm trọng. Ngườc lại sinh khí ở các phủ Dương như Vị Đại trường Bàng quang Đởm và tạng Can đều vượt trên vạch an toàn tức là khí huyết bị uất kết và bế tắc....
 
Qua sự giống nhau gần như tuyệt đối của cấu trúc biểu đồ sinh khí của bệnh nhân Ung thư hoặc bệnh nhân Phong thấp tôi nảy sinh ra nghi vấn. Là do bị nhiễm những bệnh này người bệnh mới bị suy hư sinh khí ở các tạng Âm hay do các tạng đã Âm bị suy hư mới bị nhiễm cách bệnh này.
 
Và tôi nghĩ cho dù là do nguyên nhân gì nếu làm chủ và khống chế thao túng được được sự hoạt khí trong các tạng Âm thì khả năng khôi phục lại sự vận động điều hòa khí huyết trong các kinh mạch và tạng phủ rất dễ dàng. Muốn làm được điều này phải nghiên cứu tìm hiểu xem khí huyết vận động trong các tạng Âm tuân theo qui luật nào chu kỳ vận động ra sao và có thể tương tác trực tiếp để thay đổi tình trạng của nó không. Đó là ý tưởng khởi đầu cho cuộc "thám hiểm" đầy kịch tích và hấp dẫn của tôi với vòng Thái Âm Chân Khí.
 
Tín hiệu khả quan đầu tiên là do kết quả của cuộc thử nghiệm chữa bệnh theo phương pháp "tù mù".
 
Bệnh nhân đến tôi không cần hỏi không cần khám gì hết không cần tứ chẩn vọng văn vấn thiết gì hết không cần hàn nhiệt biểu lý hư thực gì hết..Đau dầu hả mất ngủ hả phong thấp hả đau nhức tứ chi hả...không cần biết cứ vào đây ngồi xuống đo đạc cái đã. Khi có biểu đồ sinh khí tôi xác định cho bệnh nhân biết Ông(bà) bị thế này..thế này..là do sinh khí (energie) ở chỗ này chỗ này ..bị suy thiếu..chỉ cần làm thế nào cho nó trở lại như thế này..như thế này là hết bệnh. Và cứ vậy chỗ nào biểu đồ chỉ sinh khí bị thiếu hụt dưới mức an toàn mà hầu hết là ở các kinh Âm (Tim Gan Tỳ Phế Thận) Thì tôi dùng các thủ pháp y thuật như châm cứu thuốc thảo dược tự nhiên trà thảo dược kích điện từ ánh sáng màu âm thanh v..v..dùng tất cả những biện pháp có thể để đưa sinh khí trong các tạng Âm lên khung an toàn trong biểu đồ. Khi đưa được chỉ đồ sinh khí lên khung an toàn ổn định là bệnh nhân hết bệnh.
 
Bằng cách chữa "tù mù" này hầu như bệnh nào cũng được tôi "giải quyết" rất gọn ghẽ. Có những ca bệnh người bệnh bị bệnh Thiên đầu thống (Migräne) gần mấy chục năm chỉ cần qua 3 đến 5 lần chữa "tù mù" như vậy là khỏi. Tương tự cho các bệnh đau nhức hen suyễn...cũng có kết quả tương tự. Tuy nhiên gặp những bệnh đau nhức như bị thoát vị đĩa đệm thoái hóa cột sống...thì đành thúc thủ bó tay. Tuy vậy rất bệnh nhân Phong thấp bệnh nhân Ung thư bệnh nhân Tiểu đường máu mỡ áp suất máu cao...nhờ cách chữa "tù mù" với máy Prognos này mà bệnh có tiến triển rất khả quan.
 
Từ những kết quả này tôi quyết định phải "nắm bắt" cho kỳ được vòng Thái Âm chân khí. Đó là cái chìa khóa để giãi mã và loại bỏ các mầm bệnh của những căn bệnh hiễm nghèo và đó cũng là tiền đề cho việc phòng bệnh hữu hiệu nhất.



Dựa vào những nguyên tắc vận động của Ngũ hành Âm dương và học thuyết Kinh mạch huyệt vị trong Y lý cổ truyền Á đông tôi tạm thời cho rằng Khí huyết lưu thông trong tạng Âm phải là như thế này. Nó phải luân chuyễn theo vòng tương sinh của Ngũ hành- Thủy Thận sinh Mộc Gan Mộc Gan sinh Hỏa Tâm Hỏa Tâm sinh Tỳ Thổ Tỳ Thổ sinh Phế kim Phế Kim lại sinh Thủy Thận...
 
Nguyên tắc là như vậy nhưng trên các biểu đồ sinh khí của bệnh nhân Ung thư và bệnh nhân Phong thấp tôi thấy hầu như kinh Gan bao giờ cũng bị bế tắc khác với các kinh Âm khác lúc nào cũng suy thiếu. Ngược lại Thận kinh thì lúc suy lúc bế. Cho nên tôi nghĩ hoạt khí trong kinh Âm không thể tuân theo qui luật như hình trên được vì vậy cần phải đo đạc kiểm chứng.

 



 








 

 

 


Đường luân chuyển sinh khí trên cơ thể biểu hiện qua các kinh mạch và huyệt vị...Khi đo trên máy Prognos
_____



Dựa vào kết quả đo đạc trên nhiều phương tiện khác nhau và tư liệu từ Kosmosmedizi chúng tôi (lúc này có nhiều đồng nghiệp tham gia đo đạc) đã có được một vòng luân chuyễn khí huyết trong trong kinh Âm chúng tôi tạm gọi nó là "Vòng Thái Âm Chân Khí". Vòng vận hành này có khác hơn vòng "Kinh điển" vài chỗ ví dụ như chân khí từ huyệt Phục lưu của Tỳ kinh chạy vòng qua huyệt Túc tam lý trước đã mới đổ  sang Phế kinh. (Tôi sẽ trình bày vòng Thái Âm chân khí cặn kẻ trong một dịp khác).
 
Có một phát hiện rất quan trọng là trong mỗi kinh Âm đều có một huyệt rất đặc biệt nhạy cảm huyệt này hầu như không tuân thủ theo các nguyên tắc của học thuyết kinh mạch của Y lý cổ truyền. Nó không phải là Nguyên huyệt hay Hội huyệt..mà nó đóng một vai trò như những cánh cửa mở giao lưu với thế giới bên ngoài. Nó cực kỳ nhạy cảm trong việc cảm thụ sự kích thích. Có lẽ đây là nơi mà các loại tà khí đột nhập vào các kinh lộ gây nên tổn thương khí huyết trong kinh Âm. Cũng chính vì vậy mà các huyệt này chính là chìa khóa để kích hoạt Thái âm chân khí phục hồi thể trạng. Chúng ta tạm hiểu các Trọng huyệt này tương tự như "gót chân Asin" của các kinh Âm vậy.
 
Một điều cần lưu ý là cũng bằng các phương pháp đo này chúng tôi không phát hiện ra có vòng luân chuyển chân khí trong các Kinh dương tương tự như kinh âm. Đây là một dấu hỏi lớn chưa lý giải được. Nhưng có lẽ theo y lý cổ truyền thì Huyết là Âm Khí là Dương Huyết đến thì Khí đến. Sự vận hành chân âm chính là hoạt huyết có hoạt huyết mới vận khí được. Chân âm (huyết) có tinh hoạt trong sạch đầy đủ mới sinh Tinh chất lượng được. Tinh tốt mới sinh Khí mạnh Khí mạnh mới toát ra được thần sắc tươi nhuận đầy đủ. Đó chẳng phải là khí Chân Âm (huyết) mới thực sự là điểm mấu chốt cho một sinh lực cường tráng không bệnh tật đó ư!
  
(Còn nữa)
21.01.11
QN-TN

More...

HỎA XA LUẬN (Phần 5- Bàn về Đau Nhức)

By Lê Thuận Nghĩa


Cho dù bất kỳ ở thời gian nào từ nhiều ngàn năm nay bệnh Phong Thấp cũng đều được coi là "căn bệnh của thế kỷ". Cho đến hôm nay là những thập niên đầu của thế kỷ thứ 21 cho dù thế giới Y khoa có nhiều những đột biến vĩ đại trong "công nghệ" bảo vệ sức khoẻ và kéo dài tuổi thọ cho con người nhưng bệnh Phong Thấp vẫn được dự đoán là căn bệnh gây nhiều phiền hà nhất cho đời sống của cư dân trên trái đất. Và người ta đã tiên liệu cho đến cuối thế kỷ này căn bệnh này vẫn chưa có được những đột phá khả quan trong việc chống lại nó. Ngược lại người ta còn dự đoán bệnh Phong Thấp còn trở nên tồi tệ hơn vào những thập niên giữa thế kỷ.
 
Theo dự kiến của Trung Tâm Phòng Chống Dịch Bệnh số người mắc bệnh phong thấp tại Hoa Kỳ sẽ tăng lên tới gần 67 triệu người trước năm 2030 trong số này 25 triệu người sẽ gặp nhiều khó khăn trong sinh hoạt hàng ngày do tình trạng bệnh gây ra. Tổn phí hàng năm của bệnh phong thấp lên tới 128 tỉ đôla. . Nước Đức thì dự đoán có khoảng 55 triệu người Đức bị bệnh này trước năm 2020. Một phúc trình khác nói rằng cứ 100 người thì lại có ít nhất một người bị bệnh phong thấp với tỷ lệ phụ nữ mắc bệnh cao gấp 3 lần nam giới. Tuy chưa rõ nguyên nhân gây bệnh các nhà khoa học tin rằng nó có liên quan tới hệ miễn dịch và do đó đang nghiên cứu hệ thống này để tìm một phương pháp điều trị tốt hơn.

Triệu chứng thường gặp nhất ở người bị phong thấp là đau nhức các khớp từ mắt cá chân đến đầu gối cột sống lưng cổ gáy đến những khớp ngón chân ngón tay có thể viêm sưng nóng đỏ đau hoặc không có thể khu trú ở khớp xương hoặc lan toả tới da thịt gân cơ trong ống xương tuỷ xương khắp cơ thể.
 
Những triệu chứng đầu tiên của bệnh Phong Thấp Ðau Khớp hoặc viêm khớp là cảm thấy cứng ở các đầu khớp xương. Khi bệnh tiến triển thêm nữa chúng ta sẽ cảm thấy đau ở các khớp xương khi phải xử dụng vận động các khớp xương này; nắn chung quanh các khớp xương sẽ thấy đau có khi bị sưng cử động các khớp xương bị hạn chế nhiều khi phát ra tiếng kêu răng rắc trong khớp xương. Thường thì khớp xương nào cũng có thể bị ảnh hưởng nhưng phần lớn bệnh Phong Thấp Ðau Khớp ảnh hưởng tới các khớp xương tay vai đầu gối xương chậu và đặt biệt nhất là trên xương sống. Chụp quang tuyến (X-Ray) sẽ tìm ra khớp xương bị nhỏ hẹp lại sụn ở khớp xương bị ăn mòn (cartilage erosion) hoặc xương bị mọc nhánh (bone spurs).

Nguyên nhân chính đưa đến bệnh Phong Thấp Ðau Khớp là lớp sụn ở khớp xương bị thoái hóa và ăn mòn thiếu chất nhờn ở các khớp xương điều này tạo nên đau nhức khi cử động hoặc vận động. Tình trạng này là do lớn tuổi các tế bào bị suy thoái ảnh hưởng nhất là các tế bào ở đầu khớp xương để tạo chất sụn và chất nhờn ở đầu khớp xương (sụn ở khớp xương được cấu tạo như một lớp đệm giữa hai đầu khớp xương để tránh va chạm khi cử động còn chất nhờn ở trong khớp xương giúp cho trơn trượt dễ dàng khi chúng ta cử động). Lao động nặng về thể chất lúc còn trẻ bị tai nạn như đụng xe ngã té bong gân hoặc thiếu dinh dưỡng cũng dễ đưa tới tình trạng Phong Thấp Ðau Khớp.


 
Có tới hơn 100 loại sưng khớp xương gây ra đau nhức và tàn tật cho hằng trăm triệu người.
   
Trong những loại bệnh sưng khớp này thì bệnh phong thấp Rheumatoid Arthritis (gọi tắt là RA) là bệnh nặng nhất gây ra đau nhức khớp xương rất nhiều và dần dần làm biến dạng các khớp xương này khiến bệnh nhân không sử dụng tay chân được đến nỗi những cử dộng thông thường nhất như mở nắp hộp hay đi đứng cũng rất khó khăn. Có tới hơn hai triệu người Mỹ đang bị phong thấp RA. 7 triệu người Tây Âu cũng có chung số phận như vậy. Bệnh này xẩy ra ở đàn bà nhiều hơn đàn ông và thường bắt đầu vào khoảng tuổi từ 20 tới 50 nhưng cũng có thể xẩy ra ở trẻ nhỏ và người lớn hơn 50.
 
Bệnh phong thấp RA thường xẩy ra ở nhiều khớp xương cùng lúc. Khi mới bị bệnh các khớp xương ở cổ tay bàn tay bàn chân và đầu gối thường bị hơn cả. Theo với thời gian các khớp vai khuỷu tay háng cằm và cổ có thể bị ảnh hưởng. Cả hai bên cơ thể thường bị cùng lúc.
 
Nơi những điểm dễ va chạm nhất (pressure points) của khớp xương ở khuỷu tay bàn tay và bàn chân hay dây gân gót chân Achille có thể nổi lên những cục u nhỏ gọi là cục phong thấp. Các cục u này cũng có thể mọc ở các khớp xương khác ngay cả trong phổi nữa. Những cục u này có thể nhỏ bằng hạt đậu nhưng cũng có thể lớn bằng quả ổi nhỏ nhưng không gây đau đớn gì cả.
 
Bệnh phong thấp RA đặc biệt có thể gây viêm các tuyến nước mắt tuyến nước bọt màng tim và phổi phổi và ngay cả các mạch máu. Đây là một bệnh kinh niên có lúc thuyên giảm có lúc nặng lên. Không có cách chữa cho hết hẳn bệnh này nhưng nếu biết cách dùng thuốc và những phương tiện bảo vệ các khớp bệnh nhân vẫn có thể sống cuộc đời hạnh phúc và lâu dài.
  
Nguyên nhân
Bệnh phong thấp RA gây ra do màng lót các khớp xương bị sưng lên khiến tiết ra một chất đạm làm màng này ngày càng dầy lên. Chất đạm này cũng phá hoại lớp sụn xương gân và dây chằng nơi khớp. Dần dần khớp xương bị dị dạng méo mó và có thể bị phá hủy.
  
Tại sao các màng lót bị sưng lên? Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng nhiễm trùng là nguyên nhân và một số người có những gien di truyền khiến họ dễ bị nhiễm trùng.   
Một số các nhà nghiên cứu khác cho rằng kích thích tố có thể đóng một vai trò trong việc gây ra bệnh phong thấp RA.
 
Những yếu tố khác có thể làm một người dễ mắc bệnh RA là: tuổi già phái nữ hút thuốc lá.

Biến chứng
Bệnh phong thấp RA gây ra cứng đau khớp xương và mệt mỏi. Dần dần bệnh nhân khó có thể làm những việc dù thông thường nhất như cầm cây bút vặn nắm cửa...Bệnh nhân có thể bị trầm cảm do việc này. Bệnh nhân RA cũng dễ mắc bệnh sưng khớp và xương (osteoarthritis một dạng bệnh phong thấp khác) và bệnh tim...
 
Cách chữa
Thuốc:
Làm bớt đau và ngăn sự tiến triển của bệnh. Gồm có: thuốc chống viêm NSAIDs COX 2 inhibitors Steroids DMARDs IL 1 Ra thuốc chống miễn nhiễm TNF blockers thuốc chống trầm cảm...

Tất cả bệnh nhân bị phong thấp cấp cần nằm nghỉ tại giường hoặc nằm bệnh viện để được khám hàng ngày nhằm phát hiện kịp thời các triệu chứng viêm tim xảy ra trong 2 tuần đầu. Khi theo dõi cần chú ý phát hiện diễn tiến ở khớp tim có to thêm không và mạch có nhanh lên không: đó là các triệu chứng bệnh nặng thêm. Tùy theo mức độ của bệnh mà bác sĩ có chỉ định dùng thuốc như:
- Pénicilline
- Erythromycine (nếu dị ứng pénicilline)
- Aspirine
- Corticoid
...
 
Giải phẫu:
Lọc máu: lấy bớt những kháng thể làm viêm và đau khớp.
Giải phẫu thay khớp : khi khớp xương đã bị phá hủy quá nhiều giải phẫu thay khớp có thể tái tạo chức năng của khớp và làm giảm đau.
 
Ngoài những cách chữa bệnh do bác sĩ thực hiện kể trên bệnh nhân cũng cần biết cách tự săn sóc bệnh của mình khiến giúp cho cuộc sống bớt khó khăn cũng như ngăn chặn sự tiến triển của bệnh.

1. Tập thể dục thường xuyên: bệnh nhân cần hỏi bác sĩ hay nhân viên thể lý trị liệu về những thể dục nào thích hợp và cần thiết.
2. Giữ không lên cân nhiều: số cân dư sẽ làm cho các khớp xương phải chịu sức ép nhiều hơn và dễ bị phá hoại hơn.
3. Ăn uống đúng cách: ăn nhiều rau trái cây và ngũ cốc nguyên hạt
4. Tắm nước nóng hay dùng bình nước nóng đặt lên các khớp để giảm đau thư giãn các bắp thịt và tăng máu đến khớp.
5. Dùng sức lạnh khi bệnh tăng lên: lạnh làm cho giảm đau làm tê và giảm co thắt bắp thịt. Nếu bệnh nhân đang bị tê và máu lưu thông không tốt không nên dùng sức lạnh.
Tập những phương pháp thư giãn: thôi miên thở sâu thư giãn bắp thịt.
6. Uống thuốc đầy đủ theo lời dặn của bác sĩ.
7. Giữ thái độ lạc quan: cùng với bác sĩ sắp đặt trước những gì cần làm để chống lại cơn bệnh. Việc này sẽ làm cho bạn lạc quan vì mình chủ động trong việc đối phó với căn bệnh.
8. Dùng những dụng cụ giúp mình vận động: thí dụ như những đồ ràng đầu gối gậy chống ràng bàn tay...Nói chuyện với bác sĩ về những dụng cụ này.
9. Không làm quá sức mình: nghỉ ngơi khi cần
 
Những cách chữa khác
Bệnh nhân phong thấp RA có thể muốn dùng thử những phương cách chữa trị khác như châm cứu thuốc Bắc thuốc dùng thêm như glucosamine chondroitin sulfate... nam châm...Tuy nhiên nên nhớ rằng những phương pháp này không được theo dõi và kiểm chứng đầy đủ. Do đó bệnh nhân phải cẩn thận tìm cho đúng thầy đúng thuốc không nên dùng bừa bãi.
  
Một số phát hiện mới:
Một loạt các yếu tố đã được thẩm định như có nguy cơ gây bệnh phong thấp gồm có: tiếp xúc với một số hormone vi khuẩn thói quen hút thuốc và các yếu tố có liên quan tới chế độ ăn uống vv... nhưng cho tới nay các yếu tố này chưa được xác định một cách chắc chắn.
 
Trong các yếu tố môi trường đã được xem xét bằng cớ rõ rệt nhất có lẽ là tương quan giữa hút thuốc và bệnh phong thấp đa số các cuộc nghiên cứu về yếu tố rủi ro này đều liên kết thói quen hút thuốc với thời điểm phát bệnh.
 
Các kết quả nghiên cứu sơ khởi cũng phát hiện rằng nguy cơ mắc bệnh phong thấp giảm nơi những phụ nữ uống thuốc ngừa thai nhưng nhiều cuộc nghiên cứu chi tiết hơn sẽ phải được thực hiện trước khi xác định kết quả nghiên cứu này. Ngoài ra các phụ nữ chưa hề sinh con có nguy cơ mắc bệnh cao hơn đôi chút so với các phụ nữ có con.
 
Và các cuộc nghiên cứu mới thực hiện cho rằng bệnh phong thấp ít xảy ra hơn nơi các phụ nữ cho con bú sữa mẹ tương phản hẳn với kết luận của các cuộc nghiên cứu trước đây nói rằng các phụ nữ cho con bú sữa mẹ có nguy cơ mắc bệnh phong thấp cao hơn.
 
Mới đây có dấu hiệu cho thấy một loại thuốc có triển vọng chận đứng sự tiến triển của bệnh hoặc ngay cả đảo ngược các hệ quả của bệnh phong thấp.
 
Các nhà nghiên cứu giải thích rằng hệ miễn dịch gồm những tế bào có chức năng bảo vệ cơ thể chống vi khuẩn và các tác nhân gây nhiễm khác dường như lại tấn công chính cơ thể của bệnh nhân.
 
Ông Harris Perlman là Giáo sư giảng dạy tại Trường Y khoa Feinberg thuộc Đại học Northwestern của bang Illinois. Giáo sư Perlman giải thích về mối tương quan giữa hệ thống miễn nhiễm và bệnh phong thấp:
 
"Điều xảy ra là phản ứng của hệ thống miễn nhiễm bị rối loạn khiến cơ thể tự tấn công chính mình."

Giáo sư Perlman nói một protein trong một hệ thống miễn dịch hoạt động tốt giúp tế bào tự hủy sau khi đã tấn công các mầm bệnh hay vi khuẩn. Nhưng trong trường hợp bệnh không có protein ấy trong hệ miễn dịch. Thay vào đó protein tồn đọng trong các khớp xương rồi tấn công chất sụn và xương.
 
Cuộc nghiên cứu có sự tham gia của Giáo sư Perlman của Đại học Northwestern đã thành công trong việc khóa lại hệ miễn dịch nơi các con chuột mắc bệnh phong thấp. Nhà nghiên cứu này phát triển một phân tử mà ông gọi là "phân tử tự sát" có chức năng tương tự như protein đã khiến cho các tế bào tự hủy.
 
Giáo sư Perlman giải thích rằng "phân tử tự sát" có thể chận đứng và đôi khi giảm bớt chứng phong thấp trong 75% số chuột thử nghiệm. Ông tin rằng phương pháp chữa trị dùng phân tử này có thể hữu hiệu nơi con người.
 
Các cách chữa trị bệnh phong thấp đang được dùng hiện nay có thể giảm bớt mức độ đau nhức nhưng không hữu hiệu nơi tất cả các bệnh nhân. Bệnh nhân phải uống thuốc liên tục trong khi thuốc có những hậu chứng đi kèm như tăng nguy cơ nhiễm trùng.
 
Giáo sư Harris Perlman nói khía cạnh tốt nhất của phương pháp chữa trị mới là nó không đi kèm với hậu chứng nào đáng kể. 
 

Theo Đông y phong thấp hay tý chứng là do cơ thể yếu đuối bị "Phong" "Hàn" "Thấp" "Nhiệt" thừa cơ xâm nhập kinh lộ cơ nhục khớp xương làm tổn thương huyết mạch và tâm đưa đến sưng đỏ đau nhức nặng nề tê bại trong cơ thể các khớp xương chân tay vv... bệnh nhân cảm thấy hàn nhiệt biểu chứng.

Trong cơ thể kinh lạc đưa khí huyết đi khắp nơi khi bị ngoại tà xâm nhập là bế tắc kinh lạc sẽ gây đau mỏi các khớp trời lạnh mưa ẩm thấp đau tăng hoặc tái phát. Cho nên tất cả các bệnh đau thần kinh xương khớp đều có thể qui vể Tý chứng. Đông y gọi là chứng Tý tý là bế tắc không thông dân gian thường gọi là bệnh phong thấp. Đông y qua nhiều đời phân ra rất nhiều loại như Hành tý Thống tý trước tý Nhiệt tý Huyết tý ....
Ví dụ:
1. Hành tý (còn gọi là Phong tý Phong)
Triệu chứng: Đau di chuyển các khớp đau nhiều khớp sợ gió rêu lưỡi trắng mạch phù
Liệu pháp: khu phong là chính tán hàn trừ thấp là phụ hoạt huyết hành khí
Toa:Phòng phong 12g Khương hoạt 12g Tần giao 8g Quế chi 8g Bạch linh 8g Bạch thược 12g Đương qui 12g Cam thảo 6g Ma hoàng 8g Thổ phục linh 16g Thương nhĩ tử 16g Hi thiêm 16g Uy linh tiên 12g Ý dĩ 12g Bạch chỉ 8g Tỳ giải 12g
 
Châm cứu: thiên ứng lân cận hợp cốc phong môn phong trì huyết hải túc tam lí cách du
  
 2. hàn tý hay thống tý
Triệu chứng: Đau dữ dội ở một khớp trời lạnh đau tăng chườm nóng thì đỡ tay chân lạnh sợ lạnh rêu lưỡi trắng mạch huyền khẩn hoặc nhu hoãn

Liệu pháp: Tán hàn là chính khu phong trừ thấp là phụ hành khí hoạt huyết

Toa: Quế chi 8g Can khương 8g Thiên niên kiện 8g Uy linh tiên 8g Ý dĩ 12g Xương truật 8g Xuyên khung 8g Ngưu tất 8g Thương nhĩ tử 12g Ma hoàng 8g Bạch thược 8g Hoàng kì 8g Bạch linh 8g
 
Châm cứu: Thiên ứng Lân cận Hợp cốc Phong môn Phong trì Huyết hải Túc tam lí Cách du


3. thấp tý hay trước tý

Triệu chứng: Các khớp nhức mỏi đau một chỗ tê bì đau các cơ vận động khó miệng nhạt rêu lưỡi trắng dính mạch nhu hoãn

Liệu pháp: Trừ thấp là chính tán hàn khu phong là phụ hành khí hoạt huyết 
  
Toa: Ý dĩ 16g Xương truật 12g Ma hoàng 8g Quế chi 8g Khương hoạt 8g Độc hoạt 8g Phòng phong 8g Ô dược 8g Hoàng kỳ 12g Cam thảo 6g Đẳng sâm 12g Xuyên khung 8g Ngưu tất 8g Bạch chỉ 12g Đan sâm 12g Ngũ gia bì 12g
 
...
Vài ví dụ khác:
* - Mỗi khi thời tiết thay đổi các khớp đau nhức âm ỉ người bệnh ít ngủ trằn trọc đi lại khó khăn dùng một trong các bài thuốc sau:
 
Bài 1: xương bồ 12g thổ phục linh 16g nam tục đoạn 20g tang chi 12g rễ cỏ xước 12g rễ bưởi bung 16g quế 10g cam thảo 12g. Đổ 1.000ml nước sắc lọc bỏ bã lấy 350ml chia 2 lần uống trong ngày.
 
Bài 2: ngải diệp 16g kinh giới 16g ngũ gia bì 12g cẩu tích 12g trinh nữ 16g thổ phục linh 20g quế chi 10g thiên niên kiện 10g nước 1.000ml sắc lọc bỏ bã lấy 350ml chia 2 lần uống trong ngày.
 
*-  Khớp gối đau mỏi chân tay lạnh có biểu hiện cứng khớp cơ thể suy nhược đi đứng chậm chạp (thể hàn thấp) dùng một trong các bài thuốc sau:
Bài 1: phòng phong 10g kinh giới 16g tế tân 12g xuyên khung 12g huyết đằng 16g nam tục đoạn 16g cà gai leo 12g bưởi bung 16g quế chi 10g thiên niên kiện 10g cẩu tích 12g chích thảo 12g. Đổ 1.000ml nước sắc lọc bỏ bã lấy 400ml chia 2 - 3 lần uống trong ngày.
 
Bài 2: hà thủ ô (chế) 12g rễ cúc tần 12g tục đoạn 12g thổ phục linh 16g xấu hổ 20g cỏ xước 20g độc hoạt 16g quế chi 10g  
thiên niên kiện 10g đơn hoa 16g. Đổ 1.000ml nước sắc lọc bỏ bã lấy 400ml chia 2 - 3 lần uống trong ngày.
 
*-  Đau khớp nhưng lại chạy từ khớp này đến khớp kia có thể có sốt đau tức ngực khó thở toàn thân mệt mỏi (thể phong thấp). Dùng một trong các bài thuốc sau:
Bài 1: xuyên khung 12g đan sâm 12g phòng phong 12g kinh giới 16g ngải diệp 16g ngưu tất 12g thục địa 10g bạch thược 12g đương quy 12g thổ phục linh 16g độc hoạt 16g huyết đằng 16g. Ngày uống 1 thang sắc 3 lần uống 3 lần.
Bài 2: hoài sơn 16g liên nhục 12g cẩu tích 12g hà thủ ô (chế) 12g ngũ gia bì 16g nam tục đoạn 16g đơn hoa 12g độc hoạt 16g hy thiêm 12g phòng phong 10g kinh giới 16g. Uống ngày 1 thang sắc 3 lần uống 3 lần.
 
*- Đau vai cổ đau lan xuống một bên cánh tay. Đầu khó cử động có cảm giác tê bì. Dùng một trong các bài thuốc sau:
Bài 1: ngưu tất 16g thiên niên kiện 12g quế chi 10g trần bì 10g cố chỉ 10g ngải diệp 16g tế tân 10g kinh giới 16g đương quy 12g xương bồ 12g. Sắc uống ngày 1 thang uống nóng.
Bài 2: thổ phục linh 20g ngải diệp 16g hà thủ ô (chế) 12g tục đoạn 12g lá lốt 12g rễ cỏ xước 16g rễ bưởi bung 16g rễ cúc tần 12g cà gai leo 12g quế chi 10g thiên niên kiện 10g chích thảo 12g. Sắc uống ngày 1 thang uống nóng.
..v..v..
 
Một đặc điểm tích cực của các loại thuốc hóa dược của Tây y là có thể có tác dụng chung cho nhiều người khi có cùng một triệu chứng bệnh cho dù thuốc hóa dược chữa trị phong thấp có phản ứng phụ nguy hiểm nhưng tính phổ cập cao và dễ sử dụng. Còn thuốc thảo dược và các phương pháp khác của Đông y tuy rằng có tính khả thi đào thải được mầm bệnh nhưng lại khó sử dụng thế yếu của Đông y là hiệu quả của phương toa hoàn toàn phụ thuộc vào tài năng của người Lương Y.
 
Vì cơ sở chẩn trị của Đông y chỉ dựa vào Vọng-Văn-Vấn-Thiết cho nên việc chẩn trị đúng bệnh lý thuộc loại nào là hàn nhiệt hay phong thấp...là Thống tý hay Hành Tý là Trước tý hay Nhiệt tý...để dụng toa thích hợp đều dựa vào kinh nghiệm tài năng và lương tâm của người Thầy thuốc.
 
Mặt khác các loại thảo dược tự nhiên không phải đối với tất cả bệnh nhân có cùng một triệu chứng đều có tác dụng mà còn tùy thuộc vào thể trạng của bệnh nhân có hợp thuốc hay không.
 
Chính những yếu tố đó mà liệu pháp của Đông y tuy có khả quan với bệnh Phong thấp nhưng tính phổ cập không cao khó ứng dụng đại trà.
 
Việc tìm ra một phương toa một liệu pháp có tác dụng tốt an toàn lại có tính chất dùng chung cho nhiều người cùng một triệu chứng phong thấp là một vấn đề rất khó. Đó là mơ ước của hầu như tất cả các Lương y có lương tâm nghề nghiệp.
 
Trong quá trình hành nghề và sử dụng máy đo sinh khí Prognos tôi phát hiện ra một biểu đồ rất đáng phải kinh ngạc. Đó là tất cả các bệnh nhân bị bệnh phong thấp bệnh nhân ung thư đã qua hóa xạ trị bệnh nhân mắc chứng suy giảm miễn dịch..đều có một biểu đồ sinh khí rất giống nhau. Biểu đồ này có chỉ số sinh khí ở các kinh Âm đều dưới mức bình thường. Chỉ số này còn có nghĩa là các Tạng Âm đều bị suy hư. Mà chủ yếu là Tỳ Tâm Phế Tiểu trường và Thận. Ngược lại các Phủ Dương thì lại có chỉ số sinh khí trên mức bình thường cũng có nghĩa là khí huyết bị bị bế tắc mà chủ yếu là các Phủ Vị Bàng Quang và Can.
 
Do thấy các biểu đồ sinh khí của tất cả những người bị bệnh Phong thấp đều có kết cấu hình dạng vận động giống nhau đặc biệt là chỉ số sinh khí trong các Tạng Âm cực thấp. Tôi nảy sinh ra ý tưởng có phải nguyên nhân sâu xa để đưa đến bệnh phong thấp là do các tạng Âm bị suy hư hay không. Hay là ngược lại bị nhiễm bệnh phong thấp thì hậu quả sẽ đưa đến các Tạng Âm bị suy hư khí huyết.
 
Để lý giải cho câu hỏi này tôi liền thử nghiệm điều trị qua sự kiểm tra của máy Prognos. Liệu pháp là không cần biết bệnh nhân do Phong thấp thuộc thể gì cứ có tạng Âm nào bị suy hư thì tôi bồi bổ khí huyết cho tạng đó để có được chỉ số sinh khí trong khung bình thường.
 
Khi điều trị bằng tất cả các phương pháp có thể để đưa chỉ số sinh khí của Tạng Âm bị suy lên mức bình thường. Thì cơn đau nhức Phong thấp của bệnh nhân biến mất ngay. Nói tóm lại tôi không cần biết bệnh nhân bị phong thấp thể gì cứ đưa được tất cả chỉ số sinh khí trong các Tạng Âm bị suy hư lên mức bình thường là bệnh nhân hết bệnh.
 
Kết quả này cho tôi một ý tưởng. Bệnh phong thấp có liên quan đến nguyên nhân khí huyết bị hư trong các tạng Âm (Tim Gan Tỳ Phế Thận). Việc khí huyết ở các Phủ Dương bị bế tắc cũng sẽ biến mất khi các Tạng Âm được phục hồi sinh khí. Vì vậy đây có thể là một "Mẫu số chung" cho liệu pháp phổ cập chống lại đau nhức phong thấp.
 
Nhưng việc cùng một lúc phục hồi sinh khí cho tạng Âm không phải là dễ. Châm cứu cũng không làm được chuyện này vì sau khi châm xong đo sinh khí ngay thì đạt yêu cầu nhưng sang ngày khác thì chỉ số lại tụt về như cũ.
 
Nghiên cứu các toa thuốc Bổ Âm cổ truyền để ứng dụng thì tác dụng rất chậm và khó được như ý muốn.
 
Một duyên tình cờ khác khi đo sinh khí cho tất người bệnh dù là đang mắc bệnh hiểm nghèo hiện đang trì luyện môn khí công Thái Âm Công (Một pho khí công gia truyền của dòng họ Chu ở Đài Loan). Thì tôi thấy biểu đồ sinh khí của họ có chỉ số rất lý tưởng ở các tạng Âm. Phát hiện này bắt buộc tôi phải nghĩ đến có sự hoạt khí rất mạnh ở tạng Âm trong những người trì luyện Thái Âm Công.
 
Từ suy nghĩ này tôi cho bệnh nhân bị bệnh phong thấp luyện tập Thái Âm Công song song với việc dùng thuốc bổ Âm. Những người theo phương toa này có đột biến rất khả quan bệnh phong thấp hoàn toàn biến mất trong một thời gian ngắn như mơ ước.
 
Khổ nỗi Thái Âm Công rất khó luyện tập và không phải ai cũng căn cơ và điều kiện luyện tập. Vì vậy tôi chọn trong hàng chục pho khí công mà mình biết có cách thâu liễm hô hấp và phương pháp chuyển động thân thể gần giống với Thái Âm Công đem ra cho bệnh nhân ứng dụng. Kết quả cũng thật bất ngờ bệnh nhân luyện tập bộ Thiên Lý Tiêu Dao và bộ Ngũ Hành Mê Tông Bộ đều đạt được kết quả chân khí trong tạng Âm gần giống với người luyện tập Thái Âm Công.
 
Có được kết quả này tôi bắt đầu nảy ra ý tưởng nghiên cứu về vòng chân khí luân chuyễn trong những môn khí công có tác dụng Bổ Âm. Vậy là từ đó tôi đưa hết tâm huyết hiểu biết thời gian và kể cả tiền bạc để dâng hiến cho vòng luân chuyễn của khí huyết trong tạng Âm của cơ thể mà tôi gọi đó là "Vòng Thái Âm Chân Khí"..
 
(Còn Nữa)
 
____
Phụ lục:
Nhân tiện nói về Phong Thấp tôi xin hiến tặng bà con ai có bệnh hoặc có người nhà mắc bệnh Phong Thấp 2 phương toa dân gian mà tôi sưu tầm được. Hai phương pháp này có hiệu quả rất khả quan với bệnh đau nhức của phong thấp cách sử dụng an toàn dễ làm và rẽ tiền. Cái đặc biệt là khả năng thích ứng với đại đa số bệnh nhân Phong thấp.
 
Phương toa 1:
Toa Thuốc Gia Truyền Trị Bệnh Tê Bại Toàn Thân Bán Thân Đau Nhức Cột Xương Sống Thấp Khớp Nhức Mỏi.
 
1/ Trạch lan...............................4 chỉ
2/ Cam Kỷ Tử............................3 chỉ
3/ Xuyên Khung.......................2 chỉ
4/ Độc Hoạt...............................2 chỉ
5/ Hổ Cốt hay Cẩu Tích..........4 chỉ
6/ Sinh Địa ...........................4 chỉ
7/ Ngưu Tất.............................3 chỉ
8/ Nhãn Nhục.......................... 5 chỉ
9/ Quế.......................................2 chỉ
10/ Đương Quy........................3 chỉ
11/ Thục Địa........................... 2 chỉ
12/ Cam Thảo................... .....2 chỉ
13/ Đỗ Trọng......................... 4 chỉ

Ngâm với 1 lít rượu trắng 37 độ 1 lít nước suối không có gas ( hoặc 2 lít rượu vang nếu không muốn pha rượu với nước suối) 200 gr đường phèn. Ngâm độ 2 tuần hay lâu hơn càng tốt. Khi uống nhớ quậy đều lên uống sau bữa ăn trưa và tối mỗi lần một liquer nhỏ (ly uống sec). Uống mấy thang cũng được khi nào hết hẳn bệnh hãy ngưng hay uống tiếp tục càng lâu càng tốt. Nếu không uống được rượu thì nấu 4 chén còn lại 1 chén.
 
Toa thuốc này rất tốt để bổ máu và lưu thông máu huyết cho người lớn tuổi hoặc người bệnh do thiếu máu hay máu huyết ứ trệ. Đa số những người bị tê bại nhức mỏi là do máu huyết không thông đều dùng được. Chỉ cần lưu ý:
Những người có đàm thấp nhiều ví dụ có rêu lưỡi đóng trắng dầy thì uống lâu hiệu quả hơn cần phải uống thuốc trục đàm như Nhị Trần thang cho sạch đàm rồi uống mới có công hiệu nhanh. Toa thuốc này có vị Hổ Cốt rất khó tìm.
 
Toa này hiện đang được đồng bào Việt Nam ở hải ngoại tâm đắc ứng dụng nhất là ở Mỹ Pháp và Úc châu
 
Phương 2:
Bó nơi đau nhức sưng viêm bằng bắp cải.

1- Chọn một bắp cải lá to loại bắp cải lá quăn thì tốt hơn. Một ít băng gạc và một cái chai hay là cây cán bột.
 
 
2- Trải lá bắp cải lên thớt hoặc lên bàn trên tấp băng gạc
  
 
3- Lấy cái chai hoặc cây lăn bột lăn đi lăn lại chi lá bắp cải bầm dập ra
 

4- Rồi bó lên vùng sưng đau ngày bó một lần bó trước lúc đi ngủ là tốt nhất. Cũng có thể bó lưng bó vai được nhưng việc bó lá cần đòi hỏi tốn kém hơn.
 
20.01.11
QN-TN Sưu tầm và Biên soạn

More...

HỎA XA LUẬN (Phần 4 - Bàn về Đau Nhức)

By Lê Thuận Nghĩa

Tiếp theo phần 3
 
(THỐNG TÝ LUẬN)
 
Có những cơ sở lý luận khoa học đã được kiểm chứng qua nhiều lần thực nghiệm và đã được khẳng định như chân lý nhưng khi đem ứng dụng vào thực tiễn cuộc sống thì không đem lại kết quả như ý muốn. Nhất là trong lĩnh vực nghiên cứu về cơ thể học. Khi đem vận dụng những kết quả nghiên cứu về cấu tạo vật chất cơ chế sinh lý   cơ chế hóa sinh .v..v...của cơ thể học vào trong lĩnh vực sức khoẻ và đời sống thì đôi khi lại gặp những tương tác phản tác dụng.
 
Điều đó cũng không có gì là khó hiểu vì đời sống và sự sinh tồn của con người không chỉ đơn thuần là cấu tạo vật chất. Đời sống trong đó bao gồm cả vấn đề sức khỏe và tuổi thọ ngoài những cấu tạo vật chất ra còn có yếu tố tinh thần nữa.
 
Tư duy và ý chí của con người có những ảnh hưởng có tính chất quyết định đến qui luật vận động vật chất trong cơ thể. Bởi vì vậy chỉ nắm vững những cấu tạo về hóa lý sinh lý..hiểu rõ những cơ chế hoạt động và chức năng của các cơ quan trong cơ thể vẫn chưa thể nói rằng đã đầy đủ các yếu tố cần thiết để đưa ra những liệu pháp có tác dụng hữu hiệu khi những cấu tạo vật chất và cơ chế sinh lý có sự "trục trặc". Trạng thái của tinh thần khả năng tư duy sự cảm thụ từ ý thức...cũng có tác dụng quyết định đến chất lượng của đời sống. Không những thế nó còn có thể đưa cơ thể của con người ra ngoài ranh giới những qui luật vận động tất yếu của vật chất. Chính vì thế mà cơ thể của con người vẫn còn luôn luôn là một "thế giới" đầy bí hiểm cho khoa học thực nghiệm. Cũng chính vì vậy mà sự vận động của vật chất trong cơ thể con người trở nên rất huyền bí và siêu nhiên.
 
Để tránh những luận cứ có thể bị qui nạp về phạm trù duy tâm huyền bí tôi xin đưa ra những ví dụ rất thực tế trong lĩnh vực bảo vệ sức khoẻ có liên quan đến vấn đề này.
 
Ví dụ về những vết bầm dập của cơ thể do áp lực va chạm đưa lại Tây y dựa vào cơ sở lý luận về vật lý hóa học ..để đưa ra phương pháp trị liệu bằng cách chườm lạnh để điều trị. Họ cho đó là phương pháp tất yếu có thể co kết khối bầm lại và chống lại được con đau do bị tổn thương. Đông y thì xử lý hoàn toàn ngược lại dựa vào cơ chế vận khí và hoạt huyết (một cơ chế không có trong hệ nhận thức của khoa học thực nghiệm). Đông y xử lý hiện tượng tổn thương này bằng cách chườm nóng. Nếu bạn là một Đông y sĩ làm việc trong một ê kíp Bác sĩ tây y đưa ra phương pháp chườm nóng như lăn trứng gà luộc chườm muối hoặc xoa dầu nóng vào vùng lân cận mắt khi bị bầm đen do va chạm thì bạn sẽ bị đồng nghiệp Tây y phán bạn là "đồ điên" "đồ ngu xuẩn" ngay. Với họ phương pháp xử lý gần như tất nhiên là chườm nước đá. Về kết quả phương pháp chườm đá lạnh có tác dụng cắt cơn đau tạm thời các khối bầm không lan rộng ra nhiều và có xu hướng co kết lại nhờ vào hơi lạnh nhưng khi hết chườm lạnh thì cơn đau lại tại phát lại và vết bầm có thể sẽ rất lâu tan hết.  Kết quả của phương pháp chườm nóng thì không tạm thời cắt được cơn đau đôi khi lại còn đau thêm nữa nhưng khi thôi chườm nóng thì cơn đau lại giảm dần và vết bầm tan đi rất nhanh do sức nóng có thể kích thích sự sự hoạt huyết và vận khí mạnh của cơ thể để đánh tan vết bầm. Đây là một ví dụ rất đơn giản nhưng thực ra đã khái quát lên được điểm khác biệt về liệu pháp giữa Đông y và Tây y.
 
Một ví dụ khác tương tự như trên là hiện tượng bị trặc gân trẹo gân do vận động sai mà hiện tượng thường gặp nhất là trặc khuỷu chân mắt cá trẹo đầu gối hay khớp bàn tay .... Tây y thì cứ phải chườm đá lạnh liên tục hoặc xử lý với các loại bình xịt hơi  làm tê lạnh cục bộ kết quả sau khi chườm lạnh có thể tạm thời vận động được dễ dàng ngay lúc đó nhưng sự đau nhức có thể bị kéo dài thành nhiều tháng và nhiều khi có thể trở thành kinh niên đau nhức khi thời tiết thay đổi. Cũng hiện tượng này Đông y lại xử trí bằng cách làm nóng bằng cách bó loại dược thảo có tính chất cực nhiệt xoa bóp bằng dầu nóng bằng rượu mạnh như rựợu ngâm mã tiền rượu mật gấu...(xử lý hiện tượng này không có liệu pháp nào của Tây y có thể sánh bằng các phương pháp bó lá lưỡi hổ hoặc xoa rượu mã tiền của các thầy trật đả nhà ta cả- Lá lưỡi hổ xào với muối bó vào chổ trẹo gân nóng có khi còn bỏng rộp cả da rượu ngâm mã tiền rượu mật gấu là các loại cực nóng). Kết quả của phương pháp trật đã không những gân cơ hồi phục nhanh mà cơn đau cũng chấm dứt vĩnh viễn.
 
Tây y lý luận rằng lúc bị trật trẹo gân chằng có thể bị trượt giãn ra hoặc bị rạn đứt vì vậy cần phải chườm lạnh để cho gân cơ co lại (nóng nở ra lạnh co lại của qui luật vật lý). Kết quả hồi phục chậm cơn đau dai dẳng. Đông y cho rằng chườm nóng để hoạt huyết vận khí tích cực để đưa nhanh cách chất bồi bổ và khí lực đến để trị liệu. Kết quả đương nhiên tích cực hơn.
 
Một hiện tượng bệnh lý khác Tây y dựa vào các kết quả nghiên cứu về cấu tạo hệ thần kinh và cơ chế hoạt động của nó để xác định đó là bệnh Suy nhược thần kinh (depression). Khi bệnh nhân có hiện tượng mất ngủ thường xuyên tình thần bạc nhược uể oải tâm trạng lo âu sợ hãi chán chường không có hứng thú với cuộc sống trầm cảm chán ghét giao tiếp lảm nhảm cằn hằn tính tình khó chịu hồi hộp bồn chồn đôi khi còn có đau đầu chóng mặt đêm nằm ác mộng la hét thất kinh....Họ cho rằng nguyên nhân do Thần kinh bị tổn thương bị suy yếu..bệnh thuộc về tâm lý (Physioloie). Xác định nguyên nhân bệnh như vậy nghe ra quá khoa học quá hợp lý còn gì nữa. Vậy là liệu pháp tối ưu nhất của Tây y là các loại hóa dược an thần thuốc ngủ thuốc xoa dịu thần kinh thuốc kích thích.. v..v..kết quả là liều lượng thuốc uống ngày càng cao uống mãi cho đến trở thành con nghiện..kết quả là bệnh nhân trở thành con bệnh tâm thần kinh niên và đôi khi trở thành nạn nhân của việc tự sát do bị trầm cảm hay là lên cơn nghiện thuốc.
 
Đông y xác định nguyên nhân bệnh này hoàn toàn khác với Tây y khác đến nổi Tây y không thể nào chấp nhận được những cơ sở lý luận "phi khoa học" như thế. Nhưng kết quả của những phương toa trị liệu chứng này của Đông y thì lại làm cho Tây y coi đó là "phép mầu nhiệm của Thượng Đế".
 
Đông y không coi bệnh này thuộc về tâm lý hay bệnh về thần kinh mà họ xác định đó là chứng Tâm Thận bất giao hay còn gọi là chứng Thủy hỏa vị tế có nghĩa là chứng bệnh khí huyết giữa Thận và Tim không lưu thông giao hòa với nhau. Theo y lý á đông thì Tim thuộc về Hỏa khí (Lửa) Thận thuộc về Thủy khí (Nước). Thủy Hỏa tuy khắc chế lẫn nhau nhưng chúng cần có nhau giao lưu với nhau để điều tiết và cân bằng lẫn nhau. Nếu do nguyên nhân gì đó thận khí không giao lưu được với tâm khí thì dẫn đến thủy hỏa rời nhau không khống chế được nhau cho nên gọi là Thủy Hỏa vị tế. Do khí Thận thủy không bốc lên cao để kiềm chế Tâm hỏa cho nên khí hỏa mới vượng loạn hại Tâm (tim) cho nên mới sinh ra chứng bồn chồn lo âu mất ngủ hoảng loan sợ sệt...đau đầu huyễn tượng vân..vân... Nguyên nhân của chứng này đa số là do Thận dương suy kế đến Tâm hư và có thể là do khí huyết của kinh Tam tiêu bị bế tắc. Liệu pháp là tùy chứng mà ra toa bổ thận hay bổ tâm hoặc đả thông Tam tiêu là được. Các toa cường dương tráng thận toa Thiện vương bổ tâm...đều có kết quả rất hữu hiệu cho chứng này.
 
Có một căn bệnh do Tây y quá lệ thuộc vào các cơ sở của thực nghiệm cho nên đến bây giờ Tây y vẫn chưa tìm ra được nguyên nhân và cơ chế gây bệnh vì vậy bệnh này trở thành một chứng nan y đối với Tây y. Nhưng đối với Đông y thì bệnh này xử lý rất đơn giản bằng những cơ sở lý luận mà Tây y cho rằng cũng không có cơ sở khoa học. Tuy vậy trong tất cả các liệu pháp đưa ra để chống lại hội chứng này ở trong các tài liệu y khoa hiện đại người ta đều trân trọng chấp nhận các liệu pháp châm cứu khí công và thảo dược của Đông y là tối ưu nhất. Đó là hội chứng đau nhức thần kinh gân cơ (Nhục Thống Tý) mà từ Y học gọi là bệnh Fibromyalgie (Faser-Muskel-Schmerz). Tây y định nghĩa bệnh này là "một chứng bệnh kinh niên không rõ nguyên nhân và không có khả năng điều trị.."( Tiếng Đức trong từ điển y khoa: Die Fibromyalgie (Faser-Muskel-Schmerz) ist eine schwere chronische unklar Usache nicht heilbare Erkrankung )
 
Quá trình nghiên cứu về bệnh này của Tây y trải qua rất nhiều thời kỳ và khái niệm về bệnh lý bị thay đổi liên tục qua khi là nó là cái này khi nó là cái kia và hiện nay đã đưa đến kết luận khá mơ hồ và đành phải chấp nhận phương pháp trị liệu bị động dùng các hoá dược để tạm thời dập tắt triệu chứng.
 
Bệnh Fibromyalgie đã được giới y học Tây phương nghiên cứu từ thế kỷ thứ 18 dưới nhiều tên gọi khác nhau như bệnh phong thấp cơ hay bệnh viêm xơ (sợi thần kinh) (rhumatisme musculaire ou fibrositis) thường gặp ở phụ nữ có bệnh tâm thần phân liệt nó được coi là bệnh tâm thần lẫn trầm cảm ở thập niên 70-80

Năm 1981 Bác Sĩ Muhammad B. Yunus là người đầu tiên thử nghiệm kiểm soát các triệu chứng của bệnh qua xét nghiệm máu.

Thuật ngữ đặt tên cho bệnh này là: Hội chứng đau nhức tự phát lan tỏa khắp cơ thể (diffuse idiopathic syndrome polyalgique=SPID) do Giáo Sư Kahn đề xướng nhưng trong Kỳ Đại Hội Y Tế Thế Giới năm 1976 đã chọn thuật ngữ Anglo-Saxon Fibromyalgie để có thể mô tả các triệu chứng đúng hơn (theo tiếng Latin và Hy Lạp fibra là chất xơ sợi thần kinh myo là bắp thịt algos là đau đớn)

Nguyên nhân gây ra bệnh này chưa được thống nhất ủy ban chuyên khoa của Đại Học Chuyên Khoa Thấp Khớp Hoa Kỳ đưa ra một lý thuyết để xác định tiêu chuẩn bệnh dựa trên một rối loạn gây ra bởi xáo trộn hormon trong hệ thần kinh giao cảm trung ương trong khi đó Tổ Chức Y Tế Thế Giới năm 1992 công nhận nó là bệnh Thấp Khớp mà trước đó các bác sĩ coi là bệnh Tâm Thần (maladie psychiatrique) rất hiếm chỉ xảy ra ở các bệnh nhân nữ giới.

Từ năm 1995 bệnh loại này càng thấy nhiều đặc biệt vào năm 2000 có nhiều người trẻ dưới 30 tuổi và trong nam giới cũng có người mắc phải. Trước kia bệnh fibromyalgie được phân loại bệnh theo tiêu chuẩn quốc tế (classification internationale des maladies =CIM) dưới mã số M.70.0 là loại bệnh thấp khớp không rõ ràng. Năm 2006 nhiều nghiên cứu so sánh kết qủa của MRI cho thấy hoạt động của não khác nhau giữa những người bị bệnh và người không bị bệnh do đó nguyên nhân của bệnh này được gọi là bệnh tâm thần hay bệnh thuộc tâm lý thần kinh cũng đã bị loại trừ nên mã số của bệnh đổi lại là M 79.7

Trung bình từ 2-10% dân số toàn cầu của các nước công nghiệp bị bệnh này riêng tại Gia Nã Đại được thống kê năm 2008 có khoảng 900.000 người mắc bệnh ở Hoa Kỳ 2% dân mắc bệnh này đa số là nữ giới nam giới chiếm 0 5%

Từ năm 1990 trường đại học chuyên khoa thấp khớp Hoa Kỳ đã nghiên cứu tìm được 18 điểm đau đặc biệt của bệnh này. Tuy nhiên cũng rất khó chính xác nếu thiếu sót những thử nghiệm khác của phòng xét nghiệm y khoa vì những điểm đau ấy cũng có mặt trong các bệnh khác như viêm khớp loãng xương....vì thế trường đại học chuyên khoa thấp khớp Hoa Kỳ (ACR) đã xếp thành tiêu chuẩn định bệnh (tiêu chuẩn "ACR 1990") căn cứ vào những dấu hiệu triệu chứng lâm sàng theo thống kê 18 điểm đau
 
-Một quá trình cơn đau lan ra toàn thân trong thời gian hơn 3 tháng ảnh hưởng đến tứ chi
 
-Trong 18 điểm đau này các bác sĩ phải ấn đè vào một lực (từ 39 Newtons) bệnh nhân sẽ cảm nhận được có bao nhiêu điểm đau trong 18 điểm đau nếu có hơn 11 điểm đau mới xác định là có bệnh Fibromyalgie

-Các hình thức đau mãn tính có cảm giác ở chỗ đau như bầm máu cháy phỏng đứt đè nặng...thường xuyên ở tứ chi và lưng. Dấu hiệu này kéo dài suốt cả ngày cả tuần cả tháng cả năm

-Đau cơ bắp đau xương khớp đau nóng gan bàn chân bàn tay đau gân mệt thể xác và tinh thần tâm trạng trống rỗng nhìn không đâu mất kiên nhẫn dễ nổi cáu khi bị va chạm do căng thẳng do tiếng động ồn ào do ánh sáng do sự hiện diện của người khác do mùi hôi mùi thức ăn...

-Bị trầm cảm có ý nghĩ chán đời muốn tự tử cơ thể thiếu chất bột (glucid carbohydrates) nên hay ưa ăn bánh ngọt bánh mì khoai tây chiên... mắt khô nóng như phỏng rối loạn trí nhớ rối loạn tiêu hóa (đánh rắm tiêu chảy) khó ngủ không tập trung nặng hơn khi bị đói hay thiếu đường chân tay run yếu sức cảm giác đau nhức toàn thân.

Những rối loạn trên thường kết hợp với bệnh thuộc tiêu hóa trường vị làm đau đầu

Những xét nghiệm y khoa thấy có sự bất thường của chất não tủy ở bệnh nhân mức độ chất P một chất dẫn truyền thần kinh có liên quan đến nhận thức của sự đau đớn sự hiện diện của chất chuyển hóa để tạo ra chất giảm đau như monoamines serotonine noradrénaline dopamine bị giảm trong khi đó nồng độ tập trung chất nội sinh như chất á phiện (endorphine enképhaline) gần như cao hơn bình thường như vậy yếu tố tăng trưởng thần kinh đã được chứng minh tạo ra chất tham gia vào các cấu trúc liên quan đến não tủy giữa não và cột sống tủy và cả sự gia tăng acide amine trong chất lỏng não tủy chứng minh rằng có sự liên hệ mức độ chuyển hóa của glutamate và oxyde nitrique và những cảm giác đau. Xem hình ảnh của những phản ứng của chức năng não thấy giảm lưu lượng máu ở đồi não ở những hạch dưới đáy não và giữa não.

Rất nhiều nghiên cứu thử nghiệm thấy rằng bệnh fibromyalgie càng gia tăng cái đau khi bị tăng áp lực tăng nhiệt nóng qúa hay lạnh qúa hoặc nhạy cảm với điện hay hóa chất. Những thử nghiệm khác nhau trên hệ thống thần kinh điều chỉnh giảm cơn đau của hệ thần kinh ức chế cho thấy những phản ứng có thay đổi được lập đi lập lại và làm giảm đi hay mất đi phản ứng giảm đau dẫn từ sự gắng sức của thể lực những bằng chứng này cho thấy sự xáo trộn của hệ thống thần kinh trung ương.

Nghiên cứu đến như vậy nhưng hiện nay bệnh fribromyalgie Tây y vẫn chưa có hướng điều trị tận gốc tạm thời chữa vào triệu chứng là những hậu qủa tất yếu của bệnh qua những thử nghiệm đang nghiên cứu để tìm nguyên nhân gây bệnh.
 
Về phía Đông y thì xác định bệnh chứng này khá đơn giản. Đông y cho rằng đây là chứng đau nhức thần kinh gân cơ (Nhục thống tý) nguyên nhân do Khí hư Huyết trệ phương pháp điều trị là tùy chứng mà bổ huyết thông khí ở chỗ nào là được. Đơn giản vậy thôi.
 
Giới Khí công của Đông y thì đây là một chứng Tinh sai Khí thiếu Thần hư (Tinh-Khí-Thần). Liệu pháp là luyện tập dưỡng sinh để điều tinh hoạt khí và tụ thần là xong. Quá đơn giản!!!
 
Tôi dài dòng đưa ra những ví dụ đơn giản trên để minh chứng cho luận cứ mà tôi đã nêu ra ở phần trước rằng phải đến lúc cần phải xem xét lại những lý luận sai lầm về cơ bản cho liệu pháp trị liệu đau nhức của Tây y.
  
Đưa ra những ví dụ đó để chứng minh lập luận của tôi có cơ sở chứ không phải vì hoang tưởng loạn ngôn để phê phán sự sai lầm của một nền khoa học hiện đại có nền tảng nghiên cứu của những khối óc trác tuyệt từ hàng ngàn năm nay. Đối với hội chứng đau nhức Y học hiện đại (Tây Y) đến nay vẫn chỉ dừng lại ở những hiểu biết như đối với bệnh Fibromyalgie nói trên mà thôi
 
Đối với đau nhức Tây y và Khoa học đã giãi mã được cơ chế gây nên  sự cảm thụ đâu nhức bằng những nghiên cứu về cấu tạo của hệ thần kinh và cơ chế của cơn đau. Nhưng khi xác định liệu pháp điều trị họ lại chỉ dựa vào cơ chế của cơn đau để tìm cách phá bỏ hoặc cắt đứt cái cơ chế gây đau đó (Đó là dập tắt triệu chứng). Chứ họ không loại bỏ nguyên nhân gây ra hiện tượng bắt buộc cơ thể phải có cảm thụ đau thái quá. Muốn không có cơ chế đau xảy ra liên tục triền miên thì phải loại bỏ nguyên nhân gây nên kích thích cảm thụ đau chứ không phải chỉ cần cắt cơn đau là được. Có lẽ từ sai lầm   lầm tưởng Triệu chứng (biểu hiện của cơ chế cảm thụ đau) là Nguyên nhân nên Tây y mới phải luẩn quẩn hàng ngàn năm nay mà vẫn không tìm ra liệu pháp hữu hiệu chống đau nhức chăng?
 
Bây giờ chúng ta hãy tìm hiểu khái niệm về đau nhức của Tây y và Đông y như thế nào thì khi đó chúng ta mới thấu rõ được tại vì sao cơ sở Lý luận của Đông Y mà Tây y khó chấp nhận vì cho là mơ hồ "thiếu khoa học" lại có được những kết quả tích cực mà Tây y phải chấp nhận như những "phép mầu".
 
A- Quan niệm về đau nhức của Y học hiện đại (Tây Y)
  

Đau được định nghĩa là cảm giác tạo ra bởi hệ thống thần kinh khi có tác động tại các thụ cảm thể nhận cảm giác đau (tiếng Anh: nociceptor). Đau nhức thuộc về phạm trù cảm giác của từng cá nhân
 
Đau là một yếu tố quan trọng của sự sinh tồn. Nhờ biết đau mà con vật có phản ứng theo phản xạ hay kinh nghiệm tránh để không tiếp tục bị chấn thương.
 
Cơ sở của cảm giác đau bao gồm 2 cơ sở chính: Cơ sở sinh học Cơ sở tâm lý
1) Cơ sở sinh học:
  
Cơ sở sinh học của cảm giác đau bao gồm cơ sở giải phẫu sinh lý sinh hóa nó là lý luận cơ bản để cho phép giải mã được tính chất thời gian cường độ và vị trí của cảm giác đau. Cảm giác đau xuất hiện tại vị trí tổn thương là một phản xạ tích cực để cơ thể phản xạ đáp ứng lại nhằm loại trừ tác nhân gây đau.
 
Cơ chế nhận cảm đau là: Cảm thụ thể => Sự dẫn truyền cảm giác đau từ ngoại vi vào tủy sống => Sự dẫn truyền cảm giác đau từ tủy sống lên não => Trung tâm nhận cảm đau
 
a) Thụ cảm thể
: bắt đầu từ các thụ cảm thể phân bố khắp nơi trong cơ thể gồm các loại thụ cảm thể nhận cảm đau thuộc cơ học hóa học nhiệt và áp lực.
 
Các chất trung gian hóa học: Cơ chế nhận cảm đau của các thụ cảm thể chưa được biết rõ ràng. Có thể các tác nhân gây đau đã kích thích các tế bào tại chỗ giải phóng ra các chất trung gian hóa học như các kinin (bradykinin serotonin histamin) một số prostaglandin chất P... Các chất trung gian này sẽ tác động lên thụ cảm thể nhận cảm đau làm khử cực các thụ cảm thể này và gây ra cảm giác lan truyền đau.
 
b) Sự dẫn truyền cảm giác đau từ ngoại vi vào tủy sống
Sự dẫn truyền cảm giác từ ngoại vi vào tủy sống do thân tế bào neuron thứ nhất nằm ở hạch gai rễ sau đảm nhiệm. Các sợi thần kinh dẫn truyền cảm giác (hướng tâm) gồm các loại có kích thước và tốc độ dẫn truyền khác nhau như sau:
  
Các sợi Aα và Aβ (týp I và II) là những sợi to có bao myelin tốc độ dẫn truyền nhanh chủ yếu dẫn truyền cảm giác bản thể (cảm giác sâu xúc giác tinh).
  
Các sợi Aδ (týp III) và C là những sợi nhỏ và chủ yếu dẫn truyền cảm giác đau nhiệt và xúc giác thô. Sợi Aδ có bao myelin mỏng nên dẫn truyền cảm giác đau nhanh hơn sợi C không có bao myelin. Vì vậy người ta gọi sợi Aδ là sợi dẫn truyền cảm giác đau nhanh còn sợi C là sợi dẫn truyền cảm giác đau chậm.
    
c) Sự dẫn truyền cảm giác đau từ tủy sống lên não
Đường dẫn truyền cảm giác đau nhiệt và xúc giác thô (sợi Aδ và C) đi từ rễ sau vào sừng sau tủy sống ở đó các axon của neurone thứ nhất hay neurone ngoại vi kết thúc và tiếp xúc với neurone thứ hai trong sừng sau tủy sống theo các lớp khác nhau (lớp Rexed). Các sợi Aδ tiếp nối synapse đầu tiên trong lớp I (viền Waldeyer) và lớp V trong khi sợi C tiếp nối synapse đầu tiên trong lớp II (còn gọi là chất keo Rolando)
 
Các sợi trục của neurone thứ hai này chạy qua mép xám trước và bắt chéo sang cột bên phía đối diện rồi đi lên đồi thị tạo thành bó gai thị.
 
Bó tân gai thị: dẫn truyền lên các nhân đặc hiệu nằm ở phía sau đồi thị cho cảm giác và vị trí.
 
Bó cựu gai thị: dẫn truyền lên các nhân không đặc hiệu và lên vỏ não một cách phân tán.
 
Bó gai lưới thị: bó này có các nhánh qua thể lưới rồi từ thể lưới lên các nhân không đặc hiệu ở đồi thị có vai trò hoạt hóa vỏ não
 
d) Trung tâm nhận cảm đau
Đồi thị (thalamus) là trung tâm nhận cảm đau trung ương có các tế bào thuộc neurone cảm giác thứ ba. Khi có tổn thương đồi thị xuất hiện cảm giác đau đồi thị rất đặc biệt ở nửa người bên đối diện (hội chứng thalamic): cảm giác lạnh hoặc nóng bỏng rất khó chịu hành hạ mà bệnh nhân khó có thể mô tả và khu trú được; đau thường lan tỏa và lan xiên; không đáp ứng với các thuốc giảm đau thông thường; đôi khi lúc ngủ lại đau nhiều hơn vận động thì giảm. Khám cảm giác nửa người bên đối diện với tổn thương thấy hiện tượng loạn cảm đau (hyperpathic).

Từ neurone thứ ba ở đồi thị cho các sợi họp thành bó thị vỏ đi qua 1/3 sau của đùi sau bao trong qua vành tia tới vỏ não hồi sau trung tâm (hồi đỉnh lên vùng SI và SII) và thùy đỉnh để phân tích và ra quyết định đáp ứng:

Vùng SI phân tích đau ở mức độ tinh vi.
Vùng SII phân biệt về vị trí cường độ tần số kích thích (gây hiệu ứng vỏ não).
  
2 Cơ sở tâm lý: bao gồm có Yếu tố cảm xúc Yếu tố nhận thức Yếu tố hành vi thái độ
a)Yếu tố cảm xúc
Cảm xúc có tác dụng trực tiếp lên cảm giác đau làm đau có thể tăng lên hay giảm đi. Nếu cảm xúc vui vẻ thoải mái có thể làm đau giảm đi ngược lại nếu cảm xúc khó chịu bực dọc buồn chán... có thể làm đau tăng thêm. Thậm chí trong một số trường hợp yếu tố cảm xúc còn được xác định là một nguyên nhân gây đau ví dụ ở người bị bệnh mạch vành nếu bị cảm xúc mạnh có thể dẫn đến bị lên cơn đau thắt ngực cấp tính. Ngược lại đau lại có tác động trở lại cảm xúc nó gây nên trạng thái lo lắng hoảng hốt cáu gắt...
 
b) Yếu tố nhận thức
Nhận thức đóng vai trò quan trọng ảnh hưởng lên quá trình tiếp nhận cảm giác nói chung và cảm giác đau nói riêng. Từ những quan sát cổ điển của Beecher người ta biết ảnh hưởng của sự biểu hiện mức độ đau tương ứng với bệnh lý: Nghiên cứu so sánh hai nhóm người bị thương là nhóm quân nhân và nhóm dân sự với những tổn thương giống nhau Beecher quan sát thấy nhóm quân nhân ít kêu đau hơn và đòi hỏi ít thuốc giảm đau hơn. Giải thích sự khác nhau này giữa hai nhóm là do chấn thương đã mang lại những ý nghĩa hoàn toàn khác nhau: biểu hiện tích cực ở nhóm quân nhân (được cứu sống kết thúc việc chiến đấu được xã hội quý trọng...) còn ở nhóm dân sự thì có biểu hiện tiêu cực (mất việc làm mất thu nhập mất đi sự hòa nhập với xã hội...).


c) Yếu tố hành vi thái độ
Bao gồm toàn bộ những biểu hiện bằng lời nói và không bằng lời nói có thể quan sát được ở bệnh nhân đau như than phiền điệu bộ tư thế giảm đau mất khả năng duy trì hành vi bình thường. Những biểu hiện này có thể xuất hiện như phản ứng với tình trạng đau cảm nhận được chúng tạo nên những dấu hiệu phản ánh tầm quan trọng của vấn đề đau và cũng đảm bảo chức năng giao tiếp với những người xung quanh. Những biểu hiện này phụ thuộc vào môi trường gia đình và văn hóa dân tộc chuẩn mực xã hội tuổi và giới của cá thể. Những phản ứng của người xung quanh có thể ảnh hưởng đến nhân cách ứng xử của bệnh nhân đau và góp phần vào tình trạng duy trì đau của họ.
 

3) Các loại đau nhức được phân loại: Phân loại theo cơ chế gây đau Phân loại theo thời gian và tính chất đau Phân loại đau theo khu trú.
a) Phân loại theo cơ chế gây đau bao gồm:
- Đau do cảm thụ thần kinh (nociceptive pain)[2].
- Đau do nguyên nhân thần kinh (neuropathic pain)[2].
- Đau do căn nguyên tâm lý (psychogenic pain)[3].
  
-  Đau do cảm thụ thần kinh (nociceptive pain)
Đau do cảm thụ thần kinh là đau do thái quá về sự kích thích nhận cảm đau tổn thương mà bắt đầu từ các thụ cảm thể nhận cảm đau tổn thương rồi dẫn truyền hướng tâm về thần kinh trung ương; là cơ chế thường gặp nhất trong phần lớn các chứng đau cấp tính (chấn thương nhiễm trùng thoái hóa...). ở giai đoạn mạn tính người ta nhận thấy cơ chế này có trong những bệnh lý tổn thương dai dẳng ví dụ như trong các bệnh lý khớp mạn hay trong ung thư.
Đau do cảm thụ thần kinh thường nhạy cảm với các thuốc giảm đau ngoại vi hay trung ương và các phương pháp phong bế vô cảm.
 
- Đau do nguyên nhân thần kinh (neuropathic pain)
Một số trường hợp đau xảy ra trong bệnh cảnh di chứng tổn thương hay cắt đoạn thần kinh ngoại vi (như trong hiện tượng chi ma zona đau dây V cắt đoạn thần kinh liệt hai chân...). Hiện tượng này được giải thích bằng cơ chế lạc đường dẫn truyền vào như sau:
Sau tổn thương hay cắt đoạn các đường hướng tâm ngoại vi các neurone ở sừng sau tủy sống hay trên tủy có thể trở nên tăng nhạy cảm do những cơ chế còn chưa biết rõ. Có thể là: do suy giảm sự ức chế do bộc lộ các đường kích thích tăng nhạy cảm của những đầu thần kinh bị cắt đoạn sự dẫn truyền qua lại giữa các sợi kề nhau từ sợi này qua sợi khác mọc chồi thần kinh giao cảm... Tính chất đặc biệt của các hiện tượng đau là do yếu tố giao cảm bị lôi cuốn vào quá trình bệnh lý (đau giao cảm). Theo M.I Axtvatxaturop đau cháy là kết quả của kích thích quá mức đồi thị. Đây là một điển hình về cơ chế đau trung ương đối lập với đau do thái quá nhận cảm đau tổn thương do kích thích ngoại vi.

Tuy nhiên thực tế tính phức tạp của cơ chế là vừa trung ương vừa ngoại vi nên người ta thường dùng thuật ngữ đau do nguyên nhân thần kinh (neuropathic) hay đau do bệnh lý thần kinh mà không nghiêng về phần ngoại vi hay trung ương của chứng đau.
Ngoài ra trong lâm sàng còn thường gặp chứng đau hỗn hợp (mixed pain) bao gồm cả cơ chế đau nhận cảm và đau thần kinh.
 
- Đau do căn nguyên tâm lý (psychogenic pain)
Đau do căn nguyên tâm lý có đặc điểm: là những cảm giác bản thể hay nội tạng ám ảnh nhiều hơn là đau thực thụ với sự mô tả phong phú không rõ ràng hoặc luôn thay đổi và thường lan tỏa triệu chứng học không điển hình. Đau chỉ mất khi người bệnh tập trung chú ý một vấn đề gì đó thuốc chống đau không có tác dụng với loại đau này. Thường gặp trong các trường hợp như: bệnh hysteri bệnh rối loạn cảm xúc (trầm cảm) tự kỷ ám thị về bệnh tật bệnh tâm thần phân liệt... Khi phát hiện ra những trường hợp đau do căn nguyên tâm lý cần gửi bệnh nhân đến với các thầy thuốc chuyên khoa tâm lý hay tâm thần để điều trị.
 
- Đau trong bệnh trầm cảm (depression)
là hội chứng rất hay gặp. Nhiều trường hợp trầm cảm là hậu quả của một bệnh đau thực thể có trước sau đó chính trầm cảm quay trở lại làm bệnh lý đau ngày càng tồi tệ hơn tạo nên một vòng xoắn bệnh lý. Bệnh nhân có thể có triệu chứng đau rất đa dạng không phù hợp với tổn thương thực thể sẵn có kèm theo mệt mỏi lo bệnh mất ngủ giảm khả năng làm việc điều trị nhiều nơi không có kết quả. Điều trị các kiểu đau này cần dùng thuốc chống trầm cảm kết hợp với tâm lý liệu pháp.
  
b) Phân loại theo thời gian và tính chất đau.
- Đau cấp tính:
Đau cấp tính (acute pain) là đau mới xuất hiện có cường độ mạnh mẽ có thể được coi là một dấu hiệu báo động hữu ích. Đau cấp giúp việc chẩn đoán cần thiết nhằm xác định chứng đau có nguồn gốc thực thể hay không.
Đau cấp tính bao gồm:
Đau sau phẫu thuật (post operative pain).
Đau sau chấn thương (pain following trauma).
Đau sau bỏng (pain following burn).
Đau sản khoa (obstetric pain).
Đau mạn tính.

- Ngược lại với đau cấp tính đau mạn tính (chronic pain) là chứng đau dai dẳng tái đi tái lại nhiều lần. Nó làm cho cơ thể bị phá hủy về thể lực và cả về tâm lý và xã hội. Bệnh nhân đau mạn tính thường đi điều trị nhiều nơi với nhiều thầy thuốc và các phương pháp điều trị khác nhau nhưng cuối cùng chứng đau vẫn không khỏi hoặc không thuyên giảm. Điều đó làm cho bệnh nhân lo lắng và mất niềm tin và làm cho bệnh tình ngày càng trầm trọng hơn.
Đau mạn tính bao gồm:
Đau lưng và cổ (back and neck pain).
Đau cơ (muscular pain).
Đau sẹo (scar pain).
Đau mặt (facial pain).
Đau khung chậu mạn tính (chronic pelvic pain).
Đau do nguyên nhân thần kinh (neuropathic pain)...
Theo quy ước cổ điển người ta ấn định giới hạn phân cách đau cấp và mạn tính là giữa 3 và 6 tháng. Có thể so sánh đau cấp và đau mạn như sau:
  
Đau cấp:
Mục đích sinh học: Có ích - Bảo vệ Vô ích
Cơ chế gây đau:  Đơn yếu tố
Phản ứng của cơ thể: Phản ứng lại
Yếu tố cảm xúc: Lo lắng
Hành vi thái độ: Phản ứng
Kiểu mẫu Y học kinh điển: Đa chiều thực thể
Mục đích điều trị: Chữa khỏi
  
Đau mạn:
Mục đích sinh học: Bảo vệ Vô ích
Cơ chế gây đau: Đa yếu tố
Phản ứng của cơ thể: Thích nghi dần
Yếu tố cảm xúc : Trầm cảm
Hành vi thái độ: Tìm hiểu
Kiểu mẫu Y học kinh điển: Tâm lý - xã hội
Mục đích điều trị: Tái thích ứng

- Đau ung thư và HIV.
 
*Đau ung thư:
Có thể là đau mạn tính hoặc cấp tính do sự xâm lấn và đè ép của tế bào ung thư vào mô lành gây tổn thương mô và kích thích thụ cảm thể thân thể và nội tạng. Đau có tính chất đau nhức đập nẩy dao đâm chật chội day dứt...
Có thể như chứng đau thần kinh (trung ương hoặc ngoại vi): đau bỏng rát ù tai hoặc tê liệt đau xé đau điện giật...
*Đau do bệnh HIV:
Hệ tiêu hóa: đau miệng họng nấm miệng loét miệng đau và khó nuốt đi lỏng...
Hệ thần kinh: đau đầu đau thần kinh ngoại vi không đối xứng đau đa dây thần kinh.
Hệ cơ xương: viêm khớp đau khớp và cơ do nhiều nguyên nhân khác...


c) Phân loại đau theo khu trú.
- Đau cục bộ (local pain).
Là khi khu trú đau cảm thấy trùng với khu trú quá trình bệnh lý. Chẳng hạn trong viêm dây thần kinh đau cảm thấy suốt dọc dây thần kinh tương ứng đúng với vị trí giải phẫu của dây thần kinh đó.
 
- Đau xuất chiếu (referred pain).
Là khu trú đau không trùng với khu trú của kích thích tại chỗ trong hệ cảm giác. Ví dụ trong chấn thương hoặc u ở vùng đầu gần trung tâm của thân thần kinh cảm giác đau lại xuất hiện ở vùng phân bố của đầu ngoại vi xa trung tâm của dây thần kinh đó.
Như trong chấn thương thần kinh trụ ở vùng khớp khuỷu lại thấy đau ở ngón tay IV và V; kích thích các rễ sau cảm giác của tủy sống gây đau xuất chiếu (đau bắn tia) ở các chi hoặc vành đai quanh thân mà rễ thần kinh đó chi phối.

Một ví dụ nữa về đau kiểu này là hiện tượng đau "chi ma" ở người bị cắt cụt chi thể sự kích thích những dây thần kinh bị cắt đứt ở mỏm cụt gây một cảm giác ảo đau ở bộ phận ngoại vi của chi mà thực tế không còn nữa.
 
-Đau lan xiên.
Là cảm giác đau gây ra do sự lan tỏa từ một nhánh dây thần kinh này sang một nhánh thần kinh khác. Ví dụ khi kích thích đau ở một trong ba nhánh của dây thần kinh sinh ba (dây V) có thể đau lan sang vùng phân bố của hai nhánh kia; một trong những triệu chứng ung thư thanh quản có thể là đau tai do kích thích dây thần kinh thanh quản trên (là một nhánh của dây X cảm giác của thanh quản) đau lan sang vùng nhánh tai cũng của dây X phân bố cho phần sau của ống tai ngoài.

- Đau phản chiếu (reflected pain).
Cũng là một kiểu đau lan xiên nhưng ở đây kích thích đau xuất phát từ nội tạng được lan xiên đến một vùng da nào đó. Hiện tượng này được giải thích bằng thuyết phản chiếu (còn gọi là cơ chế phản xạ đốt đoạn): Tại lớp V sừng sau tủy sống có những neurone đau không đặc hiệu gọi là neurone hội tụ tại đây sẽ hội tụ những đường cảm giác đau hướng tâm xuất phát từ da cơ xương và vùng nội tạng làm cho não khi tiếp nhận thông tin từ dưới lên sẽ không phân biệt được đau có nguồn gốc ở đâu và thường được hiểu nhầm là đau xuất phát từ vùng da tương ứng. Kiểu đau này mang tên hiện tượng cảm giác - nội tạng còn khu vực da xuất hiện đau gọi là vùng Zakharin Head.
  

B) Quan niệm đau nhức của Y học cổ truyền Á đông (Đông Y)
 
Đau nhức Đông y gọi là chứng Thống Tý (Đau tê) chứng đau nhức theo lý luận của Đông Y  chỉ xác định như chứng đau nhức của Phong Thấp. Được chia làm các thể sau:
1.Hành thống (đau di chuyển khắp nơi)
2.Tý thống ( đau buốt tê)
3.Trước thống (đau bại xuội)
4.Nhiệt thống (đau do uất kết phát nhiệt)
 
Nguyên nhân là do chính khí bị suy hư tà khí lộng hành gây nên khí hư huyết uất trệ khí huyết không lưu thông bị bế tắc trong huyết mạch mà gây nên đau nhức và tê buốt. Chủ yếu là do bốn loại tà khí "Phong" "Hàn" "Thấp" "Nhiệt" (Gió Lạnh Ẩm Nóng) thừa cơ xâm nhập kinh lộ cơ nhục khớp xương làm tổn thương huyết mạch và kinh mạch mà gây nên. Biện pháp trị liệu là hoạt huyết đả thông kinh mạch khu trục các loại tà khí Phong- Hàn -Thấp-  Nhiệt ra khỏi cơ thể là hết bệnh
 
Một quan niệm khác của Khí công dưỡng sinh cho rằng đau nhức là do nguyên nhân âm dương không điều hòa làm cho dòng sinh lực Huyết sinh Tinh Tinh sinh Khí Khí sinh Thần bị gián đoạn hay sai lệch bế tắc ở một khâu nào đó mà sinh ra chứng đau nhức ví dụ như Huyết trệ (uất kết nhiễm độc) hay Tinh sai (ăn uống và thu nạp chất không tinh khiết)   hay Khí thiếu (Chính khí suy sức đề kháng yếu) và Thần hư mà gây nên. Biện pháp trị liệu là điều hòa lại khâu bị rối loạn sai lệch trong dòng sinh lực (chân khí) là hết bệnh.
 
Như vậy qua hai khái niệm về đau nhức của Tây Y và Đông y chúng ta thấy Đông Y có quan niệm về của đau nhức khác hẳn Tây y. Những cơ sở bệnh lý của đau nhức mà Tây y có biện pháp dập tắt (bằng hóa dược chất an thần xoa dịu thần kinh....) thì Đông y chỉ coi đó là những biểu hiện hậu quả của những nguyên nhân như Huyết trệ khí hư Kinh mạch không lưu thông....cho nên biện pháp trị liệu không chỉ dừng lại ở chổ tạm thời xóa bỏ những hậu quả bởi vì có xóa bỏ dập tất được biểu hiện của triệu chứng (hành thống tý thống trước thống nhiệt thống...) nhưng nguyên nhân là gốc bệnh như tà khí Phong Hàn Thấp Nhiệt vẫn đang hành hại trong kinh mạch vẫn còn làm cho khí huyết bị bế tắc thì cơn đau vẫn sẽ tái hiện lại mà thôi. Bởi vì có lý luận "khác thường" nhưng "chân lý" đó cho nên Đông Y mới có phương pháp trị liệu đau nhức có hiệu quả hơn Tây y là vậy.
 
Để thấu rõ thực tế hơn chúng ta có lẽ phải tìm hiểu thêm về hai phương pháp trị bệnh Phong Thấp của hai nền y học thì mới vỡ lẽ ra được về luận cứ này. Bởi vì bệnh Phong Thấp cũng là một hội chứng đau nhức mà hiện này Tây y vẫn đang còn chập choạng trong con đường nghiên cứu. Trong khi Đông y đã có những liệu pháp dứt điểm được bệnh này....
 
(Còn nữa)
 
20.01.11
QN-TN

More...

HỎA XA LUẬN (Phần 3- Bàn về Đau Nhức)

By Lê Thuận Nghĩa

Phần 3: Bàn vê đau nhức
(THỐNG TÝ LUẬN)
  
Đau nhức là một phần của sự sống nó tồn tại và có chức năng cần thiết như những cơ quan cảm thụ khác để bảo đảm cho sự sinh tồn. Da cảm giác được nóng lạnh tai nghe được âm thanh mắt nhìn được ánh sáng và màu sắc mũi có thể ngửi được mùi hương lưỡi cảm giác được mùi vị...và cơ thể cảm giác được sự đau nhức của áp lực va chạm v..v...
  
Mắt mù tai điếc mũi tịt..tuy sự tồn tại sinh tồn gặp rất nhiều khó khăn nhưng không đến nổi nguy hiểm đến tính mạng. Nhưng nếu như da thịt cơ thể không cảm gác được nóng lạnh và đau nhức thì sự sinh tồn có nguy cơ bị đe dọa rất cao. Có cảm giác nóng lạnh đau nhức chính là tín hiệu thông báo sự nguy hiểm đang đe dọa sự sống. Chính vì vậy mà chức năng cảm thụ được đau nhức của cơ thể còn cần thiết hơn cả các chức năng khác như nhìn nghe và khứu giác vị giác..
  

Nhưng nếu như cảm giác đau nhức thái quá kéo dài và lặp đi lặp lại nhiều lần mà cơ thể không có khả năng thích nghi thì lại trở thành một hội chứng làm cho chất lượng cuộc sống khả năng sinh tồn suy giảm đi rất nhiều.  
  
Hội chứng đau nhức (bệnh) tuy không nguy hiểm đến tính mạng như những căn bệnh hiểm nghèo khác nhưng sự tồn tại của nó có nguy cơ "tàn hại" tuổi thọ "khủng bố" sinh lực xáo trộn đời sống tâm sinh sinh lý về hướng tiêu cực nó "bào mòn" và công phá hệ thần kinh dữ dội tạo cho đời sống một áp lực nặng nề khó chịu..
 
Cảm giác đau nhức là một phần của sự sống vì vậy mọi sinh linh vừa sinh ra đời đã có chức năng này nhưng hội chứng đau nhức thì lại phát sinh ra trong quá trình sinh tồn do cơ thể bị rối loạn chức năng bị tổn thương hoặc do áp lực của ngoại cảnh.
   
Từ thuở sơ khai loài người đã biết đến những phương pháp để trị liệu và khống chế cơn đau. Hàng chục ngàn năm về trước người tiền sử đã biết dùng những viên đá nhọn những cành cây dí ấn vào những chỗ đau nhức trên da thịt để làm giảm cơn đau theo giả thuyết của Y lý Á đông thì đó chính là khởi nguồn của bộ môn châm cứu sau này.
  
Hàng ngàn năm trước công nguyên người Hy lạp đã biết dùng đến nước ép vỏ cây liễu để uống chống đau (Asperin). Người Ai Cập và người Trung Quốc cổ đại đã biết dùng đến hổ phách và nhựa của loài cây Boswalle (Weinrauch) để chống bệnh phong thấp.
  
Câu chuyện Hoa Đà mổ nạo xương chống đau cánh tay cho Quan Công trong thời Tam Quốc trước công nguyên chuyện những ngự y thời nữ hoàng Cleopatra đã biết dùng mũi khoan khoan hộp xương sọ để làm thoát máu bầm chống bệnh đau đầu...Chứng tỏ tiền thân của khoa chống đau nhức trong Y khoa đã có từ nhiều ngàn năm trước.
  
Ngày nay khoa học phát triển như vũ bão nhờ công nghệ tin học. Y khoa cũng có những đột phá vĩ đại trong công việc kéo dài tuổi thọ cũng như bảo vệ sức khoẻ chống lại bệnh tật. Công nghệ Gen công nghệ tế bào gốc công nghệ Nano...là những đột phá trong Y khoa mà giới khoa học tự hào cho là có thể "thay thế bàn tay của thượng đế".
   
Người ta còn có thể tạo ra con người từ trong ống nghiệm và còn có thể dùng kỹ thuật bắn phá hạt hạ nguyên tử để đưa con người trở lại thời quá khứ hàng trăm năm hàng ngàn năm về trước... Thế nhưng cho đến thế kỷ 21 này người ta vẫn chưa tìm ra được một biện pháp hữu hiệu có tính chất quyết định dứt điểm để chống lại những căn bệnh tạo nên hội chứng đau nhức. Thậm chí có những căn bệnh đau nhức cho đến ngày nay khoa học y tế vẫn chưa lý giải được nguyên nhân và mầm bệnh.
  
Ta có thể đặt một câu hỏi tại vì sao chuyên khoa chống đau nhức của Y học đã có từ hàng ngàn năm về trước và phát triển rầm rộ cho đến nay mà vẫn đành "thúc thủ bó tay" chỉ dừng lại ở chỗ tạm thời dập tắt triệu chứng. Và biện pháp mà Y học hiện đại cho là tối ưu nhất hiện nay vẫn là thuốc hóa dược những chất độc chỉ có hiệu quả tạm thời cắt cơn đau và có tác dụng phụ rất nguy hiểm. Người chết vì đau nhức hầu như không có nhưng chết vì thuốc chống đau nhức thì vô số!!!.
 
Ngày nay ở các nước phát triển chuyên khoa chống đau nhức (Schmerztherapie) chiếm một vị trí rất rộng lớn trong Y tế. Chỉ riêng thuốc hóa dược chống đau nhức hàng năm người ta ước tính phải phí tổn đến gần 1000 tỷ Đô la. Trong đó phí tổn dành riêng cho bệnh đau nhức của phong thấp hết 128 tỷ Đô la (Theo thống kê của Trung tâm Phòng chống Dịch Bệnh Hoa Kỳ)
   

Một điều cần lưu ý nữa là hiện nay trong các bệnh viện chuyên khoa đau nhức và các trung tâm trị liệu đau nhức (Schmerztherapie) ở phương Tây người ta đã bắt đầu rời xa các hóa dược để quan tâm đến phương pháp tự nhiên trong đó vận động tích cực và vật lý trị liệu được chú ý đến rất nhiều. Đặc biệt là những phương pháp trị liệu của Y học cổ truyền Á đông hầu như chiếm hơn 50% trong các phương pháp trị liệu tại các trung tâm chuyên khoa này trong đó Châm cứu Thảo dược và Khí công được coi là những biện pháp có khả quan và an toàn nhất.
 
Từ những luận cứ đã trình bày trên đã đến lúc chúng ta phải nhìn nhận lại sai lầm căn bản của Y học hiện đại khi đưa ra những khái niệm cơ sở để khám phá cơ chế của đau nhức.
 
Sai lầm cơ bản đó có thể nói là Y học hiện đại đã nhầm lẫn giữa Nguyên NhânTriệu Chứng. Hết 70 - 80 % cái mà Y học hiện đại cho rằng đó là nguyên nhân dẫn đến hội chứng đau nhức thì Y học cổ truyền Á đông cho đó là triệu chứng.
 
Sự nhầm lẫn triệu chứng là nguyên nhân dẫn đến liệu pháp trị liệu chỉ dừng lại ở chỗ dập tắt triệu chứng tạm thời cắt cơn đau chứ không thể nào đào thải và dập tắt được mầm bệnh vĩnh viễn  
đ không cho tái phát trở lại.
  

Vì Y học cổ truyền Á đông xem các nguyên nhân đau nhức của Y học hiện đại là triệu chứng là hậu quả còn mầm bệnh nguyên nhân gây nên đau nhức lại ở một phương diện khác vì vậy YHCTAĐ (y học cổ truyền á đông) có khả quan hơn trong việc chấm dứt vĩnh viễn đau nhức khi đào thải đúng gốc rễ của bệnh lý
  
Ví dụ:
 Bệnh đau dạ dày chẳng hạn. Y học hiện đại cho rằng nguyên nhân chủ yếu gây nên hiện tượng đau dạ dày là vì bị viêm loét do vi khuẩn hoặc là do dịch vị tiết ra quá nhiều axít. Biện pháp trị liệu cơ bản là dùng thuốc kháng sinh hoặc thuốc hóa dược để dung hòa axít gây men chua ở dạ dày. Gần đây Y học hiện đại cũng đã thừa nhận việc viêm loét dạ dày rất dễ xảy ra với những người bị áp lực thần kinh qua lớn như lo nghĩ sợ sệt quá độ hay uất ức nóng giận quá độ mà gây nên. Nhưng khi lý giải vì sao áp lực thần kinh quá độ thì gây nên viêm loét dạ dày thì họ bế tắc không lý giải được.
 
Tất cả các vấn đề mà Y học hiện đại cho là nguyên nhân gây nên "sự cố" đau dạ dày ấy thì YHCTAĐ cho đó chỉ là triệu chứng mà cơn đau chỉ là hậu quả biểu hiện
 
YHCTAĐ gọi chứng đau dạ dày là Vị Thống hay là chứng Can Mộc Phạm Vị. Nguyên nhân dẫn đến viêm ung dạ dày là do từ Gan đưa đến.
 
Vì lo nghĩ quá độ kinh sợ hay uất ức quá độ mà làm tổn thương đến Gan. Theo Y lý á đông Gan thuộc về hành Mộc. Do Gan bị tổn thương nên khí hóa không lưu thông. Khí  mộc của Gan bị uất kết lại tại đó. Cũng theo y lý á đông Vị (dạ dày) thuộc hành Thổ. Theo qui luật sinh khắc của ngũ hành thì hành Mộc khắc chế hành Thổ. Do Can mộc bị uất kết quá độ nên tràn sang hành khắc Vị thổ nên làm cho chính khí của Vị (dạ dày) bị hao tổn mà sinh ra ung tấy viêm loét. Chứng này gọi là chứng Can Mộc Phạm Vị (Khí mộc của Gan hành hại khí thổ của Vị).  Liệu pháp điều trị liệu rất đơn giản là trục tả khí mộc uất kết ở Gan bằng thủ pháp Bình Can Hạ Hỏa (toa Long đởm tả can thang chẳng hạn). Trong đó hạn chế ăn uống các chất cay nóng như bia rượu tiêu ớt để hạn chế duyên uất kết tại gan cũng như thư giãn thả lỏng thân thể và tâm lý để loại bỏ mầm bệnh uất kết tại Gan.
  
Một ví dụ rất điển hình khác là chứng nhiễm phong hàn ở kinh Tam tiêu. Chứng này Tây y cho là bị viêm dây thần kinh tam thoa. Triệu chứng bệnh nhân bị méo mặt méo miệng mắt không nhắm được đau nhức và tê buốt nhiều ngày di chứng nhiều khi để lại liệt méo mặt mắt trố vĩnh viễn. Tây y cho rằng nguyên nhân là do viêm nhiễm vi khuẩn nên biện pháp chủ yếu là cho uống thuốc kháng sinh. Thật là một liệu pháp trị bệnh thật vô lý hậu quả hầu hết bệnh nhân bị chứng này chữa trị bằng kháng sinh đều để lại di chứng tê liệt nữa mặt.
  

Y lý cổ truyền cho đây là chứng nhiễm phong hàn do gió độc hoặc gió lạnh nhiễm vào hình hại ở kinh Tam tiêu. Liệu pháp là khu trục phong hàn ở kinh tam tiêu là được. Biện pháp là cứu gừng hoặc cứu tỏi trên các huyệt ở kinh Tam tiêu đánh gió và làm nóng vòng cổ gáy đề xua đuổi hàn tà. Lưu xuyên kim qua đêm từ huyệt Địa thương đến Giáp xa bệnh tất khỏi ngay.
  
Bệnh mới bị vài ngày có thể 3 đến 5 lần dụng y là khỏi. Bệnh nhiễm từ 3 tuần trở lên thì phải kết hợp với uống thuốc khu trục phong hàn. (Ở phương Tây khí hậu lạnh thời tiết hanh khô nên có nhiều gió độc người Việt mình bị chứng này rất nhiều trong quá trình hành nghề bên này ít nhất tôi từng trị trên cả trăm bênh nhân người Việt bị chứng này rồi)
   
Nói tóm lại có thể vì Y học hiện đại đã nhầm lẫn từ khái niệm cơ bản coi triệu chứng của đau nhức là nguyên nhân chính cho nên mặc dù đã có "thâm niên" hàng ngàn năm nhưng đến nay khoa điều trị đau nhức vẫn không có những thành tựu đáng kể trong việc chống lại hội chứng này.
 
Để hiểu rõ thêm về luận cứ này có lẽ chúng ta phải tìm hiểu khái niệm về đau nhức của Y học hiện đại và Y học cổ truyền (Á đông) như thế nào khi đó chúng ta mới phân biệt để tìm ra cốt lõi của vấn đề được....
 

(Xem tiếp phần 4)
 
(Các bạn đừng ngạc nhiên khi tôi "vòng vo tam quốc" chuyện nhức chuyện tê khi  định trình bày về vòng Thái âm chân khí. Thực ra việc phát hiện được vòng Thái âm chân khí và ảnh hưởng diệu dụng của nó trong việc chống bệnh Phong thấp và phòng chống các bệnh suy giảm chức năng miễn dịch và các bệnh nan y khác là hệ quả của quá trình đi tìm "mẫu số chung" cho một liệu pháp chống đau nhức có tính chất phổ cập hiệu quả và an toàn. Vì vậy khi trình bày về Thái âm chân khí tôi phải điểm qua bước khởi đầu của việc tìm ra vòng Thái âm chân khí là bước có liên quan đến hội chứng đau nhức)
   
13.01.11
QN-TN

More...

HỎA XA LUẬN Phần 2

By Lê Thuận Nghĩa

HỎA XA LUẬN - phần 2
 
(Tiếp theo phần 1)
 
...Con tàu vẫn cứ xoành xoạch lao đi trong đất trời trắng xóa tuyết phủ. Trong tiềm thức tôi vẫn cứ u u tiếng vọng của hai tiếng Nhân Duyên....
  
Đúng vậy tất cả mọi thứ trên thế gian này đều từ chữ Duyên mà nên. Duyên khởi thì hiện hữu Duyên còn thì tồn tại Duyên tận thì hết thì chuyển hóa. Kể cả trái đất này cả vũ trụ bao la với hằng hằng các Thiên hà khác cũng vậy. Là do Duyên kết mà tạo thành. Rồi một ngày nào đó Duyên tận Trái này Thiên hà kia cũng sẽ bổng chốc tan biến đi như khi chưa từng có nó mà thôi.
  
Cả cái Vũ trụ vô cùng vô tận này cũng không thể nào thoát ra khỏi sự tạo tác của chữ Duyên thì thử hỏi một đời người một số phận làm sao mà đi ra ngoài khỏi cảnh giới của chữ Duyên được.
 
..
Mấy ngày trước tôi gọi điện thoại cho hắn kẽ "oan gia" của tôi. Tôi nói với hắn "Tao sẽ đến dự buổi khánh thành trung tâm trị liệu của mày đấy". Hắn trả lời rất tự đắc "Đương nhiên mày phải đến rồi tao biết điều đó chứ nhưng khi đi mày nhớ mang theo tất cả dữ liệu về Thái âm chân khí đấy nhé". Tôi hỏi gần như  quát lên "Để làm gì". Hắn lại hềnh hệch "Thì để làm quà tặng ngày khai trương chứ sao".  Tôi gào hét lên tưởng chừng như vỡ tung luôn cái điện thoại di động "Mày đừng có hòng... mày nằm mơ à". Hắn cũng hét trả lại "Chính mày mới nằm mơ đấy mày đừng có hoang tưởng đem cái thứ dở hơi ấy mà hồi hương bọn mày không phù hợp cho những thứ đó đâu chỉ có bọn tao mới biết ngậm ngải tìm trầm còn bọn mày chỉ biết chụp giật thôi bọn mày không hiểu được thành quả của sự chờ đợi là gì đâu bọn mày chỉ biết bán đi cái tinh túy để mua về cái rã rượi bản chất của nhược tiểu là vậy mà". Tôi điên tiết "Mày câm cái mõm chó của mày lại thằng kẽ cắp kia". Hắn khà khà "Sao lại nóng thế công phu hàm dưỡng của mày đâu rồi". Tôi quặc lại "Hàm dưỡng gì với cái loại đốn mạt mày cho nó phí". Hắn lại hềnh hệch "Nhớ đấy nhé mày không còn con đường khác để chọn đâu mày muốn nó trở thành hiện thực thì chỉ có một con đường duy nhất là đến với bọn tao thôi hãy quên cái mộng tưởng hảo huyền châu về Hợp Phố của mày đi nhé cứ đến xem chúng tao làm như thế nào rồi làm thuê cho tụi tao luôn thể". Tôi cong môi lên xí một phát rõ to "Cho dù tao có chết đói bọn mày có đem kiệu đến võng tao tao cũng đếch thèm làm việc cho tụi mày đâu". Hắn hạ giọng "Vấn đề không phải là đói hay no mà vấn đề ở chỗ chỉ có bọn tao mới có khả năng biến sự điên rồ của mày thành hữu dụng được mà thôi ở trong chăn mới biết chăn có rận tao biết tỏng tòng tong là mày muốn gì nên mày không còn con đường nào khác đâu".
 
Người ta nói đúng chính kẽ thù khôn ngoan mới là người thầy tốt nhất của chúng ta. Có được kẽ thù khôn ngoan thì ta mới có thể trưởng thành và mạnh mẽ được. Tôi cảm thấy hắn đúng là "người thầy"  thoát thai ra từ kẽ thù của đời mình. Và có lẽ cái chữ Duyên đã ràng buộc tôi phải luôn luôn "gắn bó"  với hắn.
 
Tôi cứ đinh ninh mình sẽ không bao giờ ngu xuẩn đến mức đem tâm huyết cả đời mình dâng hiến cho hắn. Nhưng rồi không biết vì một mãnh lực gì đến giờ chót lúc ra ga để đáp chuyến tàu xuyên lục địa đến chỗ hắn tôi lại vội vã nhét toàn bộ tập tài liệu về Thái âm chân khí vào va ly.
 
Con tàu vẫn cứ xoành xoạch lao về phía trước
 
Tôi mở va ly lôi tập tài tiệu để lên bàn mắt tôi trân trân nhìn vào nó hình như tôi có một linh cảm gì đó không tốt bồn chồn bất an giống như trạng thái trước một cuộc chia tay.
 
Nó nằm đó đấy nó là sự "hãnh diện" là niềm hy vọng của tôi đấy. Theo dự định trước tết âm lịch này tôi sẽ cùng Giáo sư M. Ghori ôm nó về miền Trung quê tôi nơi có khí hậu và thổ nhưỡng thích hợp cho những loại thảo dược kích hoạt vòng Thái âm chân khí. Giáo sư M. Ghori đã đồng ý với với tôi như một "hợp đồng" nghề nghiệp. Ông sẽ cùng với tôi về Việt Nam để cùng tôi báo cáo tính khả thi của dự án nuôi trồng thảo dược kích hoạt vòng Thái âm chân khí. Đổi lại tôi cũng sẽ cùng ông đến quê hương của ông để khoách trương Mito- Medizin (Y học Ty Thể) và Bio- Energie Therapie (Liệu pháp Sinh Khí). 
 
   
Giáo sư M.Ghori và Giáo sư Tiến sĩ Y khoa Polajkov
 

 
 Giáo sư Polajkov vừa là Tiến sĩ Y khoa vừa là nhà du hành vũ trụ Nga ông là chủ đề tài nghiên cứu khoa học về học thuyết kinh mạch huyệt của Y lý Á đông đồng thời là cha đẻ của mày Prognos Giáo sư đang đo đạc thử nghiệm trên tàu vũ trụ Mir.
  

Ông bay về Ả rập Xê út hôm 29 tháng 12 để khai trương bệnh viện Mito- Medizin của Ông và đã quay trở lại Đức vào ngày 9 tháng 1 năm nay. Ông nói ông quay trở lại sớm để bảo đảm hợp đồng về miền Trung với tôi.
Nhưng tiếc thay!
 
Cách đây mấy hôm người bạn là doanh nghiệp công nghệ thông tin và cũng là một nhà đầu tư trong ngành thiết bị Y tế ở miền Trung người chịu trách nhiệm chính và cũng là chủ đầu tư cho dự án của chúng tôi gọi điện thoại báo rằng đã mua đứt 25 héc ta rừng đồi cách phía tây thành phố Đồng Hới 20 km. Ông bạn nói rằng mua đứt đất rồi từ từ muốn làm gì thì làm. Chứ để báo cáo xin dự án thì còn khuya mới được thủ tục rất rườm ra phức tạp nếu muốn khởi động được dự án thì cũng phải mất vài năm nữa.
 
Ông bạn tôi không hiểu mục đích của dự án hay tôi không hiểu về tình hình xã hội Việt Nam. Dự án có liên quan đến thảo dược thuộc về lĩnh vực Y tế sản phẩm của dự án liên quan đến lĩnh vực sức khoẻ vì vậy dự án cần phải thông qua hội đồng khoa học của các cơ quan chức năng liên quan đến Y tế. Bạn tôi nghĩ như thế nào mà lại coi dự án như việc mở một trang trại trồng trọt thế mới buồn chứ.
 
Tôi gọi điện thoại từ trên tàu về cho Giáo sư M. Ghori tạm thời hủy bỏ kế hoạch về miền Trung trong dịp Tết. Ông ta mừng rơn nói tôi về gấp để bay sang Ả rập Xê út cùng Ông.  
  
 
Giáo sư M. Ghori đang thảo luận về vòng Thái âm chân khí qua kết quả kiểm nghiệm trên máy Prognos
  
Giáo sư M.Ghori là chủ của tôi bây giờ ông chính là người sáng lập nên Institut für Traditionelle Chinesische Akupunktur (Viện Châm Cứu cổ truyền Trung Y) mà trước đây tôi làm việc ở đó. Giáo sư năm nay đã 75 tuổi đã có hơn 40 năm lăn lộn với nghề Y. Ông đã từng 3 lần phá sản và đã 3 lần bắt đầu từ con số không để gây dựng nên sự nghiệp mà ông đeo đuổi. Hoài bảo của cuộc đời ông là "Y khoa không hóa chất". Hiện nay ông có 2 Trung tâm Y tế nếu kể cả Viện châm cứu đang bị đóng cửa nữa là 3. Và bệnh viện tư nhân mới mở ở Ả rập Xê út nữa là 4. Kể luôn cả những cơ sở bị phá sản trước đây thì bảng hiệu ở bất kỳ một cơ sở nào hay ngay trong cạc vi sít của ông cũng vậy cứ phải luôn luôn có một câu in đậm mở đầu "Therapie Ohne Chemie" (Điều Trị Không Hóa Chất).
  
 
Giáo sư cũng là một "tín đồ" của khí công
 
Phải nói ông ông là người tiên phong trong khoa  Bio- Energie Therapie (Liệu Pháp Năng Lượng Sinh Học hiểu nôm na là Chẩn trị bằng Sinh khí) và cũng là "tín đồ" của Kosmosmedizin (Y học Vũ trụ). Ông cũng như tôi rất "sùng bái" máy đo sinh khí Prognos. Là chiếc máy đánh dấu một bước ngoặt hoành tráng trong  việc giao lưu hai nền y khoa Đông và Tây. Ông là một trong những người đầu tiên sau khi nước Nga Xô Viết sụp đổ đã có công đưa máy Prognos (trước đây chỉ dùng để kiểm tra sức khoẻ cho giới Du hành vũ trụ và giới chính khách cao cấp) sang Tây Âu để ứng dụng phổ cập đại trà.
 
    
  Nói về chiết xuất thảo dược kích hoạt vòng Thái âm chân khí

Trước đây tôi không hiểu vì sao với một người tài ba và đam mê nghề nghiệp như ông lại bị phá sản mấy lần (Hầu như tất cả bệnh viện và các trung tâm trị liệu ở Đức đều thuộc về doanh nghiệp tư nhân).
 
Sau này về làm việc dưới trướng của Ông tôi mới biết ông không bị phá sản mới là chuyện lạ. Ông có thể bỏ ra hàng chục ngàn Euro để mua một thiết bị Y tế mà ông cảm thấy có tác dụng trị một bệnh nào đó cho dù hiệu quả kinh tế của nó gần như bằng 0.
   
 Ví dụ có một cái giường điều trị bằng cát nung chạy bằng điện Ông mua nó với giá 12.000 Euro đến nay đã 3 năm chỉ mới thu vào được đâu 80 Euro. Năm rồi ông mới mua một cái máy châm cứu laser 5 màu giá cả thuế là 62.000 Euro. Hiệu quả trị bệnh của nó không bằng tôi búng mấy cái kim đắc khí. Vì vậy rất ít khi tôi sử dụng tới trừ trường hợp bệnh nhân quá nhạy cảm với kim hoặc châm cho trẻ con. Máy mua về đã hơn 1 năm nhưng tiền thu vào có lẽ chưa được 1000 Euro.
  
Các bạn nên biết rằng bất kỳ cơ sở Y tế nào của Phương Tây cũng đều là những cơ sở kinh doanh. Vì vậy lương tâm nghề nghiệp bao giờ cũng gắn bó chặt chẽ với lợi nhuận nếu có sự mất cân đối anh tiêu tùng ngay. 
  
 
 
Đừng tưởng đây là những cây cảnh trang trí cho vườn hướng dẫn luyện tập khí công nhé những cây trùm chăn này là cây Weichrauch một loại cây đặc thù của vùng Châu Phi và Ấn độ cây này cho một loại nhựa có thể chữa khỏi bệnh Phong Thấp đấy.  Ông Ghori đã đặt mua và chuyên chở từ châu Phi về. Cái vuờn cây trên sân tập Khí công này ông ta tốn ít nhất là hai chục ngàn Euro không phá sản mới là chuyện lạ....!!!
 
 
 
Giáo sư Ghori mấy lần phá sản có lẽ vì ông bị bệnh nghiền máy móc thiết bị y tế. Trong kho lưu trữ của ông có những thiết bị mua về đã hàng chục năm vẫn còn nguyên đai nguyên kiện chưa sử dụng lần nào trong đó có những thiết bị cực đắt như thiết bị điều trị Ozon thiết bị xoá nếp nhăn máy đánh tan mỡ bụng v..v...
 
Đam mê đi tìm liệu pháp tối ưu để trị bệnh phong thấp những thành tựu trong việc phát hiện ra vòng Thái âm chân khí và những thử nghiệm lâm sàng trong việc chiết xuất thảo dược phòng chống ung thư của tôi nếu như không có cái bệnh nghiền thiết bị máy móc y tế của Ông chắc có lẽ tôi sẽ không bao giờ dám mơ tưởng tới.
  
Con tàu vẫn xoành xạch lao đi về phía trước chồng tài liệu về vòng Thái âm chân khí vẫn ở trước mắt nhìn nó tôi chợt mĩm cười không biết có vì nó mà tôi có thể sẽ góp phần làm cho Giáo sư Ghori phá sản thêm một lần nữa không. Nhưng biết làm thế nào được âu đó cũng là từ chữ Duyên mà ra.
  
Và cũng có lẽ vì chưa tới Duyên cho nên giấc mơ hồi hương của tôi vẫn còn là ảo tưởng. Vì chưa tới Duyên nên vòng Thái âm chân khí vẫn chưa "hội ngộ" được với khúc ruột miền Trung quê tôi. Nhưng biết đâu với kẽ oan gia của tôi người đồng nghiệp có nguồn gốc Đại Hán mà tôi căm ghét ấy vòng Thái âm chân khí lại khởi duyên cũng nên.
  
Chuyện đời đâu biết được sẽ đi về đâu. Có lẽ ngồi vô vị trên con tàu xuyên lục địa này cũng là cái duyên để tôi viết lại entry Hỏa Xa Phiếm Luận này. Biết đâu khi tôi tung lên mạng có ai đó là đồng nghiệp đồng cảm với vòng Thái âm chân khí và khởi Duyên cho nó trở thành hiện thực trên quê hương cội nguồn của tôi.
  
Và nếu như nó vẫn còn vô duyên thì cũng coi như đây là một phiếm luận để cười chơi một ý đồ hoang tưởng của một kẽ ba hoa khoác lác vậy...
 
(Còn nữa)
13.01.11
QN-TN

More...

HỎA XA LUẬN (Luận Cứ Y Khoa Từ Chuyến Tàu Xuyên Lục Địa)

By Lê Thuận Nghĩa

Tôi với hắn bằng tuổi nhau. Hắn và tôi cả hai đều tự hào mình là "chính thống". Hắn người Trung Quốc tôi người Việt Nam. Hắn cho rằng hắn chính thống là người xuất xứ từ cái nôi văn hóa Á Đông chính thống. Tôi khẳng định rằng cái nôi văn hóa Á Đông có xuất xứ từ văn hóa lúa nước mà văn hóa lúa nước thì khảo cổ học thế giới đã khẳng định là xuất xứ từ Phong Châu (Phú Thọ) cho nên tôi mới là chính thống.
  
Hắn cho rằng nền tảng của Y lý cổ truyền Á đông là Kinh Dịch là Âm Dưong Ngũ hành mà Kinh Dịch có nguồn gốc từ Trung Quốc nên hắn là chính thống. Tôi nói thầy dạy cho Văn Vương nhà Chu là người Họ Hùng nước Sở mà họ Hùng có nguồn gốc ở Phong Châu cho nên Kinh Dịch thuộc về Phong Châu vì vậy tôi là chính thống.
   
Hắn nói Hoàng Đế Nội Kinh là có từ vua Hoàng Đế của Trung Quốc vì vậy hắn là chính thống. Tôi nói Hoàng Đế có sau Thần Nông Thần Nông là Si-Vưu Si Vưu là thủy tổ của tộc Bách Việt vì vậy tôi là chính thống.
  
Rồi hắn nói hắn học trường lớp khoa bảng từ Học Viện Trung Y Thượng Hải nên hắn là chính thống. Tôi nói y học cổ truyền Á đông vốn là nghề gia truyền mà tôi là hậu duệ truyền thừa của Y gia cho nên tôi là chính thống.
  

Rồi hắn lại nói Đông Y là Chinesische Medizin là Y học của Trung Quốc hắn là người của Trung Quốc cho nên hắn là chính thống. Tôi nói các Y thư cổ truyền của Trung Y đã bị Tần Thủy Hoàng đốt hết rồi cuối đời nhà Thanh vì sợ phương Tây và Nhật Bản cướp mất tàng thư chính thống nên các quan lại và Ngự y người Trung Hoa đã chép giả Y thư viết ngược Y thư và truyền bá vào nhân gian vì vậy hầu hết lý luận căn bản của Y học Á đông đang lưu hành của Trung Hoa là đồ đểu. Chính vì vậy mà các giáo trình căn bản nhất hiện nay của khoa Đông Y đang giảng dạy trong các học viện Trung Y ở Trung Quốc đều lấy Hải Thượng Lãn Ông Y Tông Lĩnh của Danh y Việt Nam làm cơ sở vì vậy tôi là chính thống
  
Tôi và hắn không ai chịu ai về vấn đề này. Cho dù tôi và hắn có cái họ phát âm theo ngôn ngữ phương Tây đều giống nhau. Hắn họ Lý người phương tây gọi hắn là Dr. Lee.  Tôi họ Lê và h gọi tôi là Meister. Le. Cả tôi và hắn đều không ưa nhau có nhiều khi coi nhau như kẻ thù cho dù hắn và tôi đều là mạng Mộc và sinh năm Kỷ Hợi (1959).
  
Hắn có sở trường về thảo dược và vượt trội hơn tôi về các phương toa bí truyền hắn là nhà sưu tập các toa thuốc gia truyền các phương toa trị bệnh dân gian. Tôi giỏi hơn hắn về Khí công và không chịu thua hắn tôi cũng là một nhà sưu tập các tuyệt kỹ Khí công trong dân gian.
   
Chỉ riêng về Châm cứu thì tôi và hắn không phục nhau. Hắn cho rằng hắn đúng hắn mới thật sự là một Châm sư. Tôi nói hắn chỉ là "thợ châm" vì quá phụ thuộc vào sách vở. Tôi mới là thự  sự một Châm sư vì phương pháp thủ huyệt của tôi là tùy chứng tùy thể trạng con bệnh mà định pháp châm. Hắn xí một cái rồi nói như vậy là phóng túng là ngẫu hứng không tuân thủ theo kinh nghiệm tiền nhân. Tôi cũng xí một phát và nói phương châm của hắn cứng như ngói đâu phải bệnh nhân nào cũng có thể trạng giống nhau mà thủ huyệt cho một loại bệnh giống nhau làm vậy có khác nào cái máy châm vì tuyệt kỹ của châm cứu chỉ có được từ việc đúc rút kinh nghiệm trong quá trình trị bệnh của châm sư mà thôi.
  
Tôi học hỏi hắn rất nhiều về Thảo dược và cách gia giảm phương toa. Hắn cũng học được rất nhiều ở tôi về ứng dụng các kỹ thuật Khí công đặc biệt cho trợ giúp liệu pháp trong quá trình trị bệnh. Riêng về châm cứu thì tôi và hắn luôn chống chọi nhau bất phục nhau và có nhiều khi sự bất phục đó còn dẫn đến sự khinh khi nhau và thù ghét nhau.
  
Tuy vậy nhưng cả tôi và hắn cũng đã từng kết hợp với nhau đưa ra một liệu pháp châm cắt cơn đau cực kỳ hiệu nghiệm. Tôi có phương thể châm cho dù đau nhức bất kỳ ở một chổ nào chỉ cần châm đắc khí mấy huyệt Côn Lôn Thận Du Ngoại Quan và Phong Trì thì lập tức cơn đau tạm thời bị cắt ngay. Hắn có phương dùng 3 huyệt trên tai của Nhĩ Châm kích huyệt Thần Du Thượng Thận (huyệt trên vành tai) và thêm một huyệt đối chứng nữa cũng có tác dụng cắt cơn đau rất hiệu quả. Kết hợp 2 phương toa  thể châm và nhĩ này lại tôi và hắn có được một "thần phương" cực kỳ diệu dụng.  
Bất kể người nào bị đau nhức bất kỳ chổ nào kể cả đau răng mụt nhọt viêm nhiễm sưng tấy hay là người bị thần kinh tọa đau lưng đau gối không đứng được không đi được di chuyển thân thể đau đớn lắm mà phải bò lết. Chúng tôi không cần cho uống thuốc gì hết chỉ cần bật 5 đến 7 cái kim trong vòng mấy phút sau người bệnh đã hoàn toàn mất cảm giác đau nhức bại xuội để đi lại dễ dàng...Phương toa này chỉ có tác dụng chữa cấp theo nguyên tắc của châm tê và nâng cao khả năng chịu đau cho bệnh nhân để tạm thời cắt cơn đau chứ không có tác dụng trị dứt gốc bệnh. Tuy không trực tiếp loại bỏ được mầm bệnh nhưng liệu pháp này cũng rất có giá trị trong liệu trình điều trị đau nhức nhất là việc lấy lòng tin của con bệnh.
  
Trong một trận cãi nhau kịch liệt hồi còn làm chung với nhau ở một bệnh viện phục hồi chức năng ở Đức. Trận cãi nhau này trước thì vì chuyên môn châm cứu sau thì đụng chạm đến lòng tự tôn dân tộc. Hắn phỉ báng tôi là người Việt con người của một đất nước nghèo mạt hạng. Tôi chửi hắn là công dân của một đất nước chuyên sản xuất hàng đểu và chuyên đi ăn cắp công nghệ của các dân tộc khác. Trận đụng độ đó đi đến kết quả là tôi và hắn thề sẽ không bao giờ gặp mặt nhau nhau nữa.
  
Nhưng sự đời thật oái oăm đôi khi bạn bè chí cốt người thân yêu ruột thịt những người mà ta không hề muốn xa thì lại đằng đẳng xa cách còn kẽ "oan gia" thì có muốn tránh thì cũng không tránh được cứ phải luôn đụng độ gặp mặt.
  
Ngày tôi nhờ máy Prognos tìm ra được nguyên lý vận động của vòng Thái âm chân khí và ảnh hưởng của nó có thể lý giải đến tận gốc rễ của các bệnh hiểm nghèo nhất là có thể kích hoạt nó để có thể phòng ngừa và chữa trị các căn bệnh của thời đại như bệnh Ung thư bệnh Phong thấp Tiểu đường...Tôi gọi điện khoe với hắn nhằm cho hắn biết thế nào là "lễ độ" của người chính thống Đông y. Hắn đang làm việc ở Thụy Sĩ bay vù một phát sang ngay. Thấy có người hiểu mình và thấu ngộ ra nhanh vấn đề trọng yếu nên tôi gác lại thù riêng mà sẻ chia với hắn.
 
Lúc hắn chiết xuất ra được một thứ tinh dầu có từ vỏ quả lựu có tác dụng trực tiếp kích hoạt rất rõ ràng lên huyệt Phục Lưu để tăng khí lực cho vòng tuần hoàn Thái âm chân khí hắn lại cũng gác thù riêng gọi điện cho tôi sang để chia sẻ và thử nghiệm lâm sàng trên bệnh nhân.
 
Chia sẻ xong lại thù hằn khích bác nhau. Hắn nghếch mũi lên nói Trung Hoa sẽ thống trị toàn thế giới về cả kinh tế quân sự và khoa học Trung Quốc là chính thống. Tôi lại nói Trung Hoa không những là tên kẽ cắp mà còn là một tên cướp cạn chả có ai nói rằng kẽ cắp và kẽ cướp là chính thống cả.
 
Chửi nhau một lại thề không thèm nhìn mặt nhau nữa. Người phụ tá của hắn là một thiếu phụ Việt gốc Hoa người Chợ lớn. Thấy tôi và hắn mới thủ thỉ thù thì chuyện chuyên môn xong lại quay ra mạt sát nhau không thương tiếc nên dàn hòa: "nguyên lý chữa bệnh tận gốc rễ đào thải từ mầm bệnh có nguồn gốc sau xa và vi tế nhất của y lý cổ truyền Á đông thực sự là chính thống Y khoa". Tôi nói "chứ sao" hắn nói "hảo hảo". Rồi chia tay không thèm cả bắt tay nhau chỉ nhìn nhau qua con mắt hằn học mà thôi.
  
Trước tết Dương lịch hắn gọi điện thoại cho tôi hoanh hoang tự đắc nói hắn và một bác sĩ người Indonesia gốc Hoa và một chuyên viên Y tế người Tân Cương đã thành lập một trung tâm trị liệu gần Podkamena Tuguska Sibiri của Nga hắn cười hềnh hệch nói hắn sẽ chinh phục nền y học vũ trụ của Nga bằng "bột nghệ" Tây Tạng.
  
Hắn nói đầu năm nay ngày 11 tháng 1 năm 20011 tức là ngày có 5 số 1 (11.1.11) là ngày Chí Dương bảo mệnh bọn hắn sẽ khai trương trung tâm y tế có tên China-Tibet-Medizin để "thống trị" nước  Nga. Và hắn rất ngạo nghễ mời tôi sang cho biết lễ khai trương của tụi hắn hoành tráng như thế nào.  
  
Thấy hắn quá khoác lác hắn cố tình mời tôi sang dự lễ khai trương với toàn bộ chi phí đi lại là ăn nghỉ chỉ để tôi phải lác mắt trước thành công của hắn cho bỏ ghét đó thôi. Nên tôi thẳng thừng từ chối cũng từ chối rất ngạo nghễ tôi nói cái trung tâm của tụi mày là cái khỉ khô gì mà tao phải đi.
  
Hắn trịnh trọng tuyên bố: "logo và bảng hiệu của trung tâm của tụi nó là Bánh xe luân hồi là biểu tượng của Phật Giáo tiểu thừa đấy một trung tâm Y tế lấy Bánh Xe Sự Sống của Phật Giáo làm nền tảng Pháp lý và Y lý chẳng phải là đó là trăn trở và suy ngẫm suốt trong nghiêp Y của mày đó ư mày không đi thì đừng có mà hối hận nhé".
   
Nghe hắn nói vậy cho dù ghét hắn đến bao nhiêu có đố kỵ với thành công trong việc "vác chuông đi đánh xứ người" của hắn bao nhiêu thì tôi cũng phải động lòng và muốn đến xem cái cơ sở của tụi hắn như thế nào. Nhất là hắn đã điểm đúng "tử huyệt" của tôi.
 
Vì hắn biết bấy lâu tôi luôn lấy Luân Xa ra để lý giải những căn nguyên vi tế nhất của mầm bệnh hắn biết tôi đã từng giải mã những Y lý và những thủ pháp những tuyệt kỹ diệu dụng của các phương toa bí truyền bằng thuyết Nhân Quả và thuyết Nhân Duyên trong mật ngữ của vòng Luân Xa. Tôi đã dùng Mật Ngữ của Luân xa để khai mở cho những uẩn khúc của tôi về Đông Y và cũng chính nhờ Mật Ngữ của Luân Xa mà tôi đã thấu ngộ ra những tinh hoa những đóa kỳ hoa diệu thảo trong cánh rừng đại ngàn bất tận của Y lý cổ truyền.
  
Hắn đã điểm trúng "tử huyệt" của tôi nên tôi phải ngoan ngoãn tuân lệnh hắn dù rất căm ghét hắn để đáp chuyến tàu xuyên lục địa đi đến xứ sở của băng tuyết trong mùa đông giá lạnh.
   
Con tàu xoành xạch lao đi trong bầu trời ảm đạm trắng buốt những cái bánh tàu nhỏ nhoi chỉ xấp xỉ bằng một vòng tay ôm nhưng nó cứ quay vòng là trải dài vòng quay của nó lên hai đường ray để rồi như thể lao tới phía trước xuyên qua chiều dài của trái dất.
  
Chỉ là một bánh xe nhỏ như vòng tay ôm nhưng vòng luân chuyển của nó có thể đưa ta đến tận cùng của thế giới. Bức v Vòng Luân Xa hay còn gọi là Bánh Xe Luân Hồi Bánh Xe Sự Sống là biểu tượng của Phật Giáo Tiểu Thừa cũng như vậy đó chỉ là một bức họa đơn sơ nhưng trong đó tàng tích toàn bộ Giáo lý huyền nhiệm toàn bộ trăm ngàn pho kinh kệ đồ sộ của Phật Giáo.
 
Không những thế nó còn tàng chứa hầu như tất cả mọi nền triết học của Đông Tây Kim Cổ. Ở đó có đúc kết tất cả những hiểu biết về Sự sống của Nhân loại ngoài ra còn tàng chứa nhiều minh triết về sự hình thành vũ trụ bao la để có thể lý giải được tất cả những gì đang hiện hữu trong thiên nhiên trong con người và trong cả thế giới tâm linh huyền bí.
   
Tôi cũng nhờ Mật ngữ trong Luân Xa để thấu hiểu những huyền vi kỳ ảo trong nghề nghiệp Đông Y của mình. Nhờ Luân Xa tôi mới thấu ngộ được cái luật Nhân Quả trong mầm móng của bệnh tật.
  
Con người tự gieo cho mình những Nhân xấu (bia rượu thuốc lá sinh hoạt trác táng bừa bãi ăn uống vô độ vô chừng...) khí hậu môi trường gieo vào cơ thể những Nhân không lành (lạnh nóng ẩm thấp..sóng ác xạ độc hóa dược...) cho nên mới đơm hoa và kết Quả xấu (bệnh). Xác định được đâu là Nhân xấu để tránh xa đừng tiếp cận đừng gieo rắc là phòng bệnh. Đào bới chặt phạt bứng những cái Nhân ấy đi là chữa bệnh. Vậy là bình an đâu có sợ gì bệnh tật nữa.
 
Và lỡ khi đã gieo cái Nhân xấu ấy rồi hoặc cái Nhân xấu đã xâm nhập sẳn có trong cơ thể rồi cũng chưa chắc gì đã phát triển thành bệnh khi chưa đủ nhân duyên. Vòng ngoài cùng trong bức họa Luân Xa mô tả về thuyết Thập Nhị Nhân Duyên đã lý giải cái Y lý này rất cụ thể.

  
Thực tế thì không những Y lý Á đông mà Y học hiện đại cũng vậy. Liệu pháp chữa trị gì cũng không ngoài mục đích ngăn chặn những Nhân Duyên giúp Nhân xấu phát triển và bồi đắp thêm những Nhân Duyên giúp cho Nhân lành phát triển.
 
Chỉ ví dụ một đơn giản vậy như thế này:  Nếu một bệnh nhân bị bệnh đau nhức thần kinh gân cơ do áp huyết thấp thiếu máu não hay thiếu máu cục bộ ở nơi đau do nghẽn tắc không thông sẽ làm đau nhức lan tỏa chạy từ chỗ này đến chỗ khác cơ thể mất sức chán nản sợ sệt hồi hộp hơi thở yếu tim đập nhanh mất ngủ người gầy ốm suy nhược thần kinh thân nhiệt không đủ sợ lạnh.
   
Cách chữa cần phải loại bỏ duyên xấu là những chất chua như cam chanh bưởi vit.C dưa chua....Lý thuyết đông y nói gan sợ chua gan chứa máu chất chua sẽ phá máu phá hủy hồng cầu. Chức năng của gan là phải cung cấp bơm máu đủ cho tim hoạt động nhưng nhiều chất chua đã làm cho chức năng gan bị hư về ngũ hành gan thuộc mộc sẽ nuôi tâm hỏa nhưng vì gan hư làm tim không đủ số lượng máu để tuần hoàn khắp cơ thể da thịt gân cơ nên các sợi máu li ty gọi là thần kinh bị co rút mới bị đau.
  
Tây y thì thấy nguyên nhân đau do sợi thần kinh thuộc tâm thần cho uống thuốc tâm thần làm giảm sụ hưng phấn hay ức chế. Còn đông y cho tất cả các triệu chứng kể là hậu qủa của nguyên nhân do chức năng tuần hoàn máu của tim không đủ gọi là chứng tâm hư vừa khí vừa huyết cho nên khi chữa theo nguyên tắc con hư bổ mẹ có nghĩa là tim hư do gan hư phải bổ gan. Muốn chữa gan phải chữa 2 cách cách thứ nhất loại duyên xấu tăng duyên tốt. Theo lý nhân duyên nguyên nhân gan hư hàn do duyên xấu làm hư là những chất chua chất lạnh phải bỏ. Tạo duyên tốt cho gan cần phải trợ duyên bằng những chất tăng hỏa tăng máu tăng khí làm cho gan phục hồi cả 3 chức năng gọi là can âm (huyết) can dương (khí) và can hỏa nó cần thịt đỏ củ dền gia vị gừng hành tiêu ớt tỏi sò huyết hoặc thuốc bổ máu đương quy...
 
Nếu bệnh đau nhức thần kinh gân cơ do áp huyết cao làm thần kinh ngoại biên đi qua cổ gáy vai tay bị co rút áp lực ống mạch căng bị nghẽn tắc nơi khe kẽ quanh các khớp cổ gáy vai cổ tay ngón tay tây y gọi là thấp khớp những điểm đau không lan tỏa chỉ ở một chỗ có triệu chứng mất ngủ nhức đầu đau nhức cổ gáy vai tay lưng thân nhiệt cao trán và lòng bàn tay nóng tinh thần căng thẳng hay cáu giận càng cáu giận càng đau ăn nhiều căng tức ngực bụng táo bón...
  
Tất cả những triệu chứng này tây y cho là nguyên nhân còn đông y cho là hậu qủa tất yếu của chứng tâm hỏa vượng hay tâm nhiệt thịnh. Cách chữa theo đông y là mẹ thực tả con tâm hỏa là mẹ của thổ thuộc tỳ và vị. Nếu tâm nhiệt có thể làm tỳ nhiệt vị nhiệt hoặc cả hai nếu tỳ nhiệt làm ra bệnh tiểu đường da thịt nóng dễ nổi vết bầm khi đụng chạm vị nhiệt thì ưa đói ăn hoài cả tỳ vị nhiệt gây ra bệnh thấp khớp xương hóa vôi áp huyết cao táo bón khớp ngón tay cứng đau..... Có nguyên nhân là chứng tâm hỏa vượng hay tâm nhiệt thịnh chữa theo đối chứng trị liệu của đông y hỏa vượng sẽ làm bớt vượng nhiệt thịnh sẽ làm mất nhiệt bằng cách cắt duyên xấu cho bệnh không đủ điều kiện xấu phát triển thành bệnh nặng và thêm duyên tốt giúp phục hồi chức năng khí hóa của tạng phủ cho mau khỏi bệnh.
  
Những duyên xấu do ăn uống trong trường hợp này là các chất cay nóng khô chất kích thích thần kinh hưng phấn như đường calcium bia coca cà phê thuốc lá chocolat thức ăn khô như pizza khô mực chiên xào nhiều dầu chiên trái cây nhiệt đới nóng như nhãn xoài mít sầu riêng sinh tố B12 chất sắt....Những chất này là duyên xấu cho chứng bệnh thực nhưng lại là duyên tốt cho bệnh thuộc hư chứng kể trên vì nó làm tăng khí tăng huyết làm cao áo huyết tăng nhiệt.
  
Ngược lại những chất tạo duyên xấu của bệnh thuộc hư chứng làm mất máu mất khí mất nhiệt lại cần thiết trở thành duyên tốt để điều chỉnh phục hồi chức năng tạng phủ cho bệnh thuộc thực chứng.
  
  Hoặc như bệnh ung thu chẳng hạn. Bệnh ung thư là bệnh của tế bào tế bào bị rối loạn chức năng không tuân thủ phát triển theo form của cấu tại sinh học. Cơ thể ta có hàng nghìn tỷ tế bào trong một giây có hàng chục triệu tế bào mới được sinh ra nhờ phân chia tế bào trong hàng tỷ tỷ lượt phân chia đó ắt có lần có sai lầm vì vậy sẽ tạo ra một loại tế bào không đúng chuẩn đó là tế bào ung thư. Có nghĩa là ở bất kỳ thời điểm nào trong có thể con người cũng đều có tế bào ung thư cả nhưng bệnh ung thư chỉ xảy ra khi các tế bào đó có duyên cùng một loại ở vào cùng một thời điểm gặp nhau ở cùng một cơ quan nào đó và cùng may mắn thoát khỏi sự kiểm soát của cơ thể thì mới có thể hình thành khối ung thư mà thôi. Vậy thì biện pháp để chống ung thư tốt nhất là ngăn chặn những Nhân Duyên để cho các tế báo Ung thư gặp nhau ở vào một thời điểm nào đó ở cùng một bộ phận nào đó là được. Đâu cần phải hãi hùng khiếp đảm trước căn bệnh này chứ. Ngăn chặn Nhân  Duyên này tốt nhất vẫn là các biện pháp ăn uống và sinh hoạt an toàn như ăn uống nhiều thứ như đèn đường " Đỏ-Vàng- Xanh "chẳng hạn (Đỏ của cà chua Vàng của chanh tươi Xanh của xà lách) và luyện tập dưỡng sinh như Khí công Yoga...
 
Tóm lại chữa bệnh là phải ngăn ngừa không tạo duyên cho nhân phát triển là cách ngừa bệnh tốt nhất ...giống như nhân của một hạt giống xấu sẽ phát triển ra cây xấu nếu có đủ duyên là bón phân tưới nước... muốn không cho cây xấu (là đã có nhân bệnh) không phát triển thì đừng tưới nước bón phân ngược lại giống cây tốt là nhân tốt thiếu duyên là bón phân tưới nước nhân cũng không phát triển được.
  
Trên đó là nói về những bệnh tật cụ thể còn nếu như ứng dụ thuyết Nhân duyên vào những nguyên lý cơ bản của Y lý cũng không có gì khác biệt.
  

Con tàu vẫn xoành xoạch lao đi tôi bật laptop lên xem tin tức Y tế trên các trang mạng.

- Báo Đức đưa tin theo thống kê trên thế giới cứ 5 trường hợp bị bệnh thì có 2 trường hợp bị chẩn đoán sai 1 trường hợp điều trị sai thuốc và phương pháp chỉ còn có 2 trường hợp là chẩn trị đúng. Kinh dị!!!
 
- Báo Đức đưa tin nước Đức có hơn 80 triệu dân thì có 25 triệu người Đức bị chứng đau đầu có 35 triệu người Đức bị chứng đau lưng đau vai cổ và có gần 60 triệu người bị bệnh Phong thấp. Khiếp đảm!!!
 
- Người Mỹ dự đoán đến năm 2035 có khoảng 200 triệu cư dân Mỹ bị bệnh phong thấp không có cách chữa. Hãi hùng!!!
 
- Báo Việt Nam đưa tin do khí hậu nước ta ẩm thấp nên có đến 90% người dân mắc bệnh phong thấp và thống kê năm 2010 có 250.000 ca phát hiện ung thư mới. Thất thần!!!!
 
- Báo Nga đưa tin đã phát hiện ra những cặp gen liên quan đến bệnh phong thấp. Kinh ngạc!!!
 
- Báo Trung Quốc đưa tin: Giới chuyên gia y tế Trung Quốc một lần nữa cảnh báo người dân nước này về việc lạm dụng thuốc dẫn đến hậu quả hơn 1 triệu trẻ em bị điếc. Con số này tăng gấp 100 lần so với cảnh báo lần đầu năm 2007 chỉ với 10.000 trẻ Nhân Dân Nhật Báo đăng tải.
Ông Dương Chí Ngân giám đốc ngành y học hành vi thuộc Hiệp hội Y khoa Trung Quốc cho biết cứ 1 8 triệu trẻ em bị điếc ở nước này thì có 60% bị ảnh hưởng do dùng quá liều thuốc đặc biệt là thuốc kháng sinh Streptomycin. Theo Nhật Báo Trung Quốc mỗi năm nước này có 200.000 người chết do sốc thuốc và 40% trong đó liên quan đến lạm dụng thuốc kháng sinh. Nhiều gia đình Trung Quốc có thói quen trữ các loại thuốc kháng sinh tại nhà và tự uống mà không cần chỉ định của bác sĩ.
Khoảng 70% bệnh nhân nhập viện đều được bác sĩ kê toa thuốc kháng sinh nhưng gần 80% các đơn thuốc kháng sinh này là không cần thiết đối với bệnh tình của bệnh nhân. Táng đởm kinh hồn!!!

  
Báo Việt lại đưa tin:
Nghĩ củ dền có tác dụng bổ máu chị Lan nhà ở Bình Chánh nấu thành nước rồi pha sữa cho con người mẹ còn pha củ dền vào nước cho con uống. Chỉ sau ba ngày thực hiện thực đơn bé Hải con chị bỗng tím tái và khó thở.
Tại Bệnh viện Nhi Đồng 2 TP HCM bé Hải có dấu hiệu ngưng thở do suy hô hấp toàn thân tím đen. Phải mất hơn hai ngày cấp cứu tích cực các bác sĩ mới may mắn cứu được bệnh nhi. Nguyên nhân được xác định là do thành phần có trong củ dền gây thiếu ôxy máu. Cùng suy nghĩ ăn nhiều củ dền sẽ "hồi máu" sau khi con bị đứt tay mất nhiều máu chị Uyên nhà ở Long An cũng buộc cậu con trai 1 tuổi ăn nhiều củ dền luộc và uống nước củ dền. Hậu quả sau 4 ngày liền "gồng máu" bằng đủ các món ăn chế biến từ củ dền bé Hậu vào Bệnh viện Nhi Đồng 1 trong tình trạng tím tái loạn nhịp tim. Khiếp vía!!!
....

Con tàu vẫn cứ xoành xoạch lao đi tôi thẩn thờ nhìn ra ngoài ô cửa không phải là cảnh vật vùn vụt trôi qua mà tôi cảm thấy tất cả như dừng lại dừng lại và hiện rõ ra trước mắt mình bức họa của Luân Xa và trong tiếng cà roạt ..cà roạt..của bánh xe xiết vào đường ray tôi cũng nghe đâu đó từ trong sâu thẳm của tiềm thức mình vang lên những âm thanh huyền diệu...Nhân duyên....Nhân duyên...
 
(Còn nữa)
___
Phụ lục về bức họa Luân Xa:
 
12.01.11
QN-TN

More...

10 công nghệ “xanh” của thế giới năm 2010

By Lê Thuận Nghĩa

Hàng loạt sản phẩm và công nghệ "xanh" đã ra đời năm 2010 như du thuyền chạy bằng năng lượng mặt trời trang trại gió lớn nhất hành tinh ở Anh hay máy bay chạy bằng năng lượng mặt trời...


Châu Âu đang hợp tác để xây dựng hệ thống lưới điện năng lượng tái tạo. Hệ thống này sẽ kết nối các tua bin ở ngoài bờ biển Scotland với các tấm thu năng lượng mặt trời lớn ở Đức và kết nối với năng lượng tạo ra từ những con sóng đổ vào bờ biển Đan Mạch và Bỉ với các đập thủy điện ở Na Uy. Dự án lưới điện năng lượng tái tạo đầu tiên của châu Âu đã trở thành hiện thực hồi tháng 1/2010 khi 9 quốc gia chính thức phác thảo các kế hoạch kết nối các dự án năng lượng sạch quanh Biển Bắc.



Tháng 9/2010 Anh đã khai trương trang trại năng lượng gió lớn nhất thế giới tại Thanet ngoài khơi bờ biển vùng Kent. Với 100 tua bin được đặt thành 8 hàng trang trại này tạo ra 300MG điện mỗi năm đủ dùng cho khoảng 200.000 hộ gia đình.


Các kỹ sư đã đua nhau thiết kế các tua bin gió ngoài khơi lớn nhất thế giới. Và đây là mô hình tua bin gió ngoài khơi khổng lồ tên gọi Aerogenerator X do công ty Arup của Anh thiết kế. Aerogenerator X dự kiến có công suất khoảng 10KW.



Solar Impulse chiếc máy bay thí nghiệm chạy bằng năng lượng mặt trời đầu tiên trên thế giới đã hoàn thành chuyến bay thử nghiệm kéo dài 24 giờ. Kỷ lục này đã đưa nó tiến gần hơn tới mục tiêu cuối cùng của các nhà thiết kế là bay vòng quanh thế giới chỉ sử dụng năng lượng mặt trời.



Turanor du thuyền lớn nhất thế giới chạy hoàn toàn bằng năng lượng mặt trời do Đức chế tạo đã rẽ sóng mang lại những hi vọng về tương lai năng lượng trời. Turanor được đóng tại xưởng đóng tàu Knierim Yachtbau ở Kiel Đức và mất 14 tháng để hoàn thành với chi phí lên tới 17 triệu USD.


Hồi tháng 8 tua bin thủy triều lớn nhất thế giới đã được cho ra mắt tại một cơ sở ở Invergordon Scotland. Tua bin AK1000 được phát triển bởi Tập đoàn tài nguyên Atlantis có khả năng tạo ra điện đủ cung cấp cho 1.000 hộ gia đình. Nó được thiết kế để chịu được thời tiết khắc nghiệt và các vùng biển thoáng động như bờ biển Scotland.



Tháp Strata Razor là một công trình thân thiện với môi trường. Tháp này tọa lạc ở thủ đô London sẽ tạo ra gần 10% điện năng mà tòa nhà cần thông qua 3 tua bin đặt trên nóc nhà.



Trung Quốc đang chiếm ưu thế trong cuộc đua toàn cầu nhằm tạo việc làm xanh trong các lĩnh vực từ tấm thu năng lượng mặt trời cho tới công nghệ chiếu sáng tiên tiến một báo cáo hàng năm của công ty nghiên cứu công nghệ xanh Clean Edge cho biết hồi tháng 10.



Tháng 12/2010 thủ đô London đã cho ra mắt chiếc xe buýt chạy bằng hydro đầu tiên của Anh. Chiếc xe sẽ được đưa vào phục vụ trong một tuyến du lịch nổi tiếng.



Wave Hub thiết bị công nghệ biển tiên phong đã được thả xuống thành công ngoài khơi bờ biển Cornwall Anh hồi tháng 9 để thu năng lượng sóng.


An Bình
Theo Guardian

More...

CÃI TỬ HỒI SINH CHO BỆNH NHÂN UNG THƯ MÁU (Bệnh Bạch Cầu)

By Lê Thuận Nghĩa

Viết Trong Đêm Giáng Sinh


Trước đây năm bảy năm về trước đêm Giáng Sinh tôi thường về Grimma một thành phố nhỏ gần thành phố Leipzig ở tiểu bang Sachsen để dự đám giổ cụ thân sinh của người bạn. Là đám giổ nhằm vào đêm Noel cho nên cũng là một dịp để bạn bè một thuở tề tựu về hội họp gặp mặt luôn thể. Từ ngày về Hamburg đến nay dễ có 6 7 năm nay tôi không còn về tề tựu vào dịp này ở Grimma nữa.
  
Người bạn này là anh ruột của Ba Đen người tôi thường kể lại trong nhiều tản văn của tôi. Anh bạn này tên là Gia Cần là đội trưởng phiên dịch trong các đoàn xuất khẩu lao động hồi Đông Đức cũ hiện nay là một doanh nghiệp trong nghề kinh doanh dịch vụ ăn uống.
 
Gia Cần có liên quan đến một giai đoạn khá "hoành tráng" trong nghề nghiệp của tôi. Chính hắn là người giới thiệu bệnh nhân ung thư máu đầu tiên mà tôi trực tiếp "cãi tử hoàn sinh" cho họ.
 
Năm nay Giáng Sinh nằm vễnh râu ở Hamburg nhớ bạn bè cũ một thời nên muốn viết một bài giới thiệu về một phương pháp điều trị bệnh ung thư rất có hiệu quả mà tôi đã sử dụng và đã đưa ít nhất là 10 người từ cõi chết trở về vì bị căn bệnh hiểm nghèo: bệnh Ung Thư Máu hay còn gọi là bệnh bạch cầu bệnh máu trắng.
 
CÃI TỬ HOÀN SINH CHO BỆNH NHÂN UNG THƯ MÁU (Bệnh Bạch Cầu)

Phần1: Sơ lược về Ung thư máu:
 
Ung thư bạch cầu hay còn có tên gọi ngắn gọn là bệnh ung thư máu (Leukomie Leukemie) hay bệnh bạch cầu (máu trắng) thuộc loại ung thư ác tính.
 
Căn bệnh này là hiện tượng khi bạch cầu trong cơ thể người bệnh tăng đột biến. Nguyên nhân của bệnh chưa được xác định nhưng có thể là do các tác động của môi trường như ô nhiễm hóa học hay nhiễm chất phóng xạ hoặc cũng có thể là do di truyền. Bạch cầu trong cơ thể vốn đảm nhận nhiệm vụ bảo vệ cơ thể nên chúng cũng khá "hung dữ" đặc biệt khi loại tế bào này bị tăng số lượng một cách đột biến sẽ làm chúng thiếu "thức ăn" và có hiện tượng ăn hồng cầu. Hồng cầu sẽ bị phá hủy dần dần vì vậy người bệnh sẽ có dấu hiệu bị thiếu máu dẫn đến chết.
 

Chúng ta tạm hiểu nôm na như vầy do một nguyên nhân gì đó (nhiễm độc kim loại nặng nhiễm phóng xạ chất độc màu da cam...hay do di truyền). Tự nhiên số lượng bạch cầu trong cơ thể tăng lên đột ngột. Bạch cầu trong máu có nhiệm vụ như những "lính biên phòng" "đội cận vệ"...luôn luôn túc trực sẵn sàng chờ có những sinh vật lạ như Vi rút vi khuẫn xâm nhập vào là lao tới tiêu diệt ngay. Đây là một đội "cảm tử quân" kiên dũng của cơ thể. Nhưng do đội quân này tự nhiên bị đột biến tăng quá nhanh quá nhiều lần so với số lượng cho phép. Thế là những "ưu binh" này trở thành những "sát thủ" những "lực lượng phản loạn". Chúng đói ăn và quay sang tấn công và "nhậu luôn" xực hết luôn kẻ đáng lý ra chúng phải bảo vệ đó là Hồng huyết cầu. Hồng huyết cầu sinh ra được bao nhiêu thì bị bọn "kiêu binh" nổi loạn bạch cầu xơi tái hết. Vậy là sinh ra chứng bần huyết Hồng huyết cầu suy giảm bạch cầu tăng. Máu khôn còn đỏ mà thành "sắc aó" bạch của đội quân này. Nên còn gọi là bệnh máu trắng.
 
Đây cũng là căn bệnh ung thư duy nhất không tạo ra u (ung bướu).
 
Hiện nay căn bệnh này đã có một số biện pháp điều trị nhưng hiệu quả không cao. Người dân ở các vùng nhiễm phóng xạ thường có tỉ lệ bị bệnh này rất cao (như 2 thành phố Hiroshima và Nagasaki sau thời chiến tranh đệ nhị thế giới ở Nhật).

Gần đây có một số nghiên cứu kết luận rằng bệnh ung thư bạch cầu hay bạch cầu cấp đều không qua yếu tố di truyền

Ung thư máu được phân loại như sau:

Thể Lymphoid leukemia: Lymphatic Lymphoblastic Lymphocytic Lymphogenous Granulocytic

Thể Myeloid leukemia: Granulocytic Myeloblastic Myelocytic Myelogenous Myelomonocytic Myelosclerotic Myelosis

Thể Monocytic leukemia Histiocytic Monoblastic Monocytoid

Triệu chứng
Khi dạng bạch cầu ung thư phát triển nhanh trong tủy làm đau nhức đồng thời chiếm chỗ và làm giảm sự phát triển những tế bào máu bình thường khác.

Bệnh nhân có thể có những chứng sau:

do sức công phá trong tủy: sốt cảm lạnh đau đầu khớp.
do thiếu hồng cầu: mệt mỏi yếu sức da đổi thành màu trắng nhạt.
do bạch cầu không bình thường: hay bị nhiễm trùng.
do giảm khả năng làm đông máu: chảy máu nướu răng dễ bầm.
biếng ăn sút kí.
Nếu bệnh nhân là nữ thì sẽ có hiện tượng ra mồ hôi về ban đêm.
 
 Điều trị
Hiện tại các phương pháp điều trị bệnh ung thư máu chủ yếu vẫn là thay tủy xương của người bệnh với tủy xương của một người hiến có tủy xương phù hợp (thích hợp nhất là người có chung huyết thống với người bệnh) để thay thế phần tủy xương đã bị hư hỏng và kích thích sinh ra hồng cầu cũng như kìm hãm sự gia tăng đột biến của bạch cầu. Tuy nhiên dù có điều trị bằng phương pháp nào thì khả năng thành công cũng rất thấp chỉ khoảng 10% và dù cho có thành công thì khả năng bệnh tái phát cũng rất lớn (khoảng từ 3 đến 5 năm)

Hiện nay ngoài cách ghép tủy (cuống rốn cấy tế bào gốc....) còn có thể dùng hóa trị liệu cho tới nay cách dùng hóa trị vẫn có triển vọng rất tốt cho các bệnh nhân. Ngoài ra đối với dòng Lympho còn có thể xạ trị màng não ngăn ngừa tế bào phát triển lên não. Đối với những bệnh nhân có quá trình điều trị bệnh tốt sức đề kháng tốt thích nghi với môi trường tốt và nằm trong khoảng thời gian điều trị từ 3-5 năm có thể bình phục (lược thảo theo bách khoa toàn thư)
 

Phần2: Ung thư theo quan niệm Y lý cổ truyền:
 
Ung thư máu hay là bệnh Ung Thư theo ngôn ngữ Y khoa hiện đại nói chung (cancer carcinoma). Theo bệnh lý thì hoàn toàn khác với bệnh lý "Ung-Thư" trong ý lý cổ truyền. Có nghĩa là cùng một tên gọi như nhau nhưng bệnh lý hoàn toàn khác nhau.

Nếu y học hiện đại coi ung thư (cancer carcinoma) là một căn bệnh ác tính khó trị liệu và thường dẫn đến tử vong thì y học cổ truyền phương Đông lại quan niệm về căn bệnh được gọi là Ung- Thư với nội dung hoàn toàn khác biệt.
 

So sánh hai cách gọi thì đồng âm nhưng hoàn toàn khác nghĩa. Các bạn và ngay cả những người mới nhập môn Đông y cũng cần phải lưu ý việc này. Vì rất dễ nhầm lẫn những phương toa đặc trị Ung-Thư trong các y thư cổ là những toa thuốc "bí truyền" đặc trị bệnh Ung thư hiện đại (cancer carcinoma)
  

Việc dùng danh từ ung thư theo âm Hán Việt trong các Y thư vốn được dùng để chỉ những chứng bệnh thông thường trong y học cổ truyền. Nếu dịch các từ cancer hoặc carcinoma của y học hiện đại một cách kém cẩn thận sẽ dẫn đến nhiều sự ngộ nhận và hiểu lầm rất nguy hiểm.

Khái niệm ung thư trong y học cổ truyền phương Đông là một khái niệm bệnh lý hoàn toàn khác với khái niệm Ung thư mà người ta thường dùng hiện nay. Khái niệm này chỉ để mô tả những căn bệnh về tà khí rất thông thường thậm chí là khá đơn giản trong hệ thống bệnh lý Á đông.


Có thể nói danh từ ung thư đã được ghi lại sớm nhất trong Hoàng Đế Nội Kinh Tố Vấn một bộ sách y cổ nhất của phương Đông và có thể nói là bộ sách nhập môn cho những người theo học Đông Y.
  
Trong phần Linh khu Ung thư thiên ở sách này có đoạn chép. Hoàng Đế đã hỏi Kỳ Bá : "Phu tử ngôn ung thư hà dĩ biệt chi ?" (Lão sư nói về ung với thư lấy gì để phân biệt ?).

Sau này nhiều y thư cổ khác như Vệ Tề Bảo Thư Chư Bệnh Nguyên Hậu Luận Y Tông Kim Giám Ngoại Khoa Chính Tông Dương Y Chuẩn Thằng Ung Thư Thần Diệu Chân Kinh. Thái Bảo Thần Phương và kể cả Hải Thượng Lãn Ông Y Tâm Lĩnh Thương Hàn Luận cũng  đều đã đề cập đến với những kiến giải rất sâu sắc về Ung-Thư.
  

Gọi chung là Ung- Thư nhưng kỳ thực đó là hai bệnh danh khác nhau chỉ có chung một số nguyên nhân gây bệnh giống nhau mà thôi. Đó là "ung chứng" và "thư chứng".


Ung là chỉ loại mụt nhọt (áp-xe surface sore internal abscess) phát sinh cấp tính ở giữa da cơ với tốc độ nhanh sưng nóng đỏ đau nổi cao lên có giới hạn rõ ràng dễ làm mủ và dễ vỡ khi vỡ mủ rồi thì dễ hàn miệng tùy theo mức độ nặng nhẹ mà có hoặc không có các chứng trạng toàn thân như phát sốt sợ lạnh môi khô miệng khát.
  
Theo các y văn cổ ung hàm nghĩa là khí huyết không thông vì độc tà ủng tắc.
   
Sách Nội kinh viết :" Dinh khí khổ lưu vu kinh mạch chi trung tắc huyết khấp nhi bất hành bất hành tắc vệ khí tòng chi nhi bất thông ủng át nhi bất đắc hành cố nhiệt. Đại nhiệt bất chỉ nhiệt thắng tắc nhục hủ nhục hủ tắc vi nùng nhiên bất năng hãm cốt tủy bất vi tiêu khô ngũ tạng bất vi thương cố mệnh viết ung" (Dinh khí ở trong kinh mạch khi nó lưu hành không được thông sướng làm cho vệ khí bị ngăn trở nên mới phát sốt. Khi sốt cao không dứt thế nhiệt quá mạnh làm cho thịt nát hóa thành mủ nhưng nhiệt độc chỉ ở phần ngoài không hãm vào trong nên xương tủy và ngũ tạng không bị tổn thương thì gọi là ung).
  
Sách Cảnh Nhạc Toàn Thư thì cho rằng : ung là do dương độc nhiệt tà ủng tắc phần ngoài gây nên nếu thế nhiệt mạnh thì sưng nề nhiều sắc da đỏ bóng đau kịch liệt dễ hóa mủ mà cũng dễ thu miệng phát nhanh mà cũng dễ khỏi nhanh.
 
Theo cổ nhân ung là do ngoại cảm lục dâm (sáu thứ tà khí bên ngoài) ăn uống quá nhiều đồ cay nóng và bổ béo thấp nhiệt hỏa độc uất kết ở bên trong khiến cho nhiệt độc tà khí ủng trệ làm dinh vệ bất hòa kinh lạc trở tắc khí huyết ngưng trệ mà thành.   
Tùy theo vị trí bị bệnh mà tên gọi và cơ chế bệnh sinh cũng có những điểm khác nhau. Nếu bị ở cổ thì gọi là cảnh ung ở nách gọi là dịch ung ở rốn gọi là tề ung ở hông gọi là khoa ung ở vú gọi là nhũ ung ở hậu môn gọi là giang ung.
  
Nếu tổn thương nông thì gọi là ngoại ung nếu sâu thì gọi là nội ung. Nếu bị ở phần trên cơ thể (đầu mặt cổ và tay) thì thường kèm theo phong tà ở phần giữa cơ thể (ngực lưng và bụng) thì thường có khí uất và hỏa uất ở phần dưới cơ thể thì thường kèm theo thấp tà.
   
Ngoài ra còn có nhiều tên gọi khác nhau tùy theo đặc điểm và tính chất như : ung thũng là nhọt sưng ung nùng là nhọt đã hóa mủ ung lâu là mụn nhọt vỡ lâu không hết mủ thành lỗ dò ung độc là nhọt độc ung sang là mụn nhọt ở nông đã vỡ mủ tạo vết loét lâu liền.
  


Thư là chỉ loại nhọt chìm sâu ở trong (deep-seated sore) phát sinh ở giữa gân cơ và xương đau âm ỉ khi chưa thành mủ thì khó tiêu đã thành mủ rồi thì khó vỡ khi đã vỡ thì khó liền miệng mủ thường trong loãng căn cứ vào lúc khởi phát có đầu hay không có đầu mà chia thành hai loại : đầu thư và vô đầu thư (nhọt độc và ap-xe sâu).
  
Tuy nhiên xung quanh khái niệm về thư các y thư và y gia mỗi thời kỳ cũng có nhiều kiến giải và cách gọi khác nhau.
 
Sách Nội Kinh viết :" Nhiệt khí thuần thịnh hạ hãm cơ phu cân tủy khô nội liên ngũ tạng khí huyết kiệt đương kỳ ung hạ cân cốt lương nhục giai vô dư cố mệnh viết thư. Thư giả thượng chi bì yếu dĩ kiên thượng như ngưu lãnh chi bì ; ung giả kỳ bì thượng bạc dĩ trạch thử kỳ hầu dã " (Uất nhiệt đốt mạnh mủ độc hãm vào trong da thịt làm cho gân héo tủy khô lại hướng sâu vào trong ảnh hưởng đến ngũ tạng khiến khí huyết khô kiệt khi đã ở tầng sâu thì gân xương cơ nhục đều hủ nát gọi là thư. Đặc trưng của thư là sắc da tối đen không tươi mà dày giống như là ở dưới cổ trâu ; đặc trưng của ung là da mỏng và sáng bóng).
  
Cũng trong Nội Kinh còn có danh từ mãnh thư để chỉ một loại tổn thương viêm ở cằm trông giống như tổ ong sau này gọi là tả hầu ung.
  
 Sách Y Tông Kim Giám có khái niệm cầm thư để chỉ một loại tổn thương ở sống lưng gọi là đan độc (một loại bệnh nhiễm khuẩn cấp tính ở ngoài da có đặc điểm vùng da nổi lên những quầng đỏ tươi và nóng sau lan dần ra nhiều chỗ thường kèm theo sốt sợ lạnh đau đầu đau mình mẩy trẻ em thì quấy khóc kinh giật không yên) y học hiện đại gọi là viêm quầng (erisipelas).
  
Sách Ngoại Khoa Đại Thành thì có các bệnh danh như điều thư đôn thư tiêu thư để chỉ những đinh thũng ở chi trên (là loại nhọt nhỏ nhưng rễ sâu viêm tấy phát triển nhanh làm mủ ngoài da tiên lượng nặng hình như cái đinh nên gọi là đinh thũng) còn những đinh nhọt mọc ở phần dưới má và dưới mũi thì gọi là đinh thư.


Ngoài ra trong các y thư cổ khác còn ghi lại khá nhiều bệnh danh thuộc loại thư như : dịch thư (lao hạch nách) cổ âm thư (lao hạch đùi) và hiếp lặc thư (lao thành ngực và xương sườn). Những chứng này về sau tùy theo tính chất mà quy vào hai chứng bệnh loa lịch (lao hạch) và lưu đàm (lao xương khớp).
  
Sách Chư Bệnh Nguyên Hậu Luận có bệnh danh nhũ thư thực chất là một dạng nhũ ung nhưng thương tổn có đầu cứng hơn và không dễ vỡ loét.

Sách Lưu Quyên Tử Quỉ Di Phương còn có bệnh danh thoát thư hay thoát cốt thư tức là bệnh viêm tắc động mạch của y học hiện đại do nhiều nguyên nhân gây nên với chứng trạng chung là hoại tử đầu chi do tắc mạch.


Như vậy có thể thấy bệnh danh ung thư trong y học cổ truyền đã có một lịch sử lâu đời thường dùng để chỉ các loại mụn nhọt nói chung và sau này còn được sử dụng để chỉ một số bệnh khác như lao hạch lao xương khớp viêm tắc động mạch.
  
Khái niệm này có nội dung hoàn toàn khác so với bệnh danh ung thư của y học hiện đại và nếu có cho là giống nhau thì cũng chỉ trong một phạm vi rất hẹp cực kỳ hạn hẹp. Xem xét thấu đáo cả về lý thuyết và thực tiễn thì bệnh ung thư của Tây y thuộc phạm vi và có mối liên hệ tương đồng với một số bệnh chứng trong Đông Y là chứng Nham và chứng Thũng Lựu chứng Uất Sạ chứng Hoại Huyết chứng Kết Thũng.....
 
Tương tự vậy Bệnh Ung máu (bệnh Bạch cầu Máu trắng...) Trong y học cổ truyền không có tên bệnh nào có tên gọi vậy cả. Căn cứ vào biểu hiện lâm sàng có thể xếp nó vào các loại hư lao cấp lao nhiệt lao cho đến huyết chứng huy tích chứng uất kết bần huyết.
  
Bên ngoài thì cảm độc tà và nhiệt tà bên trong thì tổn thương vì làm việc quá mệt mỏi đói no không điều hòa phòng sự quá nhiều bị thất tình tổn hại tiên thiên bẩm sinh không đủ tất cả đều có thể gây ra bệnh này.

(Tư liệu sưu tập từ nhiều nguồn tư liệu khác nhau)

Phần3: Phần Chính
Tôi Cãi Tử Hoàn Sinh Cho Bệnh Ung Thư Máu Như Thế Nào?
 
Vào tháng 10 năm 1997 Gia Cần gọi điện thoại cho tôi hỏi rằng có vợ một người bạn Đức bị bệnh Ung thư máu bệnh viện trả về sau khi từ mỗi tháng 1 lần truyền 4 lít máu đến mỗi tuần 1 lần rồi đến mỗi tuần 2 lần mỗi lần 4 lít máu. Giáo sư chuyên môn trực tiếp điều trị cho bà ta khuyên "nên tìm nhà thờ để cầu nguyện là vừa" còn điều gì chưa thực hiện còn mong muốn điều gì thì nên làm nhanh vì có bà ta có thể sống không còn quá 5 tháng nữa. GC hỏi liệu có thể giúp gì được không có còn nước còn tát không. Tôi trả lời khó có thể trả lời được vì bệnh ung thư máu Đông Y chẩn trị là bệnh Bần Huyết. Mà bệnh này thì điều trị không khó hồi theo sư phụ học nghề tớ thấy ổng điều trị còn dễ hơn trị thương hàn hay cảm cúm nữa. GC nó tôi có thể sang bên đó coi giúp được không (Gia Cần là người đã từng chứng kiến thủ pháp chữa dứt bệnh Thiên đầu thống (Migräne) cho vợ của luật sư hắn ta chỉ qua 3 lần châm của tôi. Nên hắn rất tín dụng tôi). Tôi trả lời nếu họ sang chỗ tôi thì được vì tôi không có điều kiện sang bên đó.
 
Hồi đó tôi đang đi học Y và đang làm việc dưới trướng của Tiến sĩ Nguyễn Xuân Trang tại thành phố Göttingen. Tiến Sĩ NXT là một bác sĩ mang quốc tịch Đức gốc người Mỹ Tho (Dr. Nguyễn Xuân Trang thuộc Đảng CDU là người sáng lập Hội Những Người Đức- Việt Dân Chủ một tổ chức thuộc Đảng Dân Chủ Thiên Chúa Giáo Đức có nhiều đóng góp Nhân Đạo cho Việt Nam). Trong hai năm 1996 và 1997 không biết do vận xui gì mà tôi đã tàn phá hết 5 chiếc ô tô. Khi thì húc nhau khi thì tự húc vào cột đèn khi thì lao vọt ra khỏi đường cao tốc xe nát bấy nhưng người thì không hề bị một thương tích nhỏ. 5 chiếc ô tô phải vào nằm nghĩa địa xe trong chưa đầy 2 năm nên tôi được mọi người quen biết tấn phong là "dũng sĩ diệt xe cơ giới" là vậy.
 
Thời gian mà Gia Cần gọi là đúng vào thời gian xui xẻo ấy của tôi. Vì vậy tôi không còn có phương tiện để sang bên Sachsen được. Từ Göttingen sang Leipzig cở độ 350 cây số thôi.
 
Người bạn Đức của Gia Cần là một thương gia đang phát đạt trong nghề đầu tư các hội chợ. Ông ta nghe GC quảng cáo về tôi nên quyết định đưa vợ sang thử vận may cuối cùng.
 
Vợ ông ta lúc ấy đã rất yếu chỉ còn thoi thóp chờ từng ngày. Ông ta đưa từ Leipzig sang Göttingen mất gần 8 tiếng đồng hồ vì vừa đi vừa nghĩ lại chạy đường làng vì hồi ấy chưa có đường cao tốc A14.
 
Khi bắt mạch cho Maria (người bị bệnh ung thư máu). Đúng như tôi dự đoán tất cả những triệu chứng mạch lý và biểu hiện bệnh lý đúng như bệnh Bần Huyết mà ngày xưa thầy tôi thường trị cho dân nghèo ở các vùng núi chúng tôi thường đi qua. Khi xem bệnh xong tôi mĩm cười nói với ông Dittmar (bạn Gia Cần): "Rất đơn giản chữa trị còn dễ hơn chữa bệnh cảm nữa ông cứ yên tâm bà nhà sẽ chuyển bệnh trong vòng 2 tuần hết bệnh trong vòng 1 tháng sau 3 tháng thì hoàn toàn khoẻ mạnh như một người bình thường".
 
Tôi cũng không biết vì sao lúc đó tôi tự tin đến thế có lẽ vì tôi muốn lấy lòng tin khát sống và hy vọng sống của người bệnh. Và cũng có thể do một nhân duyên huyền bí nào đó cho tôi sự tự tin đến ngạo nghễ như vậy. Một căn bệnh nan y của thế kỹ đã qua biết bao nhiêu bệnh việt qua bao nhiêu phương pháp điều trị hiện đại nay bị bệnh viện trả về chờ chết mà tôi lại thản nhiên nói trị dễ còn hơn trị cảm cúm nữa thì quả thật là quá hoang tưởng. Tôi tin ông bà Dittmar cũng sẽ nghĩ như vậy.

Đã có sẵn kinh nghiệm chữa trị bệnh Bần Huyết tôi phác thảo một liệu trình trị bệnh ngay lập tức. Dùng ấn ma pháp đánh dọc hai dãy Du huyệt sau lưng để chuyển hóa dinh dưỡng và kích thích sự sinh huyết của tủy sống. Cho uống Hắc Hoàng Kỳ Phương để hoạt huyết và tạo máu từ tủy sống. Vì bệnh nhân quá suy nhược cho nên bồi bổ thêm Thập Toàn Đại Bổ hầm với khấu đuôi bò. Xong
 
Ông Dittmar chở vợ mỗi tuần 2 lần từ Leipzig sang cho tôi dụng Y   Hắc Hoàng Kỳ Phương thì tôi đã pha chế sẳn ngày uống 3 lần. Mỗi tuần uống canh Thập Toàn Đại Bổ hầm khấu đuôi bò 3 lần.
 
Sau hai tuần bệnh tình thuyên chuyển rất tốt bà Maria không còn mệt mỏi hổn hà hổn hển nữa. Sau 3 tuần thì ngưng truyền máu. Sau 3 tháng gần như khỏi bệnh. Dùng Hắc Hoàng Kỳ Phương đến tháng thứ 6 thì ngưng. Bà Maria bình phục hoàn toàn như một người bình thường. Và sống đến bây giờ là đã là 13 năm và sức khoẻ rất tốt.
 
Sau vụ này báo chí Sachsen có viết bài nói đến phép lạ của một người Việt chữa bệnh Ung thư máu. Và từ đó danh tiếng của tôi khá "ồn ào" trong cộng đồng người Việt ở khu vực bên đó. (Hà hà...lúc lão Ba Đen và Gia Cần đọc đến đây thì cũng nên còm một phát báo tin sức khoẻ của bà Maria như thế nào chứ nhỉ lâu lắm rồi tớ không biết tin tức về họ)
 
Bệnh nhân thứ 2 là một kỹ sư chế tạo máy sinh ngày 20.06. 1964 đang làm việc cho hãng Airbus A380 ở Hamburg. Ông này có tình trạng cũng giống hệt như bà bệnh nhân trên kia. Cũng bị ung thư máu đã qua hóa trị nhiều lần và cũng đang trong tình trạng mỗi tuần truyền 4 lít máu. Ông này thì còn tệ hơn là bác sĩ nói may lắm thì chỉ còn sống 2 tháng nữa và hoàn toàn không còn hy vọng cứu chữa tiếp tục trừ phi có phép mầu nhiệm của Đức Chúa Trời.
 
Ông này được đưa đến cơ sở nơi tôi đang làm việc. Hồi đó năm 2007 tôi đang phụ trách chuyên môn ở Viện Châm Cứu Trung Y (Institut für Chinesische Akypunktur). Họ cũng coi như là đằng nào cũng chết đến thử một lần xem sao.
 
Vẫn là phương pháp cũ đánh dọc sống lưng bằng phép án ma (xoa bóp). Cho uống Hắc Hoàng Kỳ Phương. Vì bệnh nhân chưa đến nổi kiệt sức hoàn toàn nên tôi không cho dùng canh Thập Toàn Đại Bổ hầm khấu đuôi bò nữa mà cho uống thêm trà Linh Chi nguyên chất 100% tự nhiên. Có nghĩa là dùng nấm Linh Chi cả tai khô xay bột và pha như pha cà phê pha trà cho bệnh nhân uống. Ông này vì đã qua điều trị hoá trị nên việc hấp thụ Hắc Hoàng Kỳ Phương hơi khó khăn. Vì vậy phải hơn 6 tuần mới ngưng truyền máu và đến gần 8 tháng mới bình phục hoàn toàn.
 
Uống Hắc Hoàng Kỳ Phương do tôi bào chế đến tháng thứ 3 thì ngưng. Vì việc bào chế và nhập nguyên liệu tương đối khó khăn. Và lúc đó hãng Tisso cũng vừa sản xuất ra viên con nhộng Pro Curcumin Komplet và đã tung ra thị trường. Viên Pro Curcumin được sản xuất hoàn toàn đúng như thành phần của Hắc Hoàng Kỳ Phương không sai một phân lượng nào. Vì vậy tôi cho bệnh nhân này uống viên Procurcumin thay Hắc Hoàng Kỳ Phương.
 
Ông này là người Nga gốc Đức vốn sinh trưởng ở nước Kasachstan. Ông ta thấy ở cố hương ông ta có rất nhiều loại nấm giống nấm Linh Chi nên vội vả về quê hái sang một ít cho tôi thẩm định. Tôi thấy đó đúng là nấm Linh Chi thật mà lại là loại cực hiếm Huyết Linh Chi. Vì vậy ông ta đã về quê và nhờ một công ty dược phẩm ở đó bào chế nguyên chất đóng thành viên con nhộng và nhập ngược lại Đức bằng đường bán buôn trên Intenet.
 
Đến nay ông ta đã hoàn toàn bình phục và đã đi làm lại bình thường. Phép màu của Đức Chúa Trời ông ta thường nhắc lại chính là bột nghệ bột tam thất và nấm linh chi.
 
Bạn có thể gọi điện thoại hay gửi thư đến hỏi quá trình ông ta từ cõi chết trở về như thế nào và qua ông ta có thể biết đặt mua viên con nhộng làm từ nấm huyết linh chi từ địa chỉ nào để bảo đảm an toàn và chất lượng nhất.
Địa chỉ:
Niklaus Waldman
Scheidelharg 3a
21159 Hamburg- Germany
Tele: 0049407026431
(Với người này bạn có thể hỏi bằng 3 thứ tiếng Nga Đức Anh)
 
Bệnh nhân thứ 3 là một phụ nữ bị cũng bị bệnh Ung thư máu bà này còn có loại Carcinoma khác đã di căn vào xương. Bệnh viện cũng thông báo hết hy vọng. Hầu hết những bệnh nhân tìm đến tôi đều là những bệnh nhân đã bị bác sĩ "tuyên án tử hình". Đó cũng là một đặc điểm của bệnh nhân Đức và có lẽ cũng là chung như vậy với những quốc gia châu Âu khác. Có bệnh đầu tiên là tới Tây Y hết thuốc chữa không còn hy vọng gì ở đó nữa mới tìm đến những phương pháp khác ngoài luồng của hệ thống bảo hiểm y tế chi phí.
 
Vẫn là Hắc Hoàng Kỳ Phương qua viên con nhộng Pro Curcumin von Tisso và trà nấm Linh Chi nguyên chất. Sau khi cắt được cơn bệnh nhờ uống thường xuyên hai thứ thuốc trên thì tôi cho bà này tập theo bộ khí công Thiên Lý Tiêu Dao nữa để phòng chống di chứng sau này. Hiên nay đã sau 3 năm trị liệu sức khoẻ của bà rất tốt qua nhiều lần kiểm tra thấy bệnh bạch cầu hoàn toàn đã biến mất.
 
Bạn có thể liên lạc với bà Doke để biết thêm kinh nghiệm:
Địa chỉ:
Dobke Claudia
Heirich-Geiek str 39
22549- Pinenberg
Tele:00494101514790
(Bằng tiếng Đức và tiếng Anh)
 
Một bệnh nữ bệnh nhân khác cũng bị bệnh bạch cầu thể Luymphoid. Thể có kèm theo ung thư hạch cũng được dùng phương pháp trên để trị liệu không những đã chấm dứt được tình trạng nguy hiểm bệnh theo hạch lên não mà cũng đã chấm dứt hoàn toàn triệu chứng của bệnh ung thư máu thể Lymphoid Leukemia.
  

Bạn cũng có thể liên lạc theo địa chỉ dưới đây để hỏi thêm kinh nghiệm:
Beukenberg Bettina
Flaßbarg 108c
22549 Hamburg-Germany
Tele: 0049408326261
(Bằng tiếng Đức hoặc tiếng Anh)
 
(Lưu ý các bạn cứ yên tâm những người này đã đồng ý trả lời và đồng ý cho công khai bệnh lý để nhằm mục đích nghiên cứu y tế nên trong khi tôi đưa ra tư liệu không bị phạm luật bảo mật tư liệu cá nhân đâu)
 
Và còn nhiều bệnh nhân khác nữa đến từ nhiều quốc gia khác nhau cũng được cãi tử hoàn sinh bằng phương pháp cực kỳ đơn giản này:
 
Đánh Cột Sống- Hắc Hoàng Kỳ Phương- Nấm Linh Chi


Một điều lưu ý cực kỳ quan trọng là liệu pháp này chỉ có tác dụng và có tác dụng với xác suất chữa khỏi bệnh rất cao gần như tuyệt đối với bệnh Ung thư máu (Leukemia) chứ có kết quả không rõ rệt với các loại ung thư khác.
 
Đây là một liệu pháp mà tôi đã sử dụng và đưa nhiều người từ cõi chết trở về các bạn có thể đưa liệu pháp này cho những lương y của bạn để dụng y nếu có người nhà mắc bệnh này. Thậm chí các bạn có thể đưa liệu pháp này ra cho những cơ sở Y tế của Việt Nam kiểm chứng và ứng dụng lâm sàng. Có thể với chức năng và qui mô nghiên cứu của họ họ có thể hoàn thành được một liệu pháp hữu hiệu cho chứng bệnh nan y này.
 

                    ĐÁNH CỘT SỐNG 

Hệ thống Du huyệt như Tâm du Phế du Cách du Tiểu trường du Đại trường du Thận du Can du....thuộc bàng quang kinh là hệ thống huyệt theo y lý cổ có tác dụng bồi bổ vận chuyển khí huyết và tác dụng kích hoạt các cơ quan nội tạng tương ứng. Nó là chính là các huyệt kích thích sự hoạt huyết sinh tinh và bổ dưỡng cho cơ thể ngoài ra còn có các tác dụng kích hoạt hoạt động của tủy sống và não bộ. Dùng phép án ma day bấm các huyệt này có tác dụng sinh tinh bổ huyết hoạt khí rất hữu hiệu. Chính vì vậy mà đây chính là biện pháp đều tiên cần phải dụng thuật khi điều trị cho người bị bệnh Bần huyết.

 

Dùng  nắm đấm ngón tay quỉ đánh dọc hai bên sống lưng như vậy
  
        
  
Có thể đánh mỗi ngày 3 lần
  
  
    
Đánh lên đánh xuống thế nào cho da đỏ rực lên là được
  
 
    
Đánh kéo dài từng chuỗi từ gần cổ xuống thắt lưng
  
   
    
Nên dùng tay đừng nên dùng các lại dụng cụ khác nhất là kim loại
  
       

                    HẮC HOÀNG KỲ PHƯƠNG
                             
                    
  Hắc Hoàng Kỳ Phương là toa thuốc có xuất xứ từ Tây tạng. Vào những năm cuối của Thế kỷ 20 đầu thế kỷ 21 Y học cổ truyền của Tây tạng (Tibet Medizin) du nhập vào các nước Châu Âu rất rầm rộ. Đặc biệt là phương pháp chữa trị ung thư bằng thảo dược. Rất nhiều ca bệnh Ung thư đã được phương pháp đơn giản này chữa trị. Truyền hình báo chí và các tập san y tế đăng tải thường xuyên về vấn đề này. Và đến nay ngoài  Y học cổ truyền Trung hoa đã được nền Y học hiện đại chấp nhận như một phương thức đặc biệt trong hệ thống Y khoa hiện hành thì Y học Tây tạng cũng được song song tồn tại hợp pháp với những luật định y tế của Châu Âu. Riêng với nước Đức về các loại thuốc thảo dược có xuất xứ từ Trung hoa Tây tạng nói riêng và từ nước ngoài nói chung thì không được các hệ thống bảo hiểm y tế thanh toán đó là luật y tế rất đặc biệt của Đức nhằm bảo vệ quyền lợi cho các nhà sản xuất thuốc hoá dược. Vì vậy các loại thuốc có nguồn gốc từ thảo dược chỉ được sản xuất trong các Công ty thuốc phục vụ cho phương pháp trị bệnh tự nhiên. Các loại thuốc này lưu hành mặc dầu được phép sản xuất nhưng không được các tổ chức bảo hiểm y tế thanh toán. Vì vậy dù có hiệu quả cao nhưng cũng rất khó đến với người sử dụng. Chỉ khi bệnh nhân không còn hy vọng vào hiệu năng của Y học hiện đại nữa họ mới tìm đến bằng hầu bao của mình. Hắc Hoàng Kỳ Phương là toa thuốc cũng nằm trong tình trạng đó. Hiệu năng của nó có thể phòng ngừa được bệnh ung thư đối với các khối u phát hiện sớm không những ngăn chặn được sự phát triển mà còn có thể co kết khối u nhỏ lại. Đặc biệt rất hữu hiệu cho việc phòng ngừa di căn sau các phương pháp trị liệu của Tây y. Nhưng nó cũng chỉ đến với bệnh nhân khi họ không còn có thể bám víu vào Bệnh viện nhà nước được nữa.
          
Nội Dung Của Hắc Hoàng Kỳ Phương:
    Hắc Hoàng Kỳ Phương là toa thuốc được thành lập chỉ từ 2 vị thuốc đó là Củ Tam Thất có màu đen nhánh như sừng (hắc) và Củ Nghệ có màu vàng (hoàng) ( ngạn ngữ : Đen như củ tam thất hoặc mặt vàng như nghệ): Toa thuốc có tác dụng tiêu ung chỉ huyết thông trệ trục ứ dùng để hoạt huyết đả thông các khối ứ bầm dập khu trục ung thủng. Tỷ lệ phối toa nguyên thuỷ là 6 nghệ 4 tam thất tuỳ chứng mà định liều dùng.
  
1) Tam Thất:
  
Cây tam thất còn có tên là Kim Bất Hoán Nhân Sâm Tam Thất Sâm Tam Thất thuộc họ Ngũ Gia Bì tên khoa học là Panax Noto Ginseng. Tam thất là củ rễ phơi khô của Cây Tam Thất Là vị thuốc rất quí vàng cũng không đổi được ( Kim Bất Hoán= Vàng không đổi). Tam thất có nhiều cách giải thích về tên gọi Bản thảo cương mục ghi là cây có 3 lá bên trái và 4 lá bên phải ( tam= 3 thất= 7). Có sách lại cho rằng lá tam thất có từ 3 đến 7 chét. Nhưng có lẽ chính xác nhất là do đặc điểm thu lượm của vị thuốc này Vì cây Tam thất từ khi gieo trồng cho đến khi ra hoa phải mất 3 năm mới ra hoa và phải sau 7 năm mới thu lượm được
Tam thất vị ngọt hơi đắng tính ôn vào hai kinh Can và Vị đặc biệt có tính dẫn tốt vào các phủ Kỳ hằng như Dạ con tuyến vú Não bộ. Có tác dụng hành ứ cầm máu tiêu thủng dùng chữa thổ huyết chảy máu cam lỵ ra máu ung thủng bị đòn tổn thương v..v..
  Chiết xuất hoạt dược Arasapomin A và Arasapomin B từ Tam thất có tác dụng hoạt huyết tiêu ung tan ứ rất tốt. Tam thất có xuất xứ từ Vân nam Quảng tây Tứ xuyên Hồ bắc Giang tây (Trung quốc). Vân nam là tỉnh trồng nhiều nhất và tam thất Vân nam được các Lương y coi là tốt nhất. Ở nước ta cũng có trồng nhưng rất ít phân bố ở Mường khương Bát xát Phà lùng Hà giang..
  Cần lưu ý tránh nhầm lẫn với cây Thổ tam thất thuộc họ Cúc trồng ở đồng bằng. Và cây Tam Thất Vũ Điệp là một loại cây không có củ khác.
     
2) Củ Nghê:
 
Nghệ còn có tên là Uất Kim Khương hoàng thuộc họ Gừng có tên khoa học là Curcuma Nghệ được trồng khắp nơi ở nước ta dùng làm gia vị và thuốc. Theo nghiên cứu mới nhất của Y học chất màu curcumin được chiết xuất từ nghệ(0 3) có khả năng thẩm thấu qua vách của tế bào và có tác dụng phục hồi những rối loạn phân huỷ năng lượng của tế bào nên có khả năng chống lại bệnh ung thư và bệnh giảm chức năng miễn dịch (HIV)
  Theo tài liệu cổ nghệ có có vị cay và đắng tính ôn vào hai kinh Can và Tỳ nghệ có tác dụng phá ác huyết huyết tích kim sang và sinh cơ(lên da) chỉ huyết ( Đàn bà có thai và sau khi sinh mà không có nhiệt kết không nên dùng)
  
3) Cách dụng toa như sau:
 
a) Đối với bệnh ung thư đã qua điều trị xạ liệu hoá liệu hay giải phẫu để ngăn chặn di căn thì dùng ngay sau khi đã thực hiện liệu pháp. Cách dùng như sau:
  Ngâm củ Tam thất vào nước cho mềm thái thật mỏng độ 12 gam thái nghệ tươi cũng từng lát mỏng độ 18 gam để chung hai thứ đem chưng cách thuỷ hay để vào bát hấp trên nồi cơm khi chín đem ra ăn khi đang nóng trước bữa ăn độ 2 tiếng đồng hồ có thể chiêu với nước cơm thì tốt hơn.
  Ăn độ 21 ngày đến 1 tháng như vậy thì ngưng. Sau đó dùng toa tán bột cũng với tỷ lệ 4 phần Tam thất 6 phần Nghệ ngày 1 lần mỗi lần 7 gam chiêu với một muỗng cà phê dầu mè (vừng) mà nuốt.
  
b) Đối với bệnh ung thư giai đoạn 1 được phát hiện  sớm  thì thành phần có thay đổi 18 gam Tam thất và 18 gam Nghệ cách dùng như trên. Kết  hợp với luyện tập  Tĩnh công ( Lục tự Quyết) thì cách này có tác dụng ngăn chặn sự phát triển và co kết khối u rất tốt ( có nhiều trường hợp Ung thư vú Ung thư dạ con đã dùng toa này mà không cần các phương pháp trị liệu khác khối u không phát triển nữa và co kết lại)
  
c) Toa này được thay đổi thành phần 3 tam thất 7 nghệ tán thành bột ngày uống 3 lần mỗi lần 5 gam chiêu với dầu vừng.  Đây chính là toa Hắc Hoàng Kỳ Phương dùng trong bệnh Leukemia - Ung thư máu- Bệnh bạch cầu hay là máu trắng

Hãng Dược Liệu Tự Nhiên Tisso có loại thuốc con nhộng cũng được bào chế từ công thức trên giá thành đắt (40 euro/60 viên dùng cho 1 tháng) mà tác dụng không hiệu quả bằng toa tán bột nhất là ở Việt nam thì toa này quá dễ và rất rẽ để sử dụng.

Bạn có thể gõ vào google để đọc thêm về các loại thuốc của hãng này và cách đặt mua loại thuốc tương đương như Hác Hoàng Kỳ Phương này
  
  

                 Trà nấm Linh Chi


Rất đơn giản lấy nấm linh chi phơi khô tán bột nguyên chất mỗi ngày dùng ba tách mỗi lần pha độ một thìa canh đầy bột Linh chi có thể chiết pha nhiều lần nước mà dùng dần.

Nấm cổ linh chi độ 50 năm tuổi thu lượm ở rừng Cúc Phương
     
 
    
Một tai nấm linh chi 3 năm tuổi nuôi trồng công nghiệp từ Hàn Quốc
      
  
    
Giống của Hàn Quốc chính là giống Huyết Linh Chi nhưng chất lượng nuôi trồng công nghiệp rất kém. Còn giống của Cúc Phương là Huyền Linh Chi tuy danh tiếng không bằng Huyết Linh Chi nhưng chất lượng tự nhiên hơn
  
  
  
Bề dày của tai cổ linh chi Cúc Phương đã gần như hóa gỗ nhưng tác dụng điều hòa cực tốt
  
  
  

Tai nấm của Hàn Quốc nhẹ hều xốp không có chất lượng  
_________
  
Mọi thắc mắc về liệu pháp cách ứng dụng và liều dùng đều được tư vấn cặn kẽ qua comment ở topic này  
 
Người thực hiện Lương y Thanh Long Quảng Nhẫn  
24.12.10

More...

TUYỆT CHIÊU ĐẢ THÔNG KINH MẠCH (Tư Liệu)

By Lê Thuận Nghĩa

                   

Hiệu quả có tính chất quyết định nhất trong việc chữa bệnh của Châm Cứu là đả thông kinh mạch. Cho dù là phép ôn bổ hay là thanh trọc trục uất tả bí thì thủ pháp của Châm Cứu cũng lấy việc đả thông kinh mạch làm thuật chính.
 
Mặt khác về y lý bệnh lý học Đông Phương khẳng định nguyên nhân chủ yếu gây nên tình trạng mất cân bằng âm dương và chánh khí bị suy giảm là do kinh mạch huyệt vị bị bế tắc gây nên. Chính kinh mạch bị bế tắc mới gây nên tình trạng khí huyết không lưu thông. Mà trăm thứ bệnh bệnh nào mà chả không do nguyên nhân khí huyết không lưu thông gây nên chứ.
 
Từ những bệnh rối loạn chức năng ở tuổi trẻ đến những bệnh thoái hóa ở tuổi già tất tần tật cũng do cái kinh mạch bị bế tắc mà gây nên. Vì vậy thủ pháp đả thông kinh mạch là một thủ pháp đặc biệt quan trọng và có tính chất quyết định trong liệu pháp y học cổ truyền. Kể cả phép ôn bổ nếu như không đả thông kinh mạch trước mà cứ chồng chất tấp thêm các chất bổ dưỡng thì đôi khi lại góp phần tạo thêm sự uất trệ nữa đó là lợi bất cập hại của phép ôn bổ khi khí huyết chưa được lưu thông trong kinh mạch.
 

          


Thuật đả thông kinh mạch của Châm cứu lấy hai thủ pháp Tả và Bổ làm chính. Tạm hiểu nôm na là chỗ nào khí huyết uất trệ thì dụng pháp Tả(làm bớt đi). Chỗ nào khí huyết suy yếu thì dụng pháp Bổ (thêm vào). Phép Tả-Bổ lại qui về các thủ pháp dụng phép Mẫu Tử Huyệt (hư bổ Mẫu thực tả Tử) hay là thuật Thuận- Ngịch ( Bổ tấn kim thuận đường kinh Tả tấn kim nghịch đường kinh rồi thuật Xả- Bế (Tả lúc thoái kim từ từ rút kim ra day bấm xả khí Bổ thì thoái kim nhanh bịt vết châm kim)...v..v...
 
Nhưng dù dụng thuật gì thì gì muốn có kết quả khả quan cũng phải đạt đến ngưỡng châm của sự đắc khí. Nếu thủ thuật không đặt đến độ đắc khí thì dụng thuật gì cũng vô dụng hoặc có tính chất "lang băm" mà thôi. Đặc biệt trong thuật đả thông kinh mạch thì nếu không châm đắc khí thì chẳng đời nào có thể đả thông kinh mạch được cả
 
Mà muốn châm đặt đến ngưỡng đắc khí đâu phải là dễ. Nó không những đòi hỏi sự hiểu biết thấu đáo về hệ thống kinh mạch huyệt vị mà còn đòi hỏi một bề dày kinh nghiệm của thuật tấn kim rất điêu luyện mới đạt được dễ dàng ngưỡng đắc khí.
 
Kỹ thuật để nhanh chống đặt đến ngưỡng đắc khí hoàn toàn phụ thuộc vào kỹ thuật tấn kim và vê kim của Châm Sư.  Một Châm Sư tài ba là một châm sư trong thời gian ngắn nhất sử dụng ít kim nhất mà đặt đến độ đắc khí sâu nhất để đả thông kinh mạch.

Ngày nay các chuyên viên châm cứu được đào tạo từ trường lớp chính qui rất hiếm người có kỹ thuật tấn kim đặt được ngưỡng đắc khí. Hầu hết khi họ ra hành nghề đều là những "thợ" lụi kim chứ không phải là những Châm Sư. Đặc biệt các bác sĩ có bằng cấp châm cứu tốt nghiệp ở cách trường đại học Y ở phương Tây thì hầu hết họ là những thợ lụi kim thật đúng nghĩa.

Trong hàng ngàn bác sĩ châm cứu đang hành nghề châm cứu ở các bệnh viện các phòng mạch châm cứu ở châu Âu tìm cho ra một người có khả năng châm đắc khí là chuyện khó như mò kim đáy bể.

Còn nói để tìm ra được một người có thể dụng được các thuật Thiêu Sơn Hỏa Thấu Thiên Lương Cửu Chuyển Châm Nhật Nguyệt Thần Giao Ngũ Thất Châm.....thì còn khó hơn đi bộ lên trời

Rất đơn giản để lý giải về vấn đề này vì họ vốn là những bác sĩ đã tốt nghiệp một chuyên khoa y tế nào đó chỉ cần đi học thêm 120 tiếng về châm cứu là có thể có bằng châm cứu để hành nghề rồi. 120 giờ thì chưa đủ thời gian để "cưỡi ngựa xem hoa" trong kinh mạch huyệt vị chứ đừng nói chi biết đến những cảnh giới khác trong nghề châm cứu. Vì vậy lúc hành nghề họ cũng đành phải "cưỡi ngựa xem hoa" trên bệnh lý của bệnh nhân mà thôi.

Họ chẩn bệnh bằng xét nghiệm và đo đặc bằng máy móc không phải là Vọng-Văn-Vấn-Thiết rồi lật sách ra bệnh gì châm kim chỗ nào găm mấy phát kim vào đó gắn thêm mấy nguồn điện kích thích bấm thời gian cho y tá hay phụ tá nhổ kim. Xong lấy tiền...
 
Nhìn những bác sĩ Tây châm cứu và "chặt đẹp" ở các trung tâm vật lý trị liệu chúng ta không hết hồn thì không phải là người
 
Mà không kể gì ở châu Âu ở cái nôi có nguồn gốc châm cứu là Trung Quốc và Việt Nam cũng chẳng khá gì hơn. Những bác sĩ Đông Y tốt nghiệp chuyên khoa y học dân tộc ra họ cũng được đào tạo kiểu thợ lụi kim như vậy mà thôi
 
Ở Trung quốc và ở ta cũng vậy các chuyên gia các châm sư tài năng rất ít khi trực tiếp với con bệnh trừ khi là những con bệnh "đại gia". Có thể họ là người chẩn bệnh nhưng trực tiếp tấn kim trên con bệnh thì không họ chẩn trị và ra toa châm cứu cho y tá phụ tá hay học trò "lụi kim".
 
Không thể trách họ được vì với một châm sư tài giỏi ắt danh tiếng lẫy lừng và có rất đông bệnh nhân tìm đến. Thủ thuật dụng huyệt cho đắc khí không đơn giản và không phải bất kỳ con bệnh nào cũng có thể đặt đến ngưỡng đắc khí như ý muốn. Vì vậy muốn dụng thuật đắc khí vị châm sư phải cần rất nhiều tâm huyết sinh lực và thời gian. Với một châm sư có độ hàm dưỡng chân khí sâu rộng trung bình mỗi ngày có thể dụng châm cho khoảng 10 đến 15 người theo thuật đạt ngưỡng châm thực sự. Trong khi con số bệnh nhân có thể là hàng chục có khi đến hàng trăm người mỗi ngày thì làm sao mà họ có thể trực tiếp dụng châm được.
 
Vì vậy việc tìm ra một thủ thuật châm cứu vừa dễ dàng đạt đến ngưỡng đắc khí có khả năng đả thông kinh mạch nhanh vừa tiện lợi và với trình độ châm gia nào cũng có thể ứng dụng được là một việc làm có thể khắc phục được tình trạng "lang băm" trong nghề châm cứu mang tính chất "đại trà" hiện nay.
 
Trong thời gian hành nghề châm cứu ở phương Tây tôi rất bức xúc với thủ pháp châm cứu của các đồng nghiệp và ngay chính cả học trò của chính mình cũng vậy. Đòi hỏi hỏi họ có những thủ pháp tấn kim và vê kim cổ truyền để đạt đến ngưỡng đắc khí trong thuật châm là một việc làm mang tính chất "tưởng tượng". Vì vậy tôi đã mày mò và tìm ra được một phương pháp kết hợp. Không cần đến thủ thuật của Châm Sư mà vẫn dễ dàng đạt được ngưỡng đắc khí trong thời gian ngắn nhất để đả thông kinh mạch và huyệt vị.

Đó là thuật "Quang Kích Ngủ Hành Châm". Thuật này kết hợp giữa thủ pháp Bì Phu Châm cổ truyền với tác động của điện từ và kích huyệt bằng tia laser của châm cứu hiện đại.

Tóm tắt nguyên lý như sau:
 
- Xác định kinh mạch bị bế tắc khí huyết không lưu thông
- Xác định huyệt vị bị bế tắc hay huyệt vị cần đắc khí đả thông
- Dùng 4 kim châm dụng thuật bì phu châm châm 4 xung quanh huyệt Chỗ châm cách huyệt cần đắc khí khoảng 1 đến 1 5 cm   hướng mũi kim 45° vào huyệt.
- Bắn tia điện từ và chiếu tia laser lên huyệt.
 
Điều quan trọng nhất của thủ pháp này vẫn là vấn đề xác định kinh mạch bị bế tắc và huyệt cần phải được châm đắc khí. Thủ pháp xác định huyệt vẫn phải cần kinh nghiệm và sự hiểu biết của Châm gia về bệnh lý học và huyệt vị học trong y lý cổ truyền. Riêng với bệnh đau nhức thì cần phải xác định Á huyệt tức là chỗ trực tiếp trên cơ thể bị bế tắc và có cảm giác đau khi ấn day vào.
 

           

Xác định kinh mạch bị bế tắc bằng Vọng-Văn-Vấn-Thiết
  


Riêng tôi và một số học trò của tôi đang sử dụng máy đo sinh khí Prognos thì việc xác định kinh mạch và huyệt vị bị bế tắc khá đơn giản. Vì lúc đo khám bệnh cho bệnh nhân. Máy có biểu đồ xác định kinh mạch nào khí huyết bị bế tắc và huyệt nào ở kinh mạch đó là điểm đang bế tắc rất rõ ràng. Xác định được kinh mạch bế tắc huyệt bế tắc. Ứng dụng ngay thuật Quang Kích Ngũ Hành Châm đôi khi chỉ cần một lần châm kinh mạch được đã thông ngay bệnh lý chuyển biến ngay lập tức. Nhiều căn bệnh nhất là bệnh đau nhức cấp tính chỉ một lần châm là hết bệnh.


 

Kiểm tra tình trạng khí huyết cho bệnh nhân qua máy đo sinh khí Prognos
 


Có nhiều căn bệnh kinh niên chỉ cần 3 đến 5 lần châm là hết. Rất nhiều trường hợp người bị bệnh Thiên đầu thống (Migräne) đã hàng chục năm nhưng khi xác định huyệt có khí huyết bị bế tắc qua máy Prognos và dụng thuật Quang Kích Ngũ Hành Châm chỉ 3 lần là vĩnh viễn hết bệnh. Ngoài ra các bệnh nan y như bệnh Đau dây thần kinh tam thoa bệnh ù tai kinh niên bệnh chóng mặt mất ngủ bệnh co giật ..cũng chỉ cần vài ba lần châm đắc khí qua thuật Quang Kích Ngủ Hành Châm là khỏi.

Máy đo sinh khí Prognos xác định kinh mạch nào và huyệt vị nào bị bế tắc qua biểu đồ sinh khí cụ thể ở đây là Bàng Quang Kinh bị bế tắc của người bệnh bị đau lưng
 
 

Sau khi xác định được kinh mạch bị bế tắc và xác định huyệt cần châm đắc khí để đả thông thì dụng thuật Quang Kích Ngũ Hành Châm
  

Đầu tiên là dùng thủ pháp Bì phu châm dùng 4 kim to tấn kim ở bốn vị trí xung quanh huyệt cần đắc khí vị trí cách huyệt khoảng 1 đến 1 5 cm mũi kim luồn dưới da hướng vào trung tâm huyệt
 
 

Lúc tấn kim xong thường thấy phản ứng kim có các vạch màu đỏ trên da màu đậm về dần về phía trung tâm huyệt
  


Có thể dùng bút để xác định điểm huyệt cho chính xác khi bắn tia điện từ là tia laser
   
 
 
Nếu bút phóng tia điện từ và bút phóng tia Laser khác nhau thì nên bắn điện từ trước
  
 
  

Sau đó mới chiếu tia laser ở đây bút có hai tác dụng vừa bắn sóng điện từ vừa chiếu tia laser thời gian chiếu tia cường độ điện từ tần số dao động tia tùy thuộc vào từng huyệt khác nhau và mức độ bế tắc khác nhau thông thường dao động từ 5 đến 15 phút thì đạt ngưỡng đắc khí.
 

Phương pháp này đặc biệt rất có hiệu quả với các á huyệt (huyệt bấm đau). Với những người bị bệnh đau lưng cổ vai hông đầu gối...cấp tính chỉ cần xác định được điểm đau dụng thuật này chỉ cần một lần châm là hết đau ngay.

 

                 Máy phóng điện từ và tia laser


Cách đây khoảng 5-10 năm loại bút phóng điện từ và tia laser y tế cực đắt hiện nay các loại bút này được sản xuất rất nhiều giá thành rất rẽ tùy theo chất lượng và tác dụng có thể du di tì 250 Euro đến hàng chục ngàn Euro. Loại sử dụng cho liệu pháp Quang Kích Ngũ Hành Châm chỉ cần loại đơn giản từ 250 đến 500 Euro là được. Vừa qua tại hội chợ Quốc tế dụng cụ y tế ở Đức tôi thấy loại bút này các hãng của Nhật Đại hàn Hồng Kong và Trung quốc quảng cáo rất nhiều và giá thành tính ra Euro chỉ độ 150 đến 500 euro thôi.
  
       Tôi đang chiếu laser châm đắc khí huyệt Hợp Cốc chữa bệnh đau đầu cho bệnh nhân theo thuật QKNHC
 
    


Thuật Quang Kích Ngủ Hành Châm này chỉ mới là kinh nghiệm cá nhân và chỉ mới truyền bá trong giới đồng nghiệp và học trò của tôi. Nó chưa thực trở thành một liệu pháp có tính chất truyền bá rộng rãi. Vì muốn nó hoàn chỉnh thành một phương pháp thực sự thì còn đòi hỏi còn có nhiều ứng dụng lâm sàng và đo đạc thực nghiệm cụ thể mới trở thành một phương pháp ứng dụng rộng rãi được. Ví dụ dùng hệ thống máy đo sinh khí để xác định huyệt nào cần tần số điện từ bao nhiêu tần số dao động tia laser bao nhiêu thời gian bắn điện từ và chiếu tia bao lâu v..v...khi đó mới hoàn thiện thành một liệu pháp có giá trị ứng dụng được.
___________
 
Phụ lục về máy đo Prognos:
 


Một thầy thuốc đông y tài ba trước tiên phải là một người có kiến thức uyên thâm về bệnh lý học Đông phương. Và phải cực kỳ tinh nhạy và thấu triệt về Tứ Chẩn. Cái quyết định thủ pháp của một Lương Y hay là Lang Băm (thậm chí là một đao phủ) là do sự quyết định của Tứ Chẩn. Và có lẽ trong Tây y cũng vậy nếu không xác định đúng nguyên nhân gây bệnh thì mọi ứng dụng thủ pháp y thuật khác đều trở thành Bá đạo và Ma đạo. Dù người thầy thuốc có Tâm của một Từ mẫu nhưng nếu như họ không có trình độ uyên thâm về Tứ Chẩn thì họ cũng chỉ là một Lang Băm mà thôi. 
 
Việc ứng dụng kiến thức tổng hợp đa dạng để xách định tình trạng Hư-Thực Âm-Dương Biểu-Lý Hàn -Nhiệt  của Khí Huyết trong từng Kinh Mạch trong cơ thể người bệnh là tiên đề quyết định kết quả của liệu pháp Y thuật.
 
Để xác định tình trạng của Khí Huyết (Một đại lượng không thực thể không nhìn thấy không nghe được không sờ mó được và chỉ cảm nhận ra sự tồn tại của nó bằng những lý luận Âm-Dương Ngũ Hành rất mơ hồ) trong 14 kinh chính và hàng chục lạc mạch khác để xác định nguồn gốc gây nên sự mất cân bằng và làm suy tổn chức năng hoạt động của cơ thể chỉ bằng các phương pháp cảm nhận từ kinh nghiệm : Nhìn Nghe Hỏi và Sờ Nắn (bắt mạch) (Tứ chẩn= Vọng Văn Vấn Thiết) chứ không có một dụng cụ trợ giúp nào hay một thiết bị hóa nghiệm nào cả. Nó không những đòi hỏi người thầy thuốc phải uyên thâm về bệnh lý mà đòi hỏi còn có một bề dày kinh nghiệm sâu sắc và nhạy bén. Và có thể còn lệ thuộc vào những yếu tố huyền bí khác nữa như căn cơ và duyên phận của người Thầy thuốc với con bệnh.
 
Thầy thuốc hành nghề bắt mạch ra toa thì có nhiều nhưng để có một thầy thuốc Đông y "mát tay" thì cực hiếm. Và để có được thủ pháp của một "Thần y" thì quả là hy hữu. Chỉ có thể trong "muôn vạn người có một" mà thôi. Và như đã nói trên sự quyết định thủ pháp của Thần Y chính là nhờ vào nghệ thuật của Tứ Chẩn.
 
Máy Prognos kết quả sau 17 năm hợp tác nghiên cứu của những khối óc siêu việt về hai lĩnh vực Tây và Đông y cùng với những trí tuệ hàng đầu thế giới về Vật Lý Lượng Tử Vật Lý Không Gian những chuyên gia về Toán học Hóa sinh hiện đại...v..v..đã đáp ứng được yêu cầu "Tứ Chẩn" bằng những thông số của khoa học thực nghiệm.
 
Máy sử dụng một bút tiếp xúc điện từ và cảm ứng hồng ngoại để tiếp xúc với các huyệt cuối và đầu của 12 kinh chính trên các đầu ngón tay và ngón chân. Sau đó thông tin được đưa vào một một lập trình điện toán và xử lý bằng các thông số của dao động âm thanh cảm ứng sóng điện từ cảm ứng sinh điện quang phổ và các sóng hạt khác..và xác định thông số tương ứng của tình trạng Khí Huyết trong từng kinh mạch một
  .

Prof. Dr. med V. Polyakov cha đẻ của máy Prognos người đặt nền tảng cho trường phái Kosmosmeizi (Y học vũ trụ).  Giáo sư đang hoàn thành những giai đoạn khảo nghiệm máy Porognos trong trạng thái không trọng lượng trên tàu vũ trụ Mir của Nga
  
  _______________
_____________  
 Prof. Dr. med V. Polyakov và  Prof. Dr. med W.A Zagriadski trong cuộc hội thảo quốc tế về máy Prognos tại Berlin- Đức
     
 ______________________________
Prof. Dr. med V. Polyakov và  Prof. Dr. med  M.A.S Ghori (Người có công đưa máy Prognos phổ cập ở Đức một trong những người tiên phong của khoa Bio-Energie Therapia - Điều trị bằng năng lượng sinh học) _
   
______________________  
Đại sứ đặc mệnh toàn quyền Nga tại Đức trao quyết định lưu hành máy Prognos tại Đức cho Prof. Dr. med  M.A.S Ghori
  
 _________________________
Tôi đang báo cáo kết quả nghiên cứu về vòng Thái Âm Chân Khí đo được trên máy Prognos với Giáo sư M. Ghori
 
   

Báo cáo kết quả ứng dụng lâm sàng của Thảo dược lên vòng Thái Âm Chân Khí để chống Ung thư 
 
 

                 

kiểm tra tác dụng của chiết xuất thảo dược trên máy Prognos
  
 



Tôi và Giáo sư M.Ghori đang sử dụng máy phóng điện từ trực tiếp vào Mitochondrien (Ty thể tế báo) trong một ca phòng chống di chứng Ung thư phổi sau hóa trị. Theo kết quả chỉ định của máy Prognos



 
  


Kiểm tra lại kết quả hoạt khí trong kinh mạch cho bệnh nhân bị bại liệt sau đột quị qua máy Prognos
   

Hàng năm tổ chức nghiên cứu về Kosmosmedizin ở Nga thường có những phần mềm mới cho máy Prognos. Và thông thường khi phổ cập phần mềm mới thì đích thân Đại sứ đặc mệnh toàn quyền Nga và Bộ trưởng y tế nước sở tại có lưu nhập máy Prognos đều đến dự. Năm 2010 phần mềm mới là chương trình đo đạc dự báo khả năng và thời gian có thể xảy ra tai biến mạch máu não cho bệnh nhân áp suất máu cao. Phần mềm mới cho năm 2011 sẽ được phổ cập vào tháng 2 năm 2011 tại Berlin. Phần mềm này là chương trình đo đạc sinh khí và các hàm tố vi lượng trong cơ thể để có thể dự báo trước khả năng bị nhiễm bệnh Ung thu và phương pháp phòng ngừa tích cực.
  

Mỗi phần mềm có giá lưu thông xê dịch từ 4000 đến 6000 Euro.
 

Tôi đã nhiều lần tiếp xúc với giới Y tế nước ta để đưa máy Prognos về Việt Nam nhưng không có khả thi vì gặp trở ngại bởi chế độ độc quyền của các trung tâm Thiết bị y tế Việt Nam. Các trung tâm này chuộng nhập thiết bị của Tàu hơn là các thiết bị có nguồn gốc châu Âu.
  

Vào đầu tháng 2 năm 2011 theo kế hoạch lại một lần nữa tôi sẽ cùng với Giáo sư M.Ghori sẽ bay về Việt Nam để báo cáo dự án nuôi trồng thảo dược chống Ung thư tại tỉnh Quảng Bình. Trong chương trình có một buổi báo cáo về máy Prognos của Giáo sư M.Ghori. Khi có thời gian và địa điểm cụ thể tôi xin thông báo nếu đồng nghiệp nào có hứng thú về máy Prognos xin đến tham dự



20.12.10
TN

More...