COI NHƯ LÀ BỐC PHÉT (Cấm tuyệt đối trẻ em dưới 40 tuổi)

By Lê Thuận Nghĩa

Khi có người bạn đọc trên báo Việt tin tức về Lương Y Võ Hoàng Yên chữa bệnh bằng bấm huyệt thần tốc ở huyện Cái Nước tỉnh cà Mau . Với những căn bệnh hiểm nghèo như bại liệt sau đột quị câm điếc mù...nhưng chỉ cần vài phút "búng" vài ngón tay Lương y  VHY có thể chữa khỏi bệnh như một phép nhiệm mầu. Người bạn ấy hỏi tôi chuyện đó có thật không? Đứng trên phương diện là một Châm sư ông có ý kiến gì?. Tôi không chần chừ mà trả lời ngay rằng đương nhiên là sự thật nếu một Châm sư am hiểu tường tận về Kinh mạch huyệt vị thấu ngộ được bệnh lý học và có một nguyên lực sung mãn về nội công thì việc bấm huyệt bằng cách vận công vào chỉ lực còn có hiệu quả phi thường hơn hàng chục lần châm cứu đắc khí nữa chứ  (xem thêm phần phụ lục)
 
Tôi nhớ khi gặp Khí Công Sư John Chang ở Hội Thảo Quốc Tế Về Khí Công ở Áo Quốc. Sau khi xem vị Châm sư Nhà khí công tài ba này biểu diễn những kỳ tích nội lực của ông bằng cách vận công tác động khí lực lên kim và xem ông "phóng chỉ" điểm huyệt chữa bệnh. Cũng như xem ông biểu diễn những công phu phi thường về khí công mà ông đã đạt được. Tôi có nói đùa với Ông " Nhìn bề ngoài thì có vẻ như ngài đang vận Cửu Dương Thần Công với tuyệt chiêu Nhất Dương Chỉ nhưng suy ngẫm lại thì hình như toàn bộ công phu của ngài đều có từ căn bản của Cửu Âm Chân Kinh". Master Chang cười an nhiên như hoa ưu đàm trả lời tôi:  "Tôi không ngờ lại được gặp một đồng nghiệp thấu hiểu Kim Dung đến vậy".
 
Hóa ra Master Chang cũng là một "tín đồ" của Kim Dung như tôi. Nhờ cơ duyên "Kim Dung" chúng tôi đã có những cuộc trò chuyện rất tâm đắc về nghề nghiệp. Đặc biệt là vấn đề Khí Công và tác dụng của việc vận đụng chân khí tương tác lên kim châm nhằm tăng hiệu quả của đắc châm.
 

Khí công sư John Chang và các nghiên cứu khoa học về khả năng siêu phàm của ông:



Trong những lần gặp gỡ sau giờ hội thảo. Master Chang đã mở mang cho tôi rất nhiều kiến thức về "Kim Dung Học". Bằng những kiến thức uyên thâm của ông về Võ học cũng như Y đạo và Khí công. Ông chiết giải xuất xứ thật sự những pho tuyệt thế võ công trong Kim Dung. Ông nói Kim Dung có sự vận dụng rất kỳ ảo những kiến thức về Y học. Dưới ngòi bút uyên bác của Ông "cửu chuyển trường sinh công" đơn giản của Đạo gia đã trở thành tuyệt thế võ học vô tiền khoáng hậu "Cửu Âm Chân Kinh" với vô vàn những "tuyệt học" làm táng đởm kinh hồn ...người đọc...hà hà...ví dụ như Cửu Âm Bạch Cốt Trảo của vợ chồng Mai Siêu Phong Ngọc Nữ Tâm Kinh của Lâm Triều Anh Đàn Chỉ Thần Công của Đào Hoa Đảo Chủ Song Thủ Hổ Bác của Lão Ngoan Đồng Ám nhiên tiêu hồn chưởng của Dương Quá Lục mạch thần kiếm của họ Đoàn..v..v...

Lúc bàn về "Ám nhiên tiêu hồn chưởng" của Dương Quá. Master Chang nói "Ám nhiên tiêu hồn chưởng" phát sinh từ câu kệ "Ám nhiên tiêu hồn giả/ Duy biệt nhi kỷ hỹ". Sau đó ông đọc cho tôi nghe bài  "Biệt phú" của Giang Yên.

1.Tâm kinh nhục khiêu
2.Khởi nhân ưu thiên
3.Đà nê đới thủy
4.Vô trung sinh hữu
5.Bồi hồi không cốc
6.Lực bất tòng tâm
7.Hành thi tẩu nhục
8.Đảo hành nghịch thi
9.Phế tẩm vong thực
10.Cô hình chích ảnh
11.Ẩm hận thôn thanh
12.Lục thần bất an
13.Cùng đồ mạt lộ
14.Diệp vô nhân sắc
15.Tưởng nhập phi phi
16.Ngai nhược mộng kê
17.Ngọc Nữ tâm kinh
  
Ông nói đó chính là 17 chiêu thức của Ám Nhiên Tiêu Hồn mà Kim Dung đã sáng chế ra cho Dương Quá.
 
Lúc bàn sang Thạch Phá Thiên trong Hiệp Khách Hành Master Chang cười rất chi là sảng khoái. Ông nói Kim Dung thật là thiên tài "bịa đặt". Chỉ với bài thơ "Hiệp Khách Hành của Lý Bạch cùng với cái loăng quăng ngoảy đuôi của mấy con nòng nọc mà ông đã đưa lại cho người đọc sự mê mẫn kinh hồn với 24 pho tuyệt kỷ võ công khắc trên đảo Long Mộc. Nói xong ông đọc bài Hiệp Khách Hành:
 
Triệu khách mạn hồ anh
Ngô câu sương tuyết minh
Ngân yên chiếu bạch mã
Táp đạp như lưu tinh
Thập bộ sát nhất nhân
Thiên lí bất lưu hành
Sự liễu phất y khứ
Thâm tàng thân dữ danh
Nhàn quá Tín Lăng ẩm
Thát kiếm tất tiền hoành
Tương chá đạm Chu Hợi
Trì trường khuyến Hầu Doanh
Tam bôi thổ nhiên nặc
Ngũ nhạc đảo vi khinh
Nhãn hoa nhĩ nhiệt hốt
Ý khí tố nghê sinh
Cứu Triệu huy kim chuỳ
Hàm Đan tiên chấn kinh
THiên thu nhị tráng sĩ
Hiên hách Đại Lương thành
Túng tử hiệp cốt hương
Bất tàm thế thượng anh
Thuỳ năng thư các hạ
Bạch thủ Thái Huyền Kinh
 
Cuối cùng trước ngày "rã đám" hội thảo. Master truyền lại cho tôi một bộ khí công ông nói đó là "Cửu Chuyển Trường Sinh Công" một bộ khí công thượng thừa của Đạo gia. Ông nói nhờ bộ khí công này mà ông "đắc ngộ" được công phu hiện giờ mà ông đang có. Sau khi truyền bộ khí công này cho tôi ông cho tôi "tâm pháp bí truyền" của nó bảo tham thấu nó rồi sẽ có những thành tựu rất phi thường:


Cửu Chuyển Truờng Sinh Công tâm pháp:
  
1
Chân âm phế khởi
Trung phủ Thiếu thương
Cuộn về đại chỉ
Bất đoạn thất thường
 
2
Thiếu thương trung chưởng
Trung chỉ Trung xung
Tâm Bào  hoạt lạc
Thiên trì tận cùng
 
3
Thiên trì Cực tuyền
Tâm hỏa dịu êm
Thiếu xung đậu nhẹ
Bồng bềnh nhưng bền
 
4
Thiếu xung Cực tuyền
Ngịch lộ chân nguyên
Tàng tích tam muội
Thủy lộ Tiên Thiên
 
5
Cực tuyền Du phủ
Ám ám u huyền
Ngoại hùng nhu nội
Uyên uyên Dũng tuyền
 
6
Dũng tuyền Ẩn bạch
Tỳ thổ Đại bao
Hoạt Hậu chân khí
Phồn dâng lên cao
 
7
Đại bao Kỳ môn
Căn rễ rẽ dồn
Diệp can hồi cội
Hòa tán Đại đôn
 
8
Đại đôn Kỳ môn
Sinh khắc huyết bồn
Châu thân thanh trọc
Tán uất trục tồn
 
9
Kỳ môn Trung phủ
Mộc thịnh nương Kim
Dị mạch Lục kinh
Cửu cửu trường sinh
 
Truyền xong tâm pháp ông lại ngửa mặt cười rất khoái chí nói:  "Chỉ có vậy thôi mà Kim Dung cho ra đời Cửu Âm Chân Kinh táng đởm kinh hồn quần hùng kim cổ đấy".
 
Cửu Chuyển Trường Sinh Công:


  

 
alt

   Đứng buông lỏng chân rộng bằng vai Tâm bất động và từ từ nương theo hơi thở hít sâu vào đan điền (khí tụ)

  

 
alt
Giữ nguyên trạng thái khí tụ đan điền cúi xuống tay trái ngửa úp vào phía trong bàn chân trái tay phải chưởng pháp úp hờ vào phía sau lưng hông phải
 

  

alt

Tả chưởng vuốt hờ dọc hờ phía trong chân qua bẹn lên vuốt úp vào hông trái hữu chưởng vuốt từ lưng xuống phía sau cẳng chân nghiêng người qua bên trái tay trát duỗi ra tay phải hất vòng lên phía trước lên úp vào vòm ngực trên bên trái..

  

  alt

Từ từ vận khí ra đồng thời thở ra bằng mồm (Vận khí theo tâm pháp) tay phải chưởng úp vào phía vai trong từ từ nương theo hơi thở vận khí ra ngoài ngón tay trái lòng tay phải vuốt đến đầu ngón tay "tâm pháp" thì cũng vừa dứt hơi thở ra

alt

    

 
alt
Từ từ hít vào vận khí nương thao lòng bàn tay phải vuốt hờ lên phía sau cánh tay trái lên phía hông vai

 

alt

Đến đây bắt đầu tụ khí đan điền...

 

 

alt

 

 
alt
Tay trái úp xuống gập vào trong cả cánh tay trái úp lên cánh tay phải bàn tay trái úp vào khủyu tay trong tay phải bàn tay phải đở dưới cùi chỏ tay trái từ vận khí nương theo hơi thở ra phải thật tịnh tâm để theo giỏi cảm giác hai luồng chân khí từ hai lòng tay giao hòa cọ xát thúc cuộn vào nhau.
Bắt đầu một hơi thở mới và thực hiện lại thức nà phía bên phải. Mỗi bên thực hiện 9 lần (18 lần 2 bên). Cứ mỗi lần mỗi bên đều vận khí đi theo Tâm Pháp đã ghi trên
  
 

  


Vì chưa có thời gian trì luyện Cửu Chuyển Trường Sinh Công cho nên tôi chưa thấu ngộ được sự huyền vi của nó nhưng khi đã tham ngộ được tâm pháp mỗi khi đọc lại Kim Dung tôi thường ôm bụng cười ngất và văng tục "Mịa cha này là tổ sư bịa"... he he....
 
Cho dù chưa vận được chân khí theo cửu chuyển như tâm pháp nhưng nếu hành giả khí công chuyên tâm trì luyện thuận theo hơi thở tự nhiên như bài khí công này thì cũng đã chỉ cần mấy "phát" cấu véo như này cũng đã có thể tạo được kỳ tích trong y thuật được rồi:

alt
Thái Âm Trảo (Cửu âm bạch cốt trảo he he...) cấu véo trị viêm nhức khớp vai
 

  alt

Trị đau lưng gáy...

 

 

alt
Cắt cơn choáng váng xây xẩm mặt mày của người bị tăng xong...
 

 

alt
Trị thần kinh tọa...
  

  alt

Bấu côn lôn trị bại liệt....

 

 

alt
Trị phong thấp bả vai...
 

 

alt
Thần kinh toạ....
 

  alt

 

alt


  
Ha ha...entry này chỉ xem như "một chuyện bịa đặt bốc phét" làm một cú thư giãn cuối tuần dành cho mấy "ông bạn" hâm mộ khí công đọc "chơi" cho vui thôi ai thấu ngộ được cái gì hay cái nấy. Nếu không thấu ngộ được điều gì thì từ nay không bàn đến khí công nữa. Vốn liếng của Gàn ta chỉ có đến thế thôi. Với Ngũ Hành Khí Công và Lục Tự Quyền. Gàn ta đã lo không sống được vài trăm tuổi để trì luyện còn mơ chi những thứ khác nữa...khè khè...
___
Phụ lục:

Chỉ sau vài phút bấm huyệt nhiều bệnh nhân bị bại liệt đã đi đứng được bị câm điếc nói ú ớ trở nên khỏi hẳn... Hàng trăm người dân chứng kiến đã vỗ tay tán thưởng phương pháp trị bệnh kỳ diệu “độc nhất vô nhị” ở Việt Nam của lương y Võ Hoàng Yên.

Trong hai ngày 21 và 22-4 lương y (LY) Võ Hoàng Yên (SN 1975 ngụ ấp Cái Nước thị trấn Cái Nước huyện Cái Nước tỉnh Cà Mau) - người có đôi bàn tay vàng được hàng ngàn bệnh nhân (BN) tôn vinh là “thần y” đã đến chùa Thiên Ân (P.Thuận Giao TX.Thuận An) chữa trị bệnh câm điếc bại liệt hoàn toàn miễn phí cho người dân.

Phương pháp trị liệu của LY Yên rất hiệu quả chỉ sau vài phút bấm huyệt nhiều BN bị bại liệt đã đi đứng được nhiều BN bị câm điếc nói ú ớ trở nên khỏi hẳn... Hàng trăm người dân chứng kiến đã vỗ tay tán thưởng phương pháp trị bệnh kỳ diệu “độc nhất vô nhị” ở Việt Nam của LY này.

Rủ nhau đi tìm “hạnh phúc”


Trong 2 ngày 21 và 22-4 sân chùa Thiên Ân trở nên chật kín bởi hàng trăm người dân đi xe gắn máy ô tô từ khắp nơi rủ nhau đến gặp LY Võ Hoàng Yên xin trị bệnh. Có người ở tận Phú Thọ Hà Nội Lào Cai cũng rủ nhau vào đây đi tìm hạnh phúc nhỏ nhoi của mình là mong con cháu ông bà được LY trị khỏi bệnh.

 

 

 

alt
Lương y Võ Hoàng Yên (trái) bấm khai thông huyệt đạo cho bệnh nhân Đỗ Minh Trường (An Giang)

 


Bà Nguyễn Thị Năm nhà ở tận Hà Nội bị té ngã nên bị liệt 2 chân không đi đứng được đã 6 năm nay. Tuy nhiên sau khi được LY Yên bấm huyệt đạo trong khoảng 15 phút bà Năm đã đứng lên được đi được trở lại. Nhìn khuôn mặt hạnh phúc của bà Năm sau khi đứng lên và đi lại được hàng trăm người đứng xem đã vỗ tay tán thưởng.


Sau khi đứng lên đi được trở lại sau nhiều năm ngồi xe lăn gia đình bà Nguyễn Thị Lan ngụ P.Trường Thọ Q.Thủ Đức TP.HCM đã mừng không thể tả.

Trước khi đưa vào gặp LY Yên trị bệnh bà Lan ngồi xe lăn khoảng 10 phút sau khi được LY Yên và nhóm học trò bấm huyệt đạo đẩy khớp chân bà Lan đã đứng dậy và đi được.

Nhìn nụ cười hạnh phúc của bà và chồng bà chúng tôi cũng hạnh phúc lây. “Tôi bị trượt chân té ngã và di chứng là bị liệt 2 chân đã 8 năm nay đã từng đi chữa trị nhiều nơi và hao tốn nhiều tiền bạc nhưng không hề vơi giảm. Qua bạn bè giới thiệu tôi đến chùa Thiên Ân thử vận may nào ngờ...”- bà Lan nói trong niềm vui sướng sau khi đi được từ nơi chữa bệnh ra đến gần cổng sân chùa.

Theo quan sát của chúng tôi có rất nhiều trường hợp BN bị liệt nửa người hoặc 2 tay 2 chân do nguyên nhân bị té ngã đều được LY Yên và các học trò chữa khỏi hoặc vơi giảm hẳn bằng phương pháp bấm huyệt đạo. Trong đó có cả nhiều quan chức y bác sĩ cũng đưa người thân đến chữa trị bệnh bằng phương pháp hiệu quả này và hồ hởi ra về trong vui sướng.

Lúc chưa được trị bệnh chị Huỳnh Thị Phương Nghĩa (ngụ P.Phú Hòa TX.TDM) không đi được tuy nhiên chỉ sau khoảng hơn 5 phút được LY Yên bấm huyệt toàn thân đẩy chân đập bàn chân... chị Nghĩa đã đứng lên đi được như một điều kỳ diệu hiếm thấy.

Chị Nghĩa cười vui sướng nói: “Tôi bị tai nạn giao thông và bị liệt một chân đã hơn 2 năm nay. Tôi cũng đã từng đi chữa bệnh nhiều nơi nhưng không hết. Do đó việc LY Yên chữa bệnh khỏi cho tôi hôm nay thật sự là may mắn cho cuộc đời tôi”. Nói xong chị Nghĩa từ từ bước từng bước chậm chạp ra về trong tiếng vỗ tay tán thưởng của hàng trăm người dân đứng xem.

Phương pháp trị bệnh diệu kỳ!

Chứng kiến hàng trăm người bị bại liệt câm điếc thoái hóa cột sống do tai biến được LY Yên và nhóm học trò trị khỏi cho họ bằng phương pháp bấm huyệt theo y học cổ truyền có pha lẫn cái mới riêng của LY Yên hàng trăm người dân đã thật sự tin tưởng phương pháp trị liệu này.

Ông Đỗ Vy Tân cán bộ Liên minh HTX An Giang nói: “Sau khi hay tin LY Yên trị bệnh ở chùa Thiên Ân miễn phí 2 ngày 21 và 22-4 cả gia đình tôi đã thức dậy xuất phát lúc 2 giờ sáng ngày 21-4 để từ An Giang lên Bình Dương điều trị bệnh cho con tôi là Đỗ Minh Trường (SN 1994) bị bại liệt tứ chi nói ú ớ mắt mở không ra từ nhỏ. Tuy nhiên sau khi được LY trị bệnh cháu đã thuyên giảm hẳn”.

Hàng chục người dân khác bị tai biến di chứng là bại liệt hoặc câm điếc ở trong và ngoài tỉnh đã được thầy trị giảm hẳn bệnh trong vài phút vẫn không tin vào mắt mình.

Bà Phan Thị Biệt (ngụ P.Lái Thiêu TX.Thuận An) cười rạng rỡ sau khi được trị khỏi: “Năm nay tôi 79 tuổi bị di chứng té ngã trở nên tai biến bị liệt nửa người đã 5 năm nay. Tuy nhiên sau khi được LY Yên bấm huyệt đạo tôi đã đi được trở lại. Phương pháp trị liệu của LY Yên quả thật là kỳ diệu hiếm thấy không thần bí hay mê tín dị đoan”.

Còn ông Nguyễn Văn Bai (SN 1958 ngụ 204 Nguyễn Trãi Q.1 TP.HCM) cho hay ông đã bị tai biến nói ú ớ nhiều năm nay sau khi được LY Yên bấm huyệt đạo ở cổ lưng vai đầu ông đã nói lại được. “Phương pháp của LY này trị bệnh một cách bình thường nhưng quả là kỳ tích hiếm thấy”.

Thượng tọa Thích Nhật Nghiêm trụ trì chùa Thiên Ân cho biết phương pháp trị bệnh của LY Yên và các học trò của ông là bình thường chứ không phải là “thần thánh” như đồn thổi. Phương pháp chữa bệnh của LY Yên cũng không có gì huyền bí hay mê tín dị đoan. Đây chỉ là cách bấm huyệt bình thường giúp khai thông các huyệt đạo của BN kích thích khả năng bị tê liệt khiếm khuyết trước đó trở lại bình thường.

“Việc mời LY Yên và nhóm học trò về trị bệnh miễn phí cho bà con ở chùa là việc làm từ thiện giúp đời hoàn toàn miễn phí cho BN. Do nhu cầu còn khá nhiều BN muốn được chữa trị trong thời gian tới chùa sẽ tiếp tục mời LY Yên và nhóm học trò của ông về đây trị bệnh cho người dân để giúp đời giúp những người khiếm khuyết vững tin hơn trong cuộc sống” - Thượng tọa Thích Nhật Nghiêm cho hay.

Các nhà chuyên môn nói gì?


 

Tiến sĩ sử học Đinh Văn Hạnh (Q.11 TP.HCM):

Tôi mong xã hội có thêm nhiều thầy như thầy Yên

Con gái tôi bị bệnh u não 3 năm nay khi đó cháu mới 13 tuổi và nay cháu đã 16 tuổi. Sau những lần trị bệnh và phẫu thuật ở khắp nơi con tôi vẫn không ngồi không đi lại được.

Con tôi được thầy Yên bấm huyệt "chỉnh" cột sống cho bớt vẹo và bước đầu bệnh có tiến triển con gái tôi tự ngồi được một lúc không cần người đỡ.

Tôi mong rằng những người thầy thuốc gia truyền có tay nghề giỏi như thầy Yên cần tiếp tục chữa bệnh cứu người.

Là người làm cha đang tìm mọi cách chữa chạy cho con tôi cũng mong sao thầy Yên có một địa điểm cụ thể để có thể đem con mình đến chữa bệnh nhiều lần.

Những BN bại liệt không đi đứng được thầy Yên chữa cho lành bệnh tự đi đứng lại được quả thật là điều kỳ diệu!

 

Trả lời qua điện thoại bác sĩ Nguyễn Quốc Chính Phó Chủ tịch Hội Y học Cổ truyền tỉnh Bình Phước cho biết: "Tôi đã từng chứng kiến và nhìn thấy LY Yên trị bệnh ở Bình Phước. Nhiều năm làm nghề đây là lần đầu tiên tôi chứng kiến tận mắt một LY có thể chữa những căn bệnh nan y một cách nhanh chóng và hiệu quả như vậy.

Với phương pháp bấm huyệt do LY Yên thể hiện tôi cho rằng đây là một hiện tượng mới và hiếm trong y học. Cái cốt lõi là LY Yên cũng trị bệnh mong muốn giúp đỡ nhiều BN lành bệnh nhưng lại chưa có giấy phép hành nghề hay cơ quan nào kiểm chứng. Do đó việc thực hiện một đề tài nghiên cứu phương pháp chữa bệnh của LY Yên là cần thiết.

Về phía Sở Y tế Bình Phước thì chưa có ý kiến chính thức nào. Tuy nhiên dự kiến của chúng tôi là sẽ đề xuất cơ quan chuyên môn nghiên cứu một đề tài về phương pháp bấm huyệt đạo của LY Yên trong thời gian tới. Nếu LY Yên chứng minh được phương pháp của mình mang tính hiệu quả về lâu dài và đạt tiêu chuẩn đánh giá thì đây là một đề tài "ích nước lợi dân".


Việc LY Yên trị khỏi bệnh cho nhiều người bị thoái hóa cột sống đau khớp bại liệt nhiều năm đứng lên đi lại được hay câm điếc nhiều năm nói lại được là một hiện tượng lạ xưa nay hiếm thấy ở Việt Nam. Do vậy việc tạo điều kiện cho LY Yên chứng minh phương pháp trị bệnh của ông mang tính khoa học bền vững là rất cần thiết để tiếp tục chữa trị bệnh cho những người không may mắn.

Theo PGS-TS Nguyễn Thị Bay Trưởng Bộ môn Bệnh học Khoa Y học cổ truyền ĐH Y Dược TP.HCM với trường hợp chữa bệnh của LY Yên cần phải có công trình nghiên cứu nghiêm túc. Những nhà nghiên cứu khoa học và người bệnh cần xem hiệu quả thật sự của phương pháp xoa bóp bấm huyệt gia truyền của vị LY này lúc đó mới nên tổ chức điều trị đại trà cho người bệnh. Theo tôi xoa bóp bấm huyệt có thể cải thiện được bệnh góp phần phục hồi hệ vận động trong các trường hợp liệt. Tuy nhiên hiệu quả phải có thời gian và cần phối hợp trị liệu với nhiều phương pháp khác để vừa phục hồi liệt vừa điều trị nguyên nhân gây liệt cũng như đề phòng các nguy cơ khác.

Hiệu quả về phương pháp của LY Yên cỡ nào? Trường hợp nào LY Yên trị khỏi?...luôn là những câu hỏi đặt ra cho cả người bệnh và là thắc mắc chung của nhiều cán bộ làm công tác quản lý chuyên môn trong ngành y tế.

Nhiều nhà nghiên cứu đông y cho rằng bệnh bại liệt câm điếc nếu bấm huyệt châm cứu cũng có thể phục hồi. Tuy nhiên cần xem đó là câm điếc dạng nào. Nếu câm điếc do bẩm sinh dị dạng sẽ khó điều trị được. Do vậy trong nhiều trường hợp câm điếc LY Yên trị khỏi bằng phương pháp bấm huyệt đạo là hoàn toàn có cơ sở.

Trả lời câu hỏi này chính LY Yên cũng khẳng định: "Tôi tìm được phương pháp trị bệnh này chỉ gần 3 năm thôi. Đối với BN bị thoái hóa cột sống bại liệt 2 tay 2 chân và một phần thân người bị câm điếc trong một số trường hợp tôi đều chữa khỏi. Tuy nhiên tôi khẳng định rằng đối với nhiều BN bị bại liệt không còn khả năng nhận biết chân tay không còn khả năng duỗi thẳng bị teo cơ quá nặng trường hợp bại não hay hội chứng down thì xin đừng đem đến gặp tôi".

 

Lương Y Võ Hoàng Yên: Chúng tôi trị bệnh để giúp đời

Ngày 21-4 sau khi trị bệnh cả ngày mệt lã cả người nhưng lương y Võ Hoàng Yên vẫn cho chúng tôi cuộc phỏng vấn ngắn vào buổi tối xoay quanh cuộc đời và cách chữa trị bệnh của ông.

- Thưa ông ông cho biết đôi nét về mình?

- Tôi xuất thân từ một gia đình rất nghèo ở ấp Cái Nước thị trấn Cái Nước huyện Cái Nước tỉnh Cà Mau. Hồi đó nhà tôi nghèo quá không có tiền cho ăn học nên đã gửi tôi vào chùa Hưng Nghĩa Tự (thị trấn Cái Nước). Tại đây tôi được các thượng tọa chỉ dạy cách chữa bệnh bằng phương pháp y học cổ truyền. Sau đó tôi được ở các chùa khác để ăn học trong quá trình này tôi tiếp tục học được cách chữa trị bệnh bằng phương pháp y học cổ truyền. Sau nhiều năm bôn ba với nghề lương y khám bệnh bốc thuốc tôi tích tụ từ các phương pháp trị bệnh theo y học cổ truyền và nghiên cứu thành đề tài riêng cho mình trên nền tảng tích tụ từ cái cũ.

- Phương pháp trị bệnh của ông là gì?

- Tôi trị bệnh một cách thông thường không phải thần thánh hóa như bà con đồn thổi. Tôi xin khẳng định mình đang khám và chữa bệnh theo phương pháp thông thường của đông y tức khai thông huyệt đạo mang tính khoa học rõ ràng. Trong đó có cái của riêng tôi trải nghiệm từ bấy lâu nay.
Trong quá trình trị bệnh tôi chỉ giúp bệnh nhân sửa lại khiếm khuyết bằng phương pháp khai thông huyệt đạo trên cơ sở khoa học. Do vậy đối với nhiều trường hợp bị câm điếc bại liệt thoái hóa cột sống do tai biến tôi sẽ cố gắng trị khỏi cho họ. Cũng có nhiều trường hợp nặng cần phải có thời gian. Riêng nhiều trường hợp quá nặng tôi cũng đành chịu.

- Tại sao ông không trị bệnh lấy tiền mà miễn phí?

- Thú thật hồi đó nhà tôi quá nghèo tôi sống học tập và lớn lên đều được nhiều thượng tọa giúp đỡ. Trong đó có nhiều thượng tọa là ân nhân ở Bình Dương. Do vậy việc tôi khám trị bệnh hoàn toàn miễn phí cho bệnh nhân là chủ yếu giúp đời trả ơn cuộc đời.

Nhiều người đặt câu hỏi là tiền đâu tôi sống? Xin thưa với mọi người hiện nay ngoài việc trị bệnh và truyền đạt lại cho học trò trị bệnh giúp đời tôi còn làm Giám đốc Công ty Cổ phần Phú Bình Yên chuyên sản xuất và trồng cao su ở thôn 3 xã Gia An huyện Tánh Linh tỉnh Bình Thuận. Do vậy tiền bạc đối với tôi không thành vấn đề mà niềm vui lớn nhất là nhìn thấy những người ngồi xe lăn đứng dậy đi được những đứa trẻ người già câm điếc nói lại được những âm từ phát ra không phải mất nhiều tiền bạc chạy đôn chạy đáo nhiều nơi khám chữa bệnh. Cái đó là niềm hạnh phúc lớn nhất trong cuộc đời tôi.

- Với cách trị bệnh hiệu quả của ông sắp tới ông có kế hoạch gì?

- Thời gian qua tôi đã chữa bệnh bằng phương pháp khai thông huyệt đạo giúp cho hàng ngàn người dân khỏi bệnh. Do vậy nơi nào mời tôi sẽ tới giúp họ. Xin khẳng định rằng phương pháp trị bệnh của tôi hoàn toàn không thần thánh hóa mà trị bệnh theo y học cổ truyền một cách thông thường. Do đó tôi mong muốn các nhà khoa học cần vào cuộc tìm hiểu và tạo điều kiện để tôi tiếp tục giúp đỡ những bệnh nhân câm điếc bại liệt... Qua đó giúp họ có niềm vui nhỏ nhoi khi lành những khiếm khuyết. Một lần nữa tôi khẳng định rằng phương pháp trị bệnh của tôi có thể truyền đạt lại cho mọi người để cùng nhân rộng trị bệnh giúp cho những cuộc đời không may mắn.

- Xin cảm ơn ông!

 



Theo Hồ Văn- Quỳnh Như (Báo Bình Dương)

 

 

More...

ĐẶC TRỊ CHỨNG VÔ SINH VÀ HIẾM MUỘN (Tư Liệu)

By Lê Thuận Nghĩa

LIỆU PHÁP "ĐÓNG KHỐ SINH KHÍ" Bằng "ĐÀN CHỈ THẦN CÔNG"

   

alt
Trong khuôn khổ của bài này tôi không bàn nhiều đến chứng Vô Sinh và Hiếm Muộn. Vì những chuyên viên y tế những thầy thuốc Đông y và ngay cả người muốn cầu tự cũng đã tìm hiểu và biết về nguyên nhân của chứng này. Để tiết kiệm thời gian tôi chỉ xin trình bày sơ những nguyên nhân cơ bản theo Y lý cổ truyền có liên quan đến Liệu Pháp Sinh Khí (Đàn Chỉ Thần Công- Akupunktur Massage nach Penzel) và Toa thuốc cũng như liệu pháp Khí công trong bài Phương toa đặc trị dành cho cả hai Phái: Nam và Nữ trong bài này mà thôi:
  
Về Nữ Giới: Gồm các nguyên nhân chủ yếu sau
- Hàn thấp ngưng tụ khiến bào cung yếu kém không giữ được thai nhi
- Khí huyết hư nhược  sinh chứng nội hàn do thận yếu tỳ hư gây nên làm cho cơ thể suy sụp khó tạo điều kiện thụ thai
- Viêm nhiễm trầm kha ung nang kết khối nơi noãn sào rối loạn nội tiết...không tạo được điều kiện tốt để nuôi dưỡng cho trứng lớn chín rụng..
- Kinh nguyệt rối loạn thất thường
- Và một số rối loạn chức năng vận động vùng thắt lưng và xương chậu
(Có thể do uống thuốc ngừa thai lâu ngày hoặc bị nạo vét thai nhiều lần gây nên)
 
Về phía đàn ông: Chủ yếu các nguyên nhân sau:
- Thận suy Tỳ hư
- Viêm nhiễm ung kết đường tiết niệu bàng quang...và bộ phận sinh dục
- Bị bệnh dương nuy(liệt dương
- Tinh trùng loãng hoặc yếu
- Rối loạn nội tiết và rối loạn vận động vùng thắt lưng
...
  
  
 
 
 
 
alt
(Sách nói về Liệu Pháp Sinh Khí- Akupunktur Massage nach Penzel "Đàn Chỉ Thần Công" chữa trị chứng vô sinh. Tạm dịch: Từ việc Cầu Tự đến đứa con Quí Tử"
  
Ngày nay chứng hiếm muộn và vô sinh không còn là một tuyệt chứng nữa vì Tây y đã có phương pháp thụ tinh nhân tạo đem lại nhiều kết quả rất thành công. Tuy nhiên một số người dù thụ tinh nhân tạo vẫn không giữ được bào thai. Và một số người khác không muốn có con theo phương pháp nhân tạo.
  
Xưa nay Đông Y có rất nhiều phương toa chữa trị chứng hiếm muộn và vô sinh. Tuy nhiên hầu hết các phương toa như Châm Cứu và Toa thuốc bí truyền dân gian đều chỉ đưa lại kết quả có xác suất rất thấp. Bởi vì toa thuốc bằng thảo dược không phải với bệnh nhân nào cũng hợp thuốc và không phải dùng cho tất cả các chứng hiếm muộn. Vì vậy việc cầu tự bằng phương toa dân gian cũng chỉ nằm trong phạm vi "cầu may"
 
Liệu pháp sinh khí Akupunktur nach Pelzel sau đây (Đàn chỉ thần công: Kích huyệt và đả thông kinh mạch). Của người châu Âu phát triển từ khoa châm cứu cổ truyền Á đông được người phương Tây cho là liệu pháp tối ưu nhất. Vì kết quả của phương toa này được thống kê là hầu như tuyệt đối có tác dụng đối với tất các hội chứng hiếm muộn và vô sinh và có tác dụng cho cả hai phái Nam và Nữ. (xem thêm phần chú thích về trường phái Penzel phía dưới)
 
 
 
  
alt
Một số hình ảnh nghiên cứu về cấu tạo và vị trí của Thai Nhi tương ứng với vòng Thái Cực  trong học thuyết Âm Dương của trường phái
Penzel
  
alt
Cấu tạo và vị trí của Thai nhi và các đường kinh Âm liên quan đến Tử Cung theo lý giải của Thái Cực Đồ (sách "Đàn Chỉ Thần Công"
   
  
 
 
 
alt
  Vị trí các cơ quan nội tạng và cấu trúc thai nhi tương ứng với loa tai liên quan đến một số liệu pháp khác như Nhĩ Châm của trường phái Penzel
  
 
 
 
alt
Một tư liệu Y tế đánh giá liệu pháp chữa chứng vô sinh và hiếm muộn của trường phái Penzel- "Đàn chỉ thần công":
Đại ý nói: Tây Y đã tìm ra được các nguyên nhân và triệu chứng của chứng hiếm muộn nhưng họ chưa đưa ra được một liệu pháp tự nhiên nào có khả năng trị liệu hiệu quả chứng này
  
Liệu pháp sinh khí trường phái Penzel đã đáp ứng được điểm khiếm khuyết này của Tây y bằng cách kích hoạt sinh khí trong kinh mạch huyệt vị có liên quan đến triệu chứng bệnh đảm bảo cho việc "cầu tự" của bệnh nhân có hiệu quả với xác suất cao..
 
  
 
 
  alt
Sơ đồ đường vận hành các Kinh dương (màu đỏ bên trái). Và các kinh âm (màu đen bên phải)
    
 
 
 
 
alt
Sơ đồ nghiên cứu đo đặc các điện cực Âm dương trong các kinh mạch (Ảnh từ Akupunktur Massage nach Penzel)
  
 
 
alt
Qua quá trình nghiên cứu và ứng dụng "Đàn chỉ thần công" của trường phái Penzel tôi thấy nếu kết hợp với toa thuốc ngâm rượu: "Thung Dung Xà Sàng Tửu" và liệu pháp khí công kích hoạt chân âm. Cho cả chồng và vợ là liệu pháp tối ưu nhất thích ứng với tất cả mọi chứng hiệm muộn.
   
 alt
   Kết quả tôi đã ứng dụng cho 15 trường hợp cả 15 trường hợp đều có con trong đó có 4 cặp áp mà tôi hướng dẫn cho họ tự điều trị sinh đôi. Cái đặc biệt là trong 15 trường hợp này thì 9 trường hợp tự điều trị theo liệu pháp này
 
 
  
alt
Cần lưu ý: trong các nguyên nhân gây nên chứng vô sinh- hiếm muộn đôi khi còn có những nguyên nhân rất ẩm ương ví dụ như việc xăm hình vào những vùng như hình chụp trên đây. Việc xăm hình tạo nên những vết sẹo làm gián đoạn đường vận hành của Cân Kinh nằm ở ngoài bì phu. Nguyên nhân này cũng có thể làm rối loạn điều tiết hóc môn vùng ổ bụng... Trong trường hợp của hình chụp này hình xăm đã làm tổn hại đến vận hành của Cân Kinh Tỳ và Cân kinh Can và Cân kinh Vị chạy qua ổ bụng (Tư liệu của Penzel)
  
alt
Một nguyên nhân cực kỳ quan trọng dẫn đến chứng hiếm muộn là các chứng rối loạn vận động vùng thắt lưng do bị thoái hóa cột sống chứng thần kinh tọa chứng vẹo lệch cột sống giản dây chằng phong thấp ở khớp hông ..v...v...các chứng này cũng góp phần làm lệch lạc rối loạn chức năng của các cơ quan nội tạng nằm trongvùng ổ bụng duới
  
 
alt
Bởi vì vậy đối với chuyên viên hoặc thầy thuốc Đông y trước khi chữa trị chứng vô sinh cho người bệnh nên quan tâm chữa trị và khắc phục trở ngại này trước.
   
Đối với người cầu tự theo liệu pháp "Thắt Lưng Sinh Học" hay còn gọi là liệu pháp "Đóng Khố Sinh Khí" mà tôi hướng dẫn dưới đây để tự chữa chứng vô sinh. Cũng nên thực hiện động tác dưới đây để đả thông vùng khớp háng và xương chậu
 
alt
Phương pháp vận động này nên thực hiện trước khi dùng "Đàn chỉ thần công" để chà miết huyệt vị theo liệu pháp "Đóng Khố Sinh Khí"
  
Vợ làm cho chồng và chồng làm lại cho vợ. Thao tác rất đơn giản. Một người nằm sấp người kia một tay chận vùng thắt lưng một tay cầm đùi của người nằm lắc qua lắc lại nhiều lần cả hai bên.
  
  
    
   alt
Biểu đồ chỉ vị trí cần chà miết trên cơ thể ở vùng thắt lưng đến xương cùng và vùng trước bụng dưới. Vì vùng kích hoạt có hình dáng như một đai lưng hoặc như cái quần xịp nhỏ Tanga của phái nữ. Nên liêu pháp này các chuyên gia của trường phái Penzel gọi là liệu pháp "Thắt lưng sinh học" hay còn gọi là "liệu pháp Tanga"(liệu pháp quần xi líp). Vì hình dạng của vùng kích hoạc giống hệt cái khố của người dân tộc nên tôi gọi đây là liệu pháp "Đóng Khố Sinh Khí" - Thuận Nghĩa
  
  
alt
Vùng cần kích hoạt phía sau xương cùng
 
 
alt
Vị trí và kích thước vùng kích hoạt bằng Đàn Chỉ Thần Công phía sau lưng
  
alt
   Xem thêm ở hình tượng lưu ý hướng mũi tên chỉ
  
 
alt
 alt
   Vị trí và kích thước vùng kích hoạt trước ổ bụng
 
   
alt
Lưu ý hình mũi tên là hướng chà miết huyệt vị và kinh mạch . Phía trước bụng thì từ dưới lên trên từ ngoài hông hướng vào lỗ rún. Phía sau thì từ trên xuống dưới và từ trong cột sống hướng ra ngoài hông
  
  
 
  
alt
Có thể kích hoạt bằng bút chuyên dụng đầu bi của Penzel hoặc có thể bằng đầu đủa vê tròn hoặc các que gỗ hoặc tre sừng đều được
alt
   Cách chà miết nên tì ngón tay trên đầu que để tăng thêm áp lực
   
  
alt
Nhưng tốt nhất vẫn là dùng ngón tay (chỉ pháp). Nhưng dùng chỉ pháp thì hao tán nhiều sức lực và công lực vi vậy nên mới dùng đến các dụng cụ hổ trợ (Chà miết bằng cái gì không quan trọng miễn sau đúng vị trí đúng hướng và đủ lực để tạo nên các vết hằn đỏ là được)
  
Xem băng video thao tác "đóng khố sinh khí" vùng bụng ở đây

  
 
 
Xem băng video thao tác "đống khố sinh khí" vùng lưng ở đây:
  
  
 
alt
(trước bụng)
Thực hiện xong thao tác khoảng 5-10 phút để lại các vệt đỏ như thế này là được
 
alt
Sau lưng
 
  
alt
Nếu tự điều trị thì chồng làm cho vợ vợ làm cho chồng. Lưu ý: Nữ thì đánh miết ở phía bụng trước sau đó đánh phía sau lưng rồi quay lại đánh bụng thêm lần nữa. Nam thì ngược lại đánh lưng trước đánh bụng sau sau đó quay lại đánh lưng lần nữa
 
Xem thêm video "Đàn chỉ thần công" chữa trị bệnh thần kinh tọa ở đây:

 
Người bệnh là một Giáo sư Vô Tuyến Điện người Bạch Nga. Ông đã điều trị qua nhiều bệnh viện nhưng không chữa trị được. Đã bị chỉ định dùng đến Móc phin. Dùng "đàn chỉ thần công" bằng cách vận khí vào ngón tay (chỉ pháp) tôi đả thông các cặp kinh Tam tiêu - Đởm và Tiểu trường- Bằng quang và thêm "Đóng khố sinh khí" thắt lưng. Bệnh của ông đã thuyên giảm nhiều.( sẽ trình bày liệu pháp này khi có dịp)
 
   
 
 alt
Căn cứ vào đường vận hành các kinh ÂM trong cơ thể chạy phía trước bụng và trước cánh tay phía trong chân...
 alt
..Người xưa phát minh ra môn khí công "Cửu Chuyển Trường Sinh Công" là một môn khí công kích hoạt tích tụ khí chân Âm dùng cho thuật trường sinh trẻ mãi không già. Môn khí công này được giản lược thành một phương pháp xoa bóp rất giản tiện kích hoạt khí chân âm. Có tác dụng bổ âm cuờng thận và giữ mãi "suối nguồn tươi trẻ" chống lão hóa làm đen tóc mượt da chống nếp nhăn rất hay.
  
Môn xoa bóp này kết hợp với liệu pháp "đóng khố sinh khí" vùng bụng (tự làm cho mình được). Trở thành một phương pháp chống lão hóa và giữ mãi sự tươi trẻ cho phụ nữ rất tốt.
   
Ngoài ra liệu pháp xoa bóp này còn có tác dụng điều hòa kinh nguyệt điều hòa bổ sung hóc môn giới tính. Đây là liệu pháp xoa bóp "tuyệt chiêu" dành cho phụ nữ "tiền mãn kinh" hoặc sau thời hết kinh rốt tốt.
  
 Đặc biệt   liệu pháp xoa bóp này còn có tác dụng kích âm  hoạt huyết chống bệnh tụt máu (áp suất máu thấp) cực linh ngiệm
  
Vì vậy liệu pháp này tự  xoa bóp này được kết hợp với liệu pháp "thắt lưng sinh học" tạo thành một phương toa chữa trị chứng vô sinh hiếm muộn "bách chiến bách thắng"
Video:

 
alt
Ngồi đứng hoặc nằm gì cũng được. Nhưng ngồi theo tư thế này thì tốt nhất. Hít vào một hơi hai tay đập xoa vào nhau
 
 
alt
alt
..một tay úp vào bụng dưới còn tay kia đặt vào phía trong đùi dưới đầu gối vuốt ngược lên trên phía hông
 
 alt
..đưa tay từ bụng dưới lên phía bên hông trên bàn tay kia vuốt ngược lên vùng ngực ngửa tay kia ra vuốt từ trên ngực vai xuống dưới lòng phía trong bàn tay..
 
alt
  
  
 
alt
khi vuốt xuống các đầu ngón tay thì co tay kia lại tiếp tục vuốt ngược phía sau cánh tay lên trên
 
alt
Xong động tác này thì chuyển sang vuốt phía bên kia..(xem video)- Lưu ý: Thực hành các động tác xoa bóm này lúc "nude" 90% để da tay chà miết trực tiếp trên da thịt thì có hiệu quả hơn tuy nhiên chà miết ngoài áo quần vẫn có hiệu quả
 
Để cho liệu pháp chữa vô sinh hiếm muộn và giữ mãi "suối nguồn tươi trẻ" có hiệu quả chắc chắn bạn nên kết hợp với với toa rượu ngâm thuốc bắc dưới đây mà uống (Nam Nữ đều dùng được uống mỗi lần một tách nhỏ với bữa ăn)
  
Thung dung xà sàng tửu: Nhục thung dung ngũ vị tử sơn thù du sơn dược phục linh mỗi thứ 32 g rượu 1 5 lít đường phèn 200 g. Giã thuốc vụn ngâm rượu 30 ngày là dùng được nam nữ đều dùng. Tác dụng: Làm khỏe nội tạng tiêu hết mệt nhọc hồi xuân bất lão lành mạnh sinh hoạt vợ chồng.

Lưu Ý: Đối với người tự chữa trị chứng vô sinh và hiếm muộn theo phương pháp này. nên ngâm rượu trước. Thực hiện liệu pháp xoa bóp như trình bày trước. Đợi khi rượu uống được thì bắt đầu liệu pháp chà miết "đống khố sinh học". Trong thời gian 1 tháng đến 40 ngày đầu nên hạn chế chuyện sinh hoạt vợ chồng. Bắt đầu sang tháng thứ 2 thì sinh hoạt bình thường. Nên chọn thời gian sinh hoạt thích hợp với chu kỳ rụng trứng của phụ nữ. Đảm bảo sẽ "bách chiến bách thắng"
________
  
Chú thích thêm về trường phái Penzel
  
 
  
alt
Đàn Chỉ Thần Công của Pelzel ngày này đã được phát triển rộng rãi trên toàn thế giới và đã được giới Y học Phương Tây chấp nhận như một liệu pháp Y tế chuyên môn cao
 
  alt
Một trong những cuốn sách giáo khoa về "Đàn Chỉ Thần Công" trường phái Penzel
 
 
 
alt
Willy Penzel 1918-1985
  
"Akupunktur Massage nach Penzel" do ông Willy Penzel sáng lập nên. Ông Penzel là một chuyên gia y tế Đức đặc biệt ngưỡng mộ nền Y học cổ truyền Á đông. Ông đã tu nghiệp và nghiên cứu tại nhiều trường Y học nổi tiếng ở Trung Quốc Nhật bản và Ấn Độ. Sau Đại chiến thứ 2 ông trở về Đức và đúc rút kinh ngiệm về hiểu biết của mình về khoa Châm Cứu kết hợp với những thành tựu nghiên cứu về năng lượng sinh học của phương Tây ông sáng lập nên một phương pháp trị liệu kích hoạt kinh mạch huyệt vị bằng bút đầu bi. Phương pháp này được mang tên ông "Akupunktur  Massage nach Penzel"
  
Năm 1971 ông cùng người học trò của mình là bác sĩ Günter Köster thành lập Học viện Đào tạo "Akupunktur nach Penzen". Viện đào tạo được chính phủ và Bộ y tế Đức chấp nhận và cấp bằng chuyên viên trị liệu cấp quốc gia.
  
Sau khi Willy Penzel qua đời học viện Penzel do Ông Günther Köster thừa kế và làm Viện trưởng.
   
Hiện này Học viện Penzel đã phát triển thêm 4 học viện chính thức trực thuộc trung tâm của tập đoàn "Akupunktur nach Penzel"  các học viện khác có tại Áo Quốc Thụy Sĩ Hà Lan  Mỹ và Thái Lan. Đến nay các học viện Penzel đã đào tạo được khoảng 30.000 chuyên viên "Đàn Chỉ Thần Công" có các trung tâm trị liệu nằm khắp nơi trên hoàn cầu trong đó có 24 nước châu Âu 3 nước châu Mỹ châu Úc và cũng có ở Thái lan Trung Quốc và Nhật Bản.
   
Trường phái trị liệu Penzel dưới sự lãnh đạo của Viện trưởng Tổng giám đốc "chưởng môn" đời thứ 2 là Günther Köster phát triển rất rầm rộ. Hiện nay tại "tổng đàn"  của trường phái Đàn chỉ Thần công này đã kiến tạo thành một thành phố nhỏ ở vùng Nidensachsen có tên là Willy Penzel Platz.
   
 Và hiện nay liệu pháp Penzel không những được hệ thống Y khoa Đức chấp nhận mà toàn bộ nền Y khoa của châu Âu cũng đều đã chấp nhận. Chuyên viên "Đàn Chỉ Thần Công"  tốt nghiệp chính qui từ học viện Penzel được c6áp giấy phép hành nghề có giá trị trên khắp thế giới.
   
Vào năm 2005. Akupunktur Massage nach Penzel đã được WHO tổ chức Y khoa thế giới chấp nhận như một liệu pháp bảo vệ sức khoẻ kinh điển
 
  
alt
   Lương Y QN  và "Chưởng môn" đời thứ hai của trường phái Đàn Chỉ Thần Công Penzel Günther Köster trong Hội nghị thế giới lần thứ 2 về Thái Âm Chân Khí
 
 
 
alt
Về liệu pháp tự chữa trị chứng hiếm muộn vô sinh lấy "Đàn chỉ thần công" của trường phái Penzel làm thủ pháp cơ bản này các bạn cứ yên tâm về độ tin cậy về hiệu quả và mức độ an toàn. Vì chính tôi cũng được đào tạo bổ túc thêm nghề nghiệp chính qui từ học viện này ra.
     
12.04.11
Luơng Y QN
 

 

 

More...

ĐẶC TRỊ CHỨNG CO RÚT TAY CHÂN TRONG BẠI LIỆT (Tư Liệu)

By Lê Thuận Nghĩa

 ( Entry này thân tặng Sư huynh Nguyễn văn Vượng Đồng nghiệp và các Đệ tử...)

  

  Có hai triệu chứng rất thường gặp trong bệnh bại liệt (bán thân bất toại) do nguyên nhân bị tai biến mạch máu não (đột quị do áp suất máu cao) chấn thương sọ não do va đập tai nạn hoặc bị sốt cao trong sốt bại liệt trẻ em đưa lại. Đó là chân tay bên bại liệt bị co quắp vào trong thân mình hoặc là bại xuội hoàn toàn vô lực.
 
Bệnh nhân bị bại liệt do tai biến não dù được phục hồi có khả năng đi lại nhúc nhắc được sau khi được điều trị bằng nhiều phương pháp nhau như vật lý trị liệu luyện tập thể hình uống thuốc hoạt não... hoặc là châm cứu và các phương pháp phục hồi chuyên trị khác. Nhưng hiện tượng tay và chân co quắp co rút lại rất khó cầm nắm hoặc có nhiều khi co quắp lại rất mệt nhọc ngay cả trong khi ở trạng thái yên tĩnh không vận động. Hiện tượng này chiếm một tỷ lệ rất phổ biến đối với bệnh nhân bị tai biến não.
 
Điểm đặc biệt đáng nói là rất nhiều bệnh nhân có cơ may phục hồi lại vận động bằng các liệu pháp chuyên trị và ý chí luyện tập phi thường của họ. Nhưng sự vận động của họ không thể thập thành như cũ được vì sự co quắp co rút nói trên.
 
Và hầu hết các chuyên viên trị liệu phục hồi chức năng vận động cho bệnh nhân đều phải bó tay trước hiện tượng này.
 
Rất nhiều bệnh nhân được điều trị có thể vận động hay nói lại được bình thường mặt không bị méo trí tuệ minh mẫn lại như xưa cơ mặt và các cơ vùng họng miệng hoạt động lại bình thường không nhỏ dãi và có các biểu hiện khó khăn trong ăn uống. Nhưng tay và chân vẫn bị chứng co quắp hoặc bại xuội vô lực nên sự đi lại và cầm nắm gặp rất nhiều khó khăn.
 
Tây Y và ngay cả các Đông Y sĩ thường phục hồi cho bệnh nhân đến ngưỡng này thì dừng lại không còn có tiến triển khả quan thêm được nữa. Chính vì vậy mà có rất nhiều bệnh nhân sau khi được điều trị có thể hoạt động trí tuệ bình thường nhưng họ vẫn suốt đời sống với triệu chứng co quắp bên bị bệnh.
 
Đó là chưa nói đến có nhiều trường hợp tay chân co quắp rút cứng vào trong cơ thể như một người đang có dùng hết sức lực gồng gân như nắm đấm. Tình trạng này làm cho họ rất đau đớn và mất sức. Những lúc này muốn tránh hiện tượng co rút "bất tòng tâm" này họ thường phải lấy tay còn lành cố gắng bẻ cho từng ngón tay bên bệnh  duỗi ra từng ngón mới có thể dễ chịu được.
 
Các chuyên viên trị liệu mắc phải một định kiến cố hữu họ cho rằng não bộ đối diện bên bị tai biến đã bị hỏng mất chức năng điều khiển vận động nên mới xảy ra triệu chứng ấy. Và họ đã cố gắng hết sức...
 
Thực ra các chuyên viên trị liệu quá lệ thuộc vào kiến thức của giải phẫu cơ thể học hoặc quá chú trọng vào hệ thống thần kinh (ngay cả các Đông Y sĩ "đời mới" cũng thế). Mà họ không quan tâm đến một vấn đề rất hệ trọng có ảnh hưởng đến hiện tượng này. Đó là sự rối loạn trong vận hành chân khí và sự rối loạn âm dương hành khí trong vùng bị bệnh. Không để ý đến nguyên tắc này nên sự điều trị chỉ dừng lại ở những hiệu quả có giới hạn không đặt đến sự hoàn mỹ được.
 
Vì sao tay và chân bên bại liệt bị co quắp vào phía trong cơ thể?
 
Nguyên tắc vận động của hai khí Âm và Dương theo y lý cổ truyền như sau:
 
Khí Dương chủ về sự vận động linh hoạt phát tán ra ngoài và thăng hoa lên trên. Khí Âm chủ về sự tàng tích co kết vào trong trầm lạc xuống dưới.
 
Người bị tai biến não dẫn đến trung khu năng lượng sinh học bị tổn thương nên không thể điều tiết được sự vận động cân bằng của hai khí Âm và Dương. Đa số là không làm chủ được sự vận hành của khí Dương vì vậy khí Dương trong các kinh lạc bị gián đoạn thiếu hụt hoặc suy yếu. Khí Dương suy kiệt thì dẫn đến khí Âm cường thịnh. Đó là qui luật bù trừ của Âm Dương. Nhìn vào biểu đồ Thái cực thì rõ. Khi vòng tròn ở vị trí Thái Âm (Âm cực thịnh) thì bao giờ ở đó cũng là Thiếu Dương (Dương cực ít).
 
Bố trí của hệ thống Kinh- Lạc- Mạch trong cơ thể đều theo nguyên tắc các kinh Âm chạy phía trước bụng phía trong cánh tay phía trong chân. Các kinh Dương chạy phía sau lưng và phía ngoài tay và chân.
 
Nếu nắm rõ điều này thì lý giải rất dễ dàng nguyên nhân vì sao tay và chân co quắp co rút lại vào phía trong thân thể mà trí não không điều khiển được.
 
Đó là vì khí Dương chạy trên các kinh dương phía ngoài quá suy yếu vì vậy khí Âm theo nguyên tắc bù trừ đạt cực thịnh. Bản chất của khí Âm là co kết tàng tích vào trong. Vì khí Dương chạy phía ngoài không đủ sức khống chế và cân bằng khí Âm cho nên khí Âm mới phát huy bản chất vận hành của mình. Vì vậy tay và chân bị co quắp vào phía trong cơ thể. Hiện tượng co quắp này không những không vô lực mà nhiều khi sự co rút mạnh đến nổi có lực co rút gồng gân nắm tay còn dữ dội hơn cả bên phía còn lành.
 
Biết được nguyên nhân theo kiểu lý giải Sinh Khí này thì việc điều trị hiện tượng co quắp của người bại liệt do tai biến não chẳng phải là vấn đề nan giải. Đôi khi còn dễ hơn cả chữa cảm cúm nếu thời gian bị bệnh không quá lâu.
 
Nguyên tắc điều trị rất đơn giản: Tả bớt khí Âm trong các kinh Âm bên bị bệnh đồng thời bổ Dương trong các kinh Dương bên bị bệnh. Chấm hết! vậy là thành công.
 
Nhưng tả Âm trong kinh Âm như thế nào bổ Dương trong các kinh Dương như thế nào.
 
Nguyên lý này không phải các Đông Y sĩ không biết nhưng khi dụng châm họ không đạt được cái lý tả Âm trong Âm bổ Dương trong Dương nên không đạt được hiệu quả thập thành.
 
Vì phải dụng thuật Tả-Bổ ngay trên một vùng bệnh nên những châm gia "non tay ấn" khó có thể đạt được sở đắc như ý muốn.
 
Phương pháp Tả bổ theo phương pháp "họat khí" mà tôi thường gọi đùa là "Đàn Chỉ Thần Công" đạt được ngưỡng châm này rất dễ dàng.
 
Đã có lần tôi có trình bày trong bài "Phục Hồi Vận Động Cho Người Bị Đột Quị". Có nhắc đến phương pháp trị liệu kiểu "đánh vật" hay "đấm bốc" với bệnh nhân không ngoài phương pháp liệu pháp "Đàn Chỉ Thần Công" này.
 
Ngoài việc kích thích kinh mạch bằng phép "án ma" để dụng phép bổ tả như trình bày trên còn phải kích thích sự vận động của não bộ nữa cho nên liệu pháp "đấm bốc" để nhằm mục đích ấy.
 
Thủ pháp điều trị như sau: Hoạt khí trong đường kinh dương bên bị bệnh để kéo khí âm tích tụ bên ấy đi chổ khác. Thủ pháp là kích hoạt thuận chiều kinh dương trên tay bên bị bệnh. Kích hoạt thuận chiều kinh Âm bên tay và chân không bị bệnh.
 
Xem trình tự điều trị qua các băng hình Video dưới đây:


http://www.youtube.com/watch?v=8ewWZnxZ2g8
Thanh niên này bị tai nạn chấn thương sọ não lúc còn nhỏ phải nằm điều trị tại bệnh viện mắt 21 tháng trong đó có 4 tháng hôn mê sâu hoàn toàn. Sau đó may mắn được phục hồi dần dần. Các đây 6 năm đã đi lại và vận động được. Nhưng từ đó bệnh nhân chỉ dừng lại ở tình trạng vận động khó khăn vì co quắp co rút gân cơ bên bị liệt và  phát âm khó khăn. Các đây hơn 1 tháng đã tìm đến điều trị ở cơ sở của chúng tôi. Mỗi tuần điều trị 2 lần. Hiện nay hiện tượng co quắp đã giảm đến gần 60%. Sự đi lại vận động và cầm nắm đã thoải mái dễ dàng lên nhiều.



http://www.youtube.com/watch?v=1qK-IynzpSs
Trước khi thực hiện liệu pháp bắt bệnh nhân tập đấm bốc để kích hoạt não và để kiểm tra khả năng vận động của tay bại liệt. Bắt bệnh nhân tập trung ý chí đấm bằng cả hai tay chính xác vào tay của mình để kiểm lực đấm và độ tập trung ý chí.(lưu ý theo dõi để so sánh với kết quả sau một lần trị liệu)

  

   

 
  http://www.youtube.com/watch?v=Mrl035zhniY
Tay bị co quắp là vì khí âm trên 3 đường kinh Âm chạy phía trong bàn tay quá cường bạo cần phải kéo chuyển nó đi chổ khác. 3 đường kinh Âm trên tay bắt đầu từ lòng ngực và chạy xuống các ngón tay sau đó bắt lạc mạch nối với các kinh dương ở phía ngoài bàn tay để chuyển chân khí chạy ngược lên phía đầu mặt. Nếu ta kích hoạt kéo ngược đường kinh Âm từ dưới lên theo phương pháp Tả "thuận nghịch" thì không những khí âm không phát tán mà còn tích tụ ngừng trệ ở đó nhiều hơn nữa như vậy thì sự co quắp sẽ còn dữ dội hơn. Nếu chúng ta kích hoạt kéo thuận đường kinh Dương lên trên Khí chân Âm trong các đường kinh Âm sẽ tràn qua lạc mạch theo kinh Dương mà phát tán lên trên (Phế kinh tràn qua Đại trường kinh Tâm bào tràn qua Tam tiêu Tâm kinh tràn qua Tiểu trường kinh). Thủ pháp này không những làm cho Kinh dương hoạt thịnh lên mà còn kéo tán khí Âm bên kinh âm tràn đi chỗ khác.

  
  


http://www.youtube.com/watch?v=suM6h0KXOOs
Chân bị co quắp cũng do nguyên nhân đó. Nhưng vì ở vùng chân kinh dương lại chạy từ trên đầu xuống dưới ngón chân rồi bắt lạc mạch tràn qua kinh âm chạy từ dưới lên trên. Nếu ta hoạt khí dương như trên tay thì chân khí sẽ từ kinh dương tràn qua kinh âm (Đởm kinh bắt với Can kinh Vị kinh bắt với Tỳ kinh Bàng quang tràn sang Thận kinh). Như vậy không những chúng ta không làm cho khí âm phát tán mà còn làm cho nó tích tụ lên thêm. Phản tác dụng
 
Muốn làm cho khí Âm của chân bị bệnh phát tán ta chỉ còn cách kích hoạt khí âm bên chân không bị bệnh. Khí chân âm bên lành bị kích hoạt nên thịnh vượng lên. Sự thịnh vượng bên này sẽ kéo hết phần của bên kia sang vì vậy mà khí âm bên bị bệnh sẽ bị suy giảm. Đó là qui luật bù trừ cân bằng trong luật vận hành của Âm-Dương.
 
Kích hoạt thuận đường kinh âm trên tay không bị bệnh cũng nhằm tăng thêm phần hoạt âm phía bên này.

 


 

http://www.youtube.com/watch?v=zEpP3ElTwLc
Chỉ bằng vài thủ thuật kép miết đường kinh đơn giãn như băng hình trên. Hiệu quả sẽ có ngay rõ rệt như thế này đây.
 
Người không am hiểu về y lý có thể nghi ngờ liệu pháp này nhưng người am hiểu và Y lý và có khả năng ứng dụng thực nghiệm sẽ kiểm chứng ngay được hiệu quả của liệu pháp
 
Lưu ý:
- Tác dụng của liệu pháp rất rõ rệt. Thậm chí sau khi thực hiện liệu pháp có nhiều bệnh nhân thao tác vận động cả hai tay như bình thường nhưng sau đó một vài ngày thậm chí một vài giờ có thể quay lại hiện tượng co quắp như cũ. Vì vậy phải thực hiện liệu pháp nhiều lần trong một tuần thậm chí là thực hiện hàng ngày nếu có điều kiện thì mới có kết quả vững bền được.
 
- Để có tác dụng "nhãn tiền" chuyên viên điều trị phải am tường thật sâu sắc đường vận hành khí huyết trong kinh mạch để chà miết cho chính xác. Nếu đã có trình đột không những am tường mà cảm nhận được "sờ mò" được đường đi của chân khí và có một "nội lực" khá thâm hậu thì chỉ cần vài đường miết của ngón tay là có thể chữa được chứng này còn dễ hơn chữa cảm cúm nữa- (Nói chân thật đấy chẳng ngoa ngôn hý chữ đâu)
 
- Ngoài liệu pháp này ra nếu bệnh nhân trí tuệ còn minh mẫn thì hướng dẫn cho họ Lục Tự Khí Công hay là Cửu Chuyển Trường Sinh Công để luyện tập. Hai môn khí công này có khả năng vận động điều hòa chân khí rất tốt cho bệnh bại liệt này. Nếu bệnh nhân biết cách vận khí theo một trong hai bài khí công trên thì họ không cần tác động giúp đỡ của chuyên viên trị liệu mà vẫn đạt được hiệu quả tốt. Rất tiếc liệu pháp có ý nghĩa Thánh Đạo này không phải ai cũng có duyên hấp thụ được....hu hu...

---

02.04.11

Lương Y QNLTN

 

More...

YẾU QUYẾT "ĐÀN CHỈ THẦN CÔNG" tiếp theo (3 Thủ Cân Kinh- Tư Liệu)

By Lê Thuận Nghĩa

(xem trước phần đầu ở đây:

http://thuannghia.vnweblogs.com/post/7291/287322  )

...

1- CÂN KINH THỦ THIẾU ÂM
 
Đường Vận Hành Kinh Khí Của Cân Kinh Thủ Thiếu Âm Tâm:
Khác với chu kỳ vận hành của Kinh chính Thủ Thiếu âm Tâm kinh. Đường vận hành của Cân Kinh Thủ thiếu âm đi ngược từ dưới ngón tay lên lòng ngực: Khởi đầu ở góc ngoài chân móng ngón tay út tại huyệt Thiếu Xung chạy lên cổ tay (xương đậu chổ huyệt Thần Môn) dọc theo bờ trong mặt trước cẳng tay đến phía đầu trong nếp gấp khuỷ tay tới hố nách hội với các kinh Cân Âm ở tay tại huyệt Uyên Dịch rồi lặn vào trong ngực qua Tâm Vị và kết ở rốn.


 
Kinh khí vượng hoạt tối đa giờ Ngọ (11-13g) Hư yếu vào giờ Mùi (13-15g) Suy tàn vào giờ Tý (23-1g). Nếu muốn kích hoạt hay dụng thuốc nên dụng y thuật vào khoảng từ 12 giờ trưa đến 2 giờ chiếu là tốt nhất

alt

Cũng như kinh chính Thủ Thiếu Âm Cân Kinh có Khí Nhiều và Huyết ít.

Ấn đau huyệt Cự Khuyết (Nhâm mạch thứ 14)   Tâm Du (Bàng Quang số 15 - Bối Du Huyệt ). Thốn đau ở Uyên Dịch (Đởm 22) và uất ách vùng trên rốn.
 
Triệu chứng bệnh:
Đau nhức và co rút cơ dọc theo đường kinh đi. Đau và co cứng khớp khuỷ tay như bị thắt chặt. Đau và co rút vùng ngực. Chứng Phục lương: Khí tích tụ ở rốn thân co quắp bụng nổi khối u to bằng nắm tay bất động ở trên rốn hoặc ngay rốn khiến đau khắp vùng rốn buồn bã.
 

2-CÂN KINH THỦ QUYẾT ÂM
Khác với chu kỳ vận hành của Kinh chính Thủ Quyết âm Tâm Bào. Đường vận hành của Cân Kinh Thủ Quyết âm đi ngược từ dưới ngón tay lên lòng ngực: Khởi lên ở đầu ngón tay giữa tại huyệt Trung Xung đi vào lòng bàn tay cùng đi với kinh Cân Thủ Thái Âm đến mặt trước - trong khuỷu tay lên mặt trong cánh tay và kết ở hố nách.
Đến đây tách làm 2 nhánh chính và 1 nhánh phụ.
 Một nhánh tán ra phía trước dọc theo hông sườn mạch nhánh phụ của nó vào nách ở huyệt Uyên Dịch (Đởm 22). Một nhánh khác thấm sâu vào ngực đến huyệt Chiên Trung (Nhâm mạch) qua cơ hoành liên lạc với Tỳ - Vị.


 
Kinh khí vượng hoạt nhất vào giờ Tuất (19-21g) Hư giờ vào Hợi (21-23g) Suy vào giờ Thìn (7-9g).

alt


Cũng như Kinh Chính Cân Kinh Thủ Quyết Âm có nhiều Huyết và ít Khí.

Ấn đau huyệt Đản Trung (Nhâm Mạch.17) Quyết Âm Du (Bàng Quang Q. 14). Kỳ Môn (Can Kinh)
 
Triệu chứng bệnh:
Đau và co cứng cơ dọc theo đường kinh đi. Đau vùng dưới nách. Đau vùng ngực ngực bị đè nén đầy tức.
  


3 CÂN KINH THỦ THÁI ÂM

Khác với chu kỳ vận hành của Kinh chính Thủ Thái âm Phế. Đường vận hành của Cân Kinh Thủ Thái âm đi ngược từ dưới ngón tay lên lòng ngực: Khởi đi từ huyệt Thiếu Thương đến khớp xương ngón cái ở huyệt Ngư Tế (Phế kinh)  qua rãnh trên mạch quay chạy dọc theo mé trước ngoài cẳng tay vào hố nách đến tại huyệt Uyên Dịch (Đởm 22)   rồi trở lên hõm xương đòn vòng quanh khu trước vai   trở lại hõm xương đòn và xuống kết ở ngực phân tán vào Tâm Vị cuối cùng hợp ở bờ sườn cụt.


 
Kinh khí vượng hoạt nhất vào giờ Dần (3-5g) - Hư giờ vào Mão (5-7g) - Suy vào giờ Thân (15-17g).

alt

 

- có nhiều Khí và ít Huyết.

- Ấn đau huyệt Trung Phủ (Mộ huyệt) và Phế Du [Bàng qang.13] (Bối Du Huyệt). Đau ran ở bờ vai trước. Đau ở Cưu Vĩ (Nhâm Mạch) và ấn thốn đau buốt ở huyệt Du Phủ (thận)
 
Triệu Chứng:
- Toàn bộ cơ theo đường kinh đi qua bị co rút hoặc đau nhức. Bệnh nặng gây nghẹn tức bồn chồn lo lắng hồi hộp không yên
- Vai đau không nâng lên được khớp trước vai viêm. 2 bên hông sườn đau thắt. Có khi đau đến Thổ huyết.

___

Phụ lục một số kinh nghiệm ứng dụng thuật "Đả Huyệt Thông Kinh Mạch"

1- Trị bệnh chân lạnh tê buốt và hay ra mồ hôi (một chứng của tê thấp):

a) Triệu chứng: Chân lạnh ngắt như nước đá vào mùa đông thì buốt lạnh tím tái và thường đổ mồ hôi đầm đìa.

b) Nguyên nhân:

- Khí âm trì trệ xuống dưới không thăng tán lên được do âm hư nội nhiệt gây nên

- Khí huyết bế tắc không lưu thông huyết hư khí kém nên máu không lưu thông đến ngoại biên

c) Điều trị tích dương khí tán âm hàn ở vùng chân

 

Sau đây là "tuyệt chiêu Đàn Chỉ Thần Công" của trường phái châm cứu Penzel rất có hiệu quả với căn bệnh này. Phương pháp này được các chuyên viên châm cứu Pênzel sử dụng rộng rãi và hiện tại đã phổ cập ra toàn bộ Tây Âu:

alt

alt

(www.apm-penzel.com )

_______

Xem Video minh họa:


  

- Dùng bút có đầu bi (mẫu của Penzel) chà xiết kéo Dương khí từ 3 đường kinh Dương ở chân về tụ ở bàn chân. Mục đích cho Dương khí tràn đầy ở hạ bàn để nung đốt khí âm hàn tích tụ ở đây thăng tán lên trên.

- Kỹ thuật:

*- Dụng thuật ở Túc Thái Dương Bàng Quang: Tay trái bấm ở huyệt Chí Âm (huyệt cuối thứ 67 ) Tay phải dùng đầu bi ấn vào huyệt 66 Thông Cốc rồi kéo miết xuống tận huyệt Chí âm. Tiếp tục dùng đầu bi ấn vào huyệt 65 Thúc Cốt  rồi lại kéo miết xuống Chí Âm. Tương tự thủ thuật như vậy cho các huyệt 64 Kinh Cốt 63 Kim Môn 62 Thân Mạch 61 Bột Tham 60 Côn Lôn và cuối cùng là 59 Phụ Dương. Làm xong một lượt bắt đầu làm lại từ đầu cho đến khí nào đường kinh đỏ rần lên thì thôi  và chuyển sang dụng thuật ở Đởm kinh

- Dụng thuật ở Túc Thiếu Dương Đởm: Tay trái bấm vào huyệt 44 của Đởm Kinh là huyệt Túc Khiếu Âm tay phải dùng bút đầu bi ấn vào huyệt 43 Hiệp Khê rồi kép miết xuống tận huyệt Túc Khiếu Âm cũng thủ thuật như vậy đối với các huyệt Địa Ngũ Lôi Túc Lâm Khấp Khâu Hư Huyền Chung Dương Phủ Quan Minh Ngoại khâu   cho đến Dương Lăng Tuyền thì quay lại làm từ đầu cho đến khi đường kinh ửng đỏ lên. Thì lại tiếp tục dụng thuật như vậy đối với Túc Dương Minh Vị Kinh.

- Dụng thuật trên Vị kinh cũng vậy tay trái nắm ấn vào huyệt cuối Lệ Đoài và dụng thuật thứ tự từ dưới lên cho đến huyệt Túc Tam Lý thì dừng và làm lại từ đầu.

alt

 Dụng thuật cho đến khi nào 3 đường Túc Dương kinh phía dưới hạ bàn ửng đỏ lên như thế này thì thôi.

- Sau đó dùng tinh dầu hoặc chiết xuất thảo dược bôi dọc theo đường kinh đã được miết đỏ để kích hoạt thêm lần nữa: Trong trường hợp này dùng tinh dầu hoa hướng dương cho Bàng Quang kinh dùng Tinh dầu Olive cho Đởm kinh và dùng dầu Bạc hà cho Vị kinh.

- Nếu chân luôn luôn lạnh buốt nhưng không đổ mồ hôi thì dụng thuật từ 7 đến 10 lần thì khỏi

- Nếu chân lạnh và hay đổ mồ hôi trộm đầm đìa và có mùi hôi thì dụng thuật từ 15 đến 20 lần mới khỏi

- Có thể mỗi ngày làm 2 lần hay mỗi ngày một lần liên tục thì tốt .

*

Dụng cụ bấm huyệt và chà miết kinh mạch:

alt

Tứ trái sang: Chỉ pháp- Bút đầu bi mạ vàng (dùng trong thuật Bổ)- Bút đầu bi bằng bạc- Bút đầu tròn bằng sắt trắng nhiễm từ tính (nam châm) và cuối là thiết bị kích huyệt bằng sóng điện từ

  

alt

Bút chà miết huyệt theo mẫu Penzel có hai đầu tròn như viên bi đầu to đầu nhỏ.

  

alt

Cách cầm bút (..bàn tay năm ngón..anh vẫn kiêu sa...he he....)

 

alt

alt

Cách miết huyệt bằng bút đầu bi

  

alt

Chỉ pháp (ngón tay) là cách dụng thuật có hiệu quả nhất nhưng rất tốn sức và hao tổn nguyên khí cho người dụng thuật.

  

 (Xem phần tiếp 3 đường Cân Kinh Âm ở Chân 3 đường Cân Kinh Dương ở tay và 3 đường Cân kinh Dương ở Chân cùng một số kinh nghiệm ứng dụng)

 

24.03.11

Thực hiện QN- Lê Thuận Nghĩa

 

More...

YẾU QUYẾT "ĐÀN CHỈ THẦN CÔNG" (Tư Liệu)

By Lê Thuận Nghĩa

(Thuật Đả Huyệt Thông Kinh Mạch)
  
Hệ thống Kinh Mạch Lạc trong Y lý cổ truyền là một hệ thống "kênh rạch mương máng" dày đặc bố trí ngang dọc như mạng lưới ở khắp châu thân để cho khí huyết lưu thông không ngưng nghỉ không gián đoạn bảo toàn sự sống.
 
Hệ thống này bao gồm 12 Chính Kinh 12 Biệt Kinh 12 Cân Kinh 15 Lạc Mạch và 8 Kỳ Kinh Bát Mạch tất cả được nối với nhau qua 365 huyệt vị.
   
( Thiên Kinh Biệt ghi: "Thập nhị Kinh Mạch là nơi con người dựa vào để sống nơi mà bệnh dựa vào để thành nơi mà con người dựa vào để trị nơi mà bệnh dựa vào để khởi lên. Cái học về y bắt nguồn từ đây sự khéo léo của thầy thuốc phải đạt đến" (LKhu 11 3-6).
   
- Thiên Hải Luận ghi: "Thập nhị Kinh Mạch bên trong thuộc vào Tạng Phủ bên ngoài lạc với tứ chi và cốt tiết..." (LKhu 33 1).

- Điều 23 Nan Kinh ghi: "Kinh Mạch là nơi vận hành của khí huyết là nơi để cho khí Âm Dương thông nhau nhằm làm vinh [tươi nhuận] cho cơ thể" (Nan 23 6).

 Dựa vào điểm khiếm khuyết trên các nhà nghiên cứu về kinh lạc đứng trên quan điểm hệ thống thần kinh đã từ chối hệ thống kinh lạc của YHCT với nhận định rằng hệ thống kinh lạc của YHCT chẳng qua chỉ là 1 hình thức nào đó của hệ thần kinh. R.A. Durinhian trong bài Bàn Về Phương Pháp Luận Và Sinh Lý Học Của Vấn Đề Huyệt Kinh Lạc Và Năng Lượng Trong Phản Xạ Liệu Pháp đăng trong tài liệu Lý Thuyết Và Thực Hành Phản Xạ xuất bản năm 1981 có ghi: "Hiện nay rất nhiều các chuyên gia cả ở Châu Âu lẫn Châu Á có 1 quan điểm là: các kinh tuyến (các đường kinh lạc) là sự quy ước hoàn toàn là 1 khái niệm chức năng giống như 1 quan niệm về hình thái học. Nó không tồn tại và không thể tồn tại vì sự hiện diện của chúng không cần thiết cho 1 cái gì cả...". Giáo sư M. Rouvière giáo sư nổi tiếng về giải phẫu của trường đại học y khoa Paris đã có lần chủ trì để nhà giải phẫu Perreti Della Rocca mổ xác chết để xem các đường kinh có tồn tại thực không. Sau đó Rouvière đã tuyên bố thẳng thừng là hệ kinh lạc là sản phẩm của trí tưởng tượng Đông phương chứ trong thực tế không có trong cơ thể.

- Tykochinkaia Ounsova Novinsk (Liên Xô) và Chu-Liễn (Trung Quốc) cho thấy: đường đi của các kinh mạch cách chung phù hợp với các đường đi của các dây thần kinh và mạch máu lớn...
 
Như vậy các tác giả theo chiều hướng thần kinh học cho rằng không có hệ thống kinh lạc mà kinh lạc chính là hệ thống thần kinh đứng ở 1 góc độ khác.
  
Tuy nhiên đầu năm 1986 tại Pháp bác sĩ Jean Claude Barras và các nhà nghiên cứu viện y học Neker đã chụp được các đường kinh lạc bằng 1 máy điện tử đặc biệt. Các nhà y học tiêm vào 1 số huyệt 1 dung dịch chứa Tecnetic (1 chất hoá học có tính phóng xạ). Máy ảnh bắt được những tia Gamma phát ra từ chất này. Qua đó người ta thấy: sau khi tiêm vào các huyệt dung dịch chứa chất Tecnetic trên đã lan toả theo những kinh phần nào trùng hợp với những đường kinh được mô tả trong các sách châm cứu xưa. Ngược lại nếu tiêm vào 1 điểm (huyệt) khác trên cơ thể thì dung dịch chỉ tụ lại 1 chỗ không hề lan toả. Đáng chú ý là các nhà y học đã xác định được rằng các kinh châm cứu chụp ảnh được hoàn toàn không tương ứng với đường đi của các mạch máu đường gân hoặc đường dây thần kinh. theo các nhà y học này thì đó là các Kinh chức năng chạy theo những đường mà cho đến nay khoa học chưa hề biết.
 
Khám phá trên của các nhà y học Pháp đã tạo nên 1 tiếng vang rất lớn và đã nêu lên được vai trò của kinh lạc 1 hệ thống biệt lập với đầy đủ vai trò và chức năng của nó trong lãnh vực y học.
  
Trên Cơ Sở Nào Người Xưa Có Được Các Kết Luận Về Hệ Kinh Lạc?
 
Chưa có tài liệu nào chắc chắn để biết rõ người xưa đã dựa trên cơ sở nào để tìm ra hệ thống Kinh Huyệt. Tuy nhiên trải qua suốt quá trình hình thành các học thuyết cơ bản của YHCT có thể nhận thấy rằng phương pháp chủ yếu mà người xưa dùng để nhận thức sự vật thường là phương pháp quy nạp tức là dựa trên các sự kiện này sự kiện khác... rồi tổng hợp lại. Như vậy việc hình thành các đường kinh mạch có thể diễn ra như sau:
 
- Quan sát nơi những người được châm kim thấy có những cảm giác được truyền cách này hoặc cách khác trong cơ thể. Dựa theo cảm giác chủ quan hoặc qua sự mô tả của người bệnh từ đó hình thành và đúc kết nên được 1 hệ thống Kinh Lạc.
 
- Dựa theo quan niệm Thiên Nhân Hợp Nhất theo đó con người là bản sao nhỏ của trời đất (tiểu thiên địa) luôn ứng với cơ cấu của Trời và đất. Có thể thấy rõ trong thiên Kinh Biệt như sau: "Hoàng Đế hỏi: Ta nghe rằng con người hợp với thiên đạo bên trong có ngũ tạng để ứng với ngũ âm ngũ sắc ngũ thời ngũ vị bên ngoài có lục phủ để ứng vớilục luật lục luật để kiến nên các kinh Âm Dương để hợp với thập nhị huyệt thập nhị thần thập nhị tiết thập nhị kinh thủy thập nhị thời thập nhị kinh mạch... (LKhu 11 1-3). Như vậy theo ý Hoàng Đế (đại diện cho giới tìm hiểu) thì sở dĩ có 12 (thập nhị) kinh mạch là để ứng với trời đất. Điều này được minh giải rất rõ qua câu trả lời của Bá Cao trong thiên Tà Khách khi Hoàng Đế hỏi: Thiên hình tròn đất hình vuông thì đầu con người cũng tròn chân con người cũng vuông để ứng theo... Địa có 12 kinh thủy con người có 12 kinh mạch ứng theo..." (LKhu 71 16 31). Hoặc thiên Âm Dương Nguyệt Lệnh ghi: " Từ thắt lưng trở lên thuộc về thiên từ thắt lưng trở xuống thuộc về địa. Cho nên thiên thuộc Dương địa thuộc Âm vì vậy 12 kinh mạch của túc ứng với 12 nguyệt..." (LKhu 41 2).
 
Khi chú giải điều I sách Nan Kinh:
 
- Đinh-Đức-Dụng chú: "...Như vậy phàm tả hữu thượng hạ đều có khí của tam âm và tam dương hợp lại thành 12. Vì thế cho nên trong thân thể con người cũng có 12 kinh để chủ về các phần của tả hữu thượng hạ...".
 
- Dương-Huyền-Tháo chú: "Phàm nơi con người hữu thủ và lưỡng túc đều có tam âm mạch và tam dương mạch hợp lại thành 12...".
  
Chú giải Nan thứ 23 Dương-Huyền-Tháo viết: “ Kinh Mạch 12 Lạc Mạch 15 gồm 27 khí nhằm lấy phép ở 3 lần 9: Thiên có 9 tinh Địa có 9 châu Nhân có 9 khiếu”...
  
Như vậy việc hình thành hệ thống kinh mạch của người xưa dựa trên lối tỉ suy luận (suy luận theo cách so sánh) và dựa trên đúc kết các quan sát.
   
Khi nêu lên nhận xét về quá trình hình thành hệ kinh lạc của người xưa R.A Durinhian trong tài liệu Lý Thuyết Và Thực Hành Phản Xạ Liệu Pháp đã nhận định như sau: "Để đánh giá đúng đắn về học thuyết này (tại sao người xưa đề ra hệ thống kinh mạch) cần nhớ lại thời đại lịch sử khi nó ra đời nhớ lại trình độ nhận thức và truyền thống những đặc điểm về chính trị kinh tế triết học của thời đại của nhân dân trong thời kỳ xa xưa đó...Vì vậy tất cả những gì đạt được của lý thuyết châm cứu trong thời đại đó chỉ là những kết quả của những quan sát bên ngoài dựa trên cơ sở những đánh giá chủ quan của người bệnh...Có điều những tư tưởng lý luận để giải thích các phương thức đó không dựa trên bất kỳ 1 cơ sở số liệu khách quan nào ngoài quan sát bên ngoài... Nó nói lên tính chất phiến diện chủ nghĩa của thời đó...".
   
Y học hiện đại đã tìm cách giải thích cơ cấu của hệ kinh lạc dưới nhiều khía cạnh khác nhau ở đây chỉ ghi lại 1 số quan điểm chính có giá trị cao:

+ Từ năm 1960 học viện y học Vũ Hán (Trung Quốc) cho hệ kinh lạc là 1 hệ thông tin của cơ thể trong đó huyệt là nơi thu và phát tin tức. Châm cứu là 1 khâu cung cấp tin chọn huyệt và thủ thuật châm là dạng chất lượng tin đắc khí là dấu hiệu tiếp thu tin tức tốt.
 
- Ngành điều khiển học cho rằng kinh lạc là những đường dẫn truyền tin tức dưới các dạng năng lượng khác nhau. Các thông tin được xử lý trong hộp đen (Black box) từ đó truyền ra các mệnh lệnh thông với các nơi bệnh.
 
- Năm 1972 tại Hội Nghị Châm Cứu Địa Trung Hải Darras (Pháp) cho rằng hệ kinh lạc là những giải nước iôn hoá các đường iôn hoá bao phủ khắp cơ thể đã tạo nên 1 hệ tự điều chỉnh. Vì thế sự can thiệp của thầy thuốc lên huyệt châm cứu có thể có khả năng có tác dụng và hiệu lực hoá khi có 1 rối loạn chức năng xảy ra cho hệ kinh lạc.
 
- Năm 1973 Court Puyen (Pháp) cho rằng mọi kích thích bình thường liên tục tác động trên cơ thể sẽ nhanh chóng tự triệt tiêu khi thông qua sự biến đổi của Ngũ hành cơ thể luôn giữ được thế quân bình trong 1 môi trường sống không ngừng biến đổi. Sự điều chỉnh này không thể thông qua hệ thần kinh vì tốc độ dẫn truyền của hệ thần kinh quá nặng nề và chậm chạp so với yêu cầu về tự điều chỉnh những kích thích luôn tác động lên cơ thể.
 
- Hệ Thống Kinh Lạc Theo Sinh Lý Thần Kinh: R. A. Durinhian dựa vào phản xạ liệu pháp cho rằng sự vận chuyển trong kinh lạc chủ yếu là do hệ thần kinh vận động. Theo ông sự phân bố của các đường kinh bắt đầu ở các chi và kết thúc ở vùng đầu mặt hoặc ngược lại. Tác dụng mạnh nhất của các đường kinh lạc cụ thể là các huyệt lại mạnh nhất ở điểm đầu hoặc điểm cuối. Tại sao có sự kiện trên chính là do sự phân bố dây thần kinh ở các vùng đó nhiều hơn các vùng khác. Các chi ở người các ngón tay bàn tay có nhiều khối lượng tế bào hơn do đó sự nhậy cảm nhiều hơn và vì thế nó điều khiển những hoạt động chính xác hơn so với khối lượng đòi hỏi để điều khiển những hoạt động của các cơ bắp phần thân dù phần thân chiếm diện tích nhiều hơn hàng trăm lần so với ngón tay. Ở bán cầu đại não vùng chức năng của các ngón tay chiếm vị trí lớn hơn so với vùng chức năng của phần thân. Và phần mặt cũng chiếm 1 vị trí đáng kể nhất là vùng chung quanh miệng... Khi kích thích các huyệt ở vùng tay chân đặc biệt ở các vùng riêng biệt hoặc là ở vùng đầu mặt sẽ kích thích 1 khối lượng lớn hơn các tế bào thần kinh hoạt động so với khi kích thích các huyệt ở vùng thân bụng ngực"- Phần này trích dẫn từ nhiều nguồn - TN)
  
Tất cả 12 Chính Kinh 12 Biệt Kinh 15 Lạc Mạch 8 Kỳ Kinh Bát Mạch và 12 Cân Kinh cùng 365 huyệt đều có các biện chứng Y thuật riêng biệt. Như cấu trúc vận hành vị trí và đường luân chuyển. Cũng như có biện chứng về Triệu Chứng và Nguyên Tắc trị liệu riêng biệt cho từng Kinh Lạc Mạch Huyệt Vị.
  
Và hầu như tất cả các nguyên lý riêng biệt cho từng loại KINH LẠC MẠCH đều lấy 12 Chính Kinh làm Cơ cở  để hình thành và phát triển ra nhiều khoa Châm Cứu khác nhau.
 
Trong các nguyên lý cổ truyền về Châm Cứu Học thì CÂN KINH được giới Y Học đặc chú ý. Và từ cơ sở của Cân Kinh đã phát triển thành nhiều Trường Phái Châm Cứu khác nhau.
 
Có rất trường phái Châm Cứu Hiện Đại lấy Cân Kinh làm cơ sở nồng cốt để hình thành nguyên lý đã được ứng dụng rộng rãi ở trên toàn thế giới.
 
Các trường phái lấy Cân Kinh làm cơ sở bao gồm:
 
1- Nhĩ Châm của Pháp (Châm loa tai)
2- Thủ Châm của Đại Hàn (Châm bàn tay)
3- Diện Châm của Việt Nam (Châm mặt)
4- Châm Tê của Việt Nam (Châm gây tê)
5- Bì Phu Châm của Trung Quốc (Châm dưới da)
6- Trường Phái Châm Penzel của Đức (Hoạt kinh mạch bằng đầu bi)
   
Và gần đây một số chuyên gia Châm cứu Châu Âu đã kết hợp giữa Châm Cứu Penzel và Thái âm chân khí liệu pháp để hình thành một trường phái Châm Cứu mới gọi là "Liệu Pháp Sinh Khí".
   
Liệu Pháp Sinh Khí lấy vòng Đại Chu Thiên Chân Khí của 12 CÂN KINH và vòng Thái Âm Chân Khí làm Nguyên Tắc Trị Liệu và ứng dụng Thủ Pháp của thuật Điểm Huyệt cổ truyền cùng Thủ Pháp của Trường phái Penzel để đả thông kinh mạch phòng chống bệnh tật. Đặc biệt là trong thủ pháp Chống Đau Nhức (Schmerzentherapie).
 
(Kỹ thuật Châm Cứu "Liệu Pháp Sinh Khí"  không dùng Kim và không dùng thêm một liệu pháp vật lý nào nữa khác ngoài "Chỉ Lực" của ngón tay. Chỉ có sự trợ giúp thêm của chiết xuất thảo dược bôi lên huyệt và đường kinh và đầu bi kéo ấn lên kinh mạch khi "chỉ lực"  của người Thầy thuốc chưa đủ "công lực" mà thôi.  Nên tôi tạm gọi đây là môn "Đàn Chỉ Thần Công". Vì nó hao hao giống môn võ công thượng thừa của Đảo Chủ Đào Hoa Đảo Hoàng Dược Sư trong pho chuyện nổi tiếng của Kim Dung: Thần Điêu Đại Hiệp)
   
Vậy  CÂN KINH là gì mà nó có một ảnh hưởng rất vượt trội các nguyên lý Châm Cứu khác đến khoa Châm Cứu Học hiện đại. Và tại vì sao Châm Cứu hiện đại dựa vào nó để hình thành các trường phái Châm Cứu mới. Và các trường phái này lại nhanh chống chinh phục được giới Y Học Quốc Tế thậm chí nó còn chiếm độ tin cậy cao hơn Châm Cứu cổ truyền vì thành tựu và kết quả trị liệu của nó.
 
Bây giờ chúng ta hãy tìm hiểu về Cân Kinh một trong những "yếu quyết" cực kỳ quan trọng của thuật "Đàn Chỉ Thần Công"
 
1)  Khái Niệm:

- Gọi là Cân (gân cơ) Kinh “Vì các đường kinh này đi ở gân (cân) thịt ngoài cơ thể vì vậy gọi là ‘Kinh Cân’ (Trung Y Học Khái Luận). Có nghĩa Cân Kinh là đường chuyển vận sinh khí nằm phía ngoài bì phu chạy qua các hốc khớp xương và nơi có các đốt xương cũng như hệ thống gân cơ nối lại với nhau
 
- Kinh Cân là 1 bộ phận của hệ thống kinh lạc mạch nơi mà kinh kinh khí của 12 Kinh mạch giao hội phân tán và liên hệ với cơ khớp. Có thể nói Kinh Cân là hệ gân cơ chủ về sự vận động di chuyển của cơ thể đồng thời là nơi tiếp nhận trực tiếp các dao động và chuyển dịch của tà khí bên ngoài vào tạng phủ (Châm Cứu Học Thượng Hải).
 
- Tên gọi của Kinh Cân cũng giống tên của Kinh Chính chỉ khác là thêm chữ Cân ở bên cạnh chữ Kinh mà thôi. Thí dụ: Thủ Thái Dương Cân Kinh Tiểu Trường Túc Dương Minh Cân Kinh Vị Thủ Thái Âm Cân Kinh Phế. Hoặc là : Cân Kinh Thủ Dương Minh Cân Kinh Túc Quyết Âm. Cũng có khi gọi ngược lại Thủ Quyết Âm Cân Kinh Túc Thái Dương Cân Kinh....
 
- Đặc điểm chủ yếu của kinh Cân đầu tiên là vượt ra ngoài công năng và tổ chức của hệ thống kinh lạc đi phía ngoài cơ thể (Trung Y Học Khái Luận).


2- Vận Hành Của Kinh Cân
- Kinh Cân thông thường vận hành từ tay chân lên thân mình cổ đầu và phân bố chủ yếu tập trung ở chân tay thân khoang bụng và ngực.
 
- Kinh Dương đi ở mặt ngoài kinh Âm đi ở mặt trong chân tay đi vào khoang bụng ngực nhưng không đi vào Tạng Phủ (khác với 12 Kinh Chính thì ở cả trong lẫn ngoài và khác với kinh Biệt là chú trọng ở Tạng Phủ).
 
- Nếu theo đường vận hành của kinh Cân từ chỗ bắt đầu cho đến chỗ chấm dứt thì kinh Cân đa số bắt đầu từ đầu ngón tay ngón chân đi qua những chỗ khớp xương cổ tay khủy tay nách vai mắt cá đầu gối đùi háng rồi sau đó chia ra ở ngực lưng cuối cùng đến đầu và mình (khác hẳn với sự bắt đầu và chấm dứt hoặc lên hoặc xuống của 12 Kinh Chính cũng như khác với kinh Biệt ở chỗ Kinh Biệt bắt đầu từ khủy tay đầu gối trở lên).
 
- Theo thiên ‘Kinh Cân’ - Sách Linh Khu phổ 13 thì:
 
- Kinh Cân của 3 kinh Dương ở chân giao hội ở xương gò má (lưỡng quyền)
 Vùng huyệt Tứ Bạch  huyệt thứ 12 của Kinh Vị
 
- Kinh Cân của 3 kinh Âm ở chân giao hội ở bộ phận sinh dục. Vùng huyệt Khúc Cốt - huyệt thứ 2 của Nhâm Mạch
 
- Kinh Cân của 3 kinh Dương ở tay giao hội ở chỗ nhọn nhô ra hai 2 bên đầu. Vùng huyệt Bản Thần huyệt thứ 13 của Đởm Kinh
 
-  Kinh Cân của 3 kinh Âm ở tay giao hội ở hông ngực. Vùng huyệt Uyên Dịch là huyệt thứ 22 của Đởm kinh
 
Như vậy đường vận hành của kinh Cân khác với: 12 kinh Chính ở chỗ 12 kinh Chính dựa theo sự lưu chuyển của Âm Dương thủ túc mà tạo nên sự tuần hoàn chỉnh thể.
 
Khác 12 kinh Biệt ở chỗ kinh Biệt dựa vào sự ra - vào ly - hợp của 2 kinh Biểu Lý với nhau.

3- Biểu Hiện Bệnh Lý Của Kinh Cân

- Kinh Cân có nhiều nhánh nhỏ gọi là Tôn Lạc ở ngoài da (Sách Tố Vấn 56 9). Khi tà khí từ bên ngoài xâm nhập vào Tôn Lạc rồi vào kinh Cân. Nếu Vệ khí suy thì tà khí sẽ chuyển vào kinh Chính và Tạng Phủ. Tiến trình này không nhất định xảy ra mà còn tùy thuộc vào Vệ khí. Nếu Vệ khí trong kinh Chính mạnh thì tà khí chỉ ở kinh Cân đôi khi chỉ gây rối loạn ở cơ xương chứ không ảnh hưởng đến Tạng Phủ.

- Vì kinh Cân ở phần bên ngoài (vệ) liên hệ nhiều đến gân cơ vì vậy khi tà khí xâm nhập vào kinh Cân thì phần gân cơ chịu ảnh hưởng nhiều nhất gân cơ chủ sự chuyển động do đó biểu hiện bệnh lý cách chung của kinh Cân là gân cơ đau nhức và co rút hoặc mềm nhão (chi tiết bệnh lý: xin xem ở mục Triệu Chứng của từng đường kinh).

4- Tác Dụng Của Kinh Cân
 
Tác dụng của kinh Cân là sắp nối các xương với nhau tham gia duy trì sự liên lạc toàn thân (Châm Cứu Học Thượng Hải).
 
Sách Trung Y Học Khái Luận giải thích: “ ...Có 1 số vùng bệnh vượt khỏi phạm trù của Kinh Chính và kinh Biệt cùng 1 tên mà khác kinh nhưng lại trị được bệnh như nhau. Thí dụ: huyệt Hợp Cốc (kinh Đại trường số 4) Dương Cốc (Kinh Tiểu trường số5) của kinh thủ Dương Minh và Thủ Thái Dương đều có thể trị đầu đau đó là vì kinh Cân thủ Dương Minh và thủ Thái Dương có thể ‘lên góc trán bên trái liên lạc với đầu xuống cằm bên phải”
  
Chứng trạng chủ yếu của Cân Kinh là đau nhức cộng với co rút tê buốt hoặc mềm nhão bại xuội.
  
Đây cũng là yếu tố cơ bản để thủ pháp"Đàn Chỉ Thần Công" (Đả Huyệt Thông Kinh Mạch) có tác dụng rất hiệu quả trong việc chống đau nhức phong-tê thấp cũng như bại liệt

Muốn dụng được thuật Đả Huyệt Thông Kinh Mạch cần phải nắm vững các đường vận hành của 12 Cân Kinh và cơ chế triệu chứng bệnh trong từng Cân Kinh. Các mối liên hệ với các Cân Kinh khác các Giao Hội Huyệt Tôn Lạc cũng như Tiểu Chu Thiên Cân Kinh Đoạn Chu Thiên Cân Kinh. Đặc biệt là cần phải nắm rõ thời điểm nào thì Cân Kinh nào chính vượng thời điểm nào thì suy hư..v..v.. Mời các bạn quan tâm xem những nguyên lý này ở phần tiếp theo.
 
23.03.11
Sưu Tầm và Biên Soạn QN - Lê Thuận Nghĩa

 

More...

SẤM TRẠNG TRÌNH VÀ THIÊN TAI NHẬT BẢN

By Lê Thuận Nghĩa

SẤM TRẠNG TRÌNH VÀ THIÊN TAI NHẬT BẢN
 
Vào ngày 07 tháng 2 năm 2011 tôi có luận giải chơi sấm ký của Trạng Trình cho năm 2011
(xem ở đây:
http://thuannghia.vnweblogs.com/post/7291/279013 )
 
Trong phần luận giải đặc biệt là phần luận về tình hình thế giới tôi có nhắc đến câu thứ nhất và câu thứ 2 trong Sấm ký cho năm 2011 là có sự chấn động nhiễu loạn lệch lạc ở phương Đông Nam và Đông Bắc của Địa cầu với sự tham gia chấn động của Tích Lịch Hỏa lửa của sấm sét bão giông. Toàn câu như sau:
 "..Đứng về phương diện toàn cầu:
- Phân phân tùng bách mộc: Thời điểm giữa hai năm tùng bách mộc (2010-1011)
- Nhiễu nhiễu đông xuất chinh: Nhiễu nhiễu là loạn lệch lạc chấn động. Nhiễu nhiễu phương Đông có nghĩa là chệch sang hướng Đông Bắc và Đông Nam của địa cầu (vùng Đông nam Á và và vùng Đông Bắc bán cầu (Trung cận Đông). Cũng có nghĩa là các cùng này sẽ xảy ra thiên tai địch họa chiến loạn nhiễu nhương hãi hùng..
" (xem thêm bài viết ở đường link trên"
 
Và khi luận về câu thứ 3 là câu "Bảo Giang thiên tử xuất" tôi có lý giải câu này có liên quan đến Ngũ hành nạp âm "Tuyền Trung Thủy".
 
Sấm ký của cụ Trạng Trình xưa nay được cho là cực kỳ linh nghiệm. Trước đây đã có bao nhiêu "anh hùng hào kiệt" vận vào Sấm ký mà lập nên "đại nghiệp".  Tiếc rằng đến thời "mạt vận" không mấy ai chiết giải được sấm ký của Cụ Trạng cho nên bỏ mất nhiều cơ hội cũng như tránh được tai họa. Vì vậy khi mọi chuyện đã xảy ra người ta mới hồi luận trở lại để mà chiêm nghiệm mà thôi.
  
Bắt chước người xưa Đồ tui cũng "hồi luận" (nói sau chuyện đã rồi) để chiêm nghiệm lại Sấm ký của Cụ Trạng Trình xem mức độ linh nghiệm như thế nào.
 
Trận động đất sóng thần hãi hùng ở Nhật Bản về phương Đông Nam và chiến sự rối ren máu lửa ở Bắc Phi về phương Đông Bắc của Địa cầu vào đầu năm 2011 đã ứng với câu thứ nhất và câu thứ hai của Sấm ký theo luận giải.
 
Về câu thứ ba "Bảo Giang thiên tử xuất" tôi có luận giải là có liên quan đến "Tuyền Trung Thủy". Liệu câu này có liên quan đến Ngũ hành nạp âm của năm 1945 là năm Ất Dậu có hành là Tuyền Trung Thủy hay không? Mời các bạn xem hình ảnh của nước Nhật ở phương Đông để tự chiêm nghiệm lấy lời Sấm.
 
Đồ Gàn

____

Sự giống nhau rợn người giữa ác mộng 1945 và 2011

Đó là thảm hoạ tồi tệ nhất đất nước Nhật Bản kể từ Chiến tranh thế giới thứ II. Và những bức ảnh về sự tàn phá ở nơi đây sau trận động đất kèm sóng thần kinh hoàng hôm 11/3 đã cho thấy sự giống nhau đến ớn lạnh với cảnh tượng ở Hiroshima và Nagasaki cách đây 66 năm. Khi đó hai thành phố này đã bị huỷ diệt bằng hai quả bom hạt nhân do Mỹ thả xuống. Đây chính là thảm hoạ tồi tệ nhất trong lịch sử loài người.


Khoảng 70.000 người Nhật Bản đã chết ngay lập tức khi Mỹ thả quả bom nguyên tử đầu tiên xuống Hiroshima hôm 6/8/1945. 3 ngày sau đó thêm 75.000 người thiệt mạng khi quả bom thứ hai được thả xuống thành phố Nagasaki.

Ít nhất 10.000 nạn nhân được cho là đã thiệt mạng khi những con sóng thần cao 10m với sức huỷ diệt kinh khủng đổ ập vào khu vực phía đông bắc Nhật Bản hôm 11/3. Con số này có thể còn cao hơn nữa khi còn hàng chục ngàn người mất tích.

Hàng chục thị trấn dọc bờ biển bị san phẳng giống như cách mà hai thành phố Hiroshima và Nagasaki bị xoá sổ bởi những quả bom hạt nhân.

Giống như phóng viên của Daily Mail - Alex Thompson miêu tả dù đã kinh qua 20 cuộc chiến tranh nhưng ông vẫn chưa từng thấy sự phá huỷ nào kinh hoàng và đáng sợ như ở Minamisanriku. “Cảnh tượng ở đây gợi nhớ đến hình ảnh về thành phố Nagasaki or Hiroshima sau khi bị Mỹ đánh bom nguyên tử trong thế chiến II. Những kết cấu bê tông có thể còn tồn tại nhưng ngoài ra còn chẳng gì khác” phóng viên Thompson đã viết như vậy.

Trước đó bản thân Thủ tướng Nhật Bản Naoto Khan cũng phải thừa nhận thảm hoạ động đất sóng thần và cả hạt nhân hiện nay ở Nhật Bản đang diễn ra theo cách nghiêm trọng nhất trong vòng 66 năm trở lại đây.

“Việc chúng ta - những người Nhật có thể vượt qua được thảm hoạ này hay không phụ thuộc vào chínhmỗi người trong chúng ta. Tôi tin tưởng mạnh mẽ rằng chúng ta có thể vượt qua được cuộc khủng hoảng tồi tệ này bằng cách đoàn kết bên nhau”.

Dưới đây là những hình ảnh cho thấy sự giống nhau đến ớn lạnh giữa ác mộng hạt nhân năm 1945 và ác mộng động đất sóng thần năm 2011:

alt

Đền thờ Đạo thần Nhật Bản là đại diện cho sự liên hệ về tinh thần giữa con người và đất đai. Hình ảnh trên đây là ở cổng Toril truyền thống – nơi dẫn vào Đền thờ Đạo thần Nhật Bản. Đền thờ này và khu vực xung quanh đó đã bị phá huỷ gần như hoàn toàn trong vụ đánh bom ở Hiroshima cách đây 66 năm. Chỉ còn một số cấu trúc tồn tại trong đó có chiếc cổng Toril.

alt

Và đây là hình ảnh ở ngôi làng Otsuchi hôm 11/3 sau trận động đất kèm theo sóng thần. Nó chẳng khác gì so với hình ảnh ở Đền thờ Đạo thần Nhật Bản cách đây 66 năm trong bức ảnh ở trên.

alt

Một chiếc xe cứu hoả bị cháy đen trong đống đổ nát ở Hiroshima. “Cơn bão lửa” gây ra do quả bom nguyên tử đã không thể bị dập tắt.

alt

Hình ảnh trên lại được tái diễn ở thành phố Minamisoma Nhật Bản sau trận động đất kèm sóng thần hôm 11/3. Chiếc xe cứu hoả này đã được huy động để dập đám cháy gây ra do thảm hoạ kép nhưng chính nó lại trở thành nạn nhân.

alt

Cả một khu vực rộng lớn ở thành phố Minamisinraku bị xoá sổ sau trận động đất. Cảnh tượng các ngôi nhà bị san phẳng giống đến mức không thể phân biệt được với quang cảnh ở Hiroshima cách đây nhiều thập kỷ.

alt

Cuộc sống bị phá huỷ. Một người già sống sót sau ác mộng năm 1945 đang tìm kiếm trong đống đổ nát tại ngôi nhà của mình ở Hiroshima.

alt

Và một người phụ nữ hiện đại Nhật Bản giờ cũng rơi vào tình cảnh tương tự như người già trong bức hình trên. Người phụ nữ này cũng đang bới tìm những gì còn sót lại trong ngôi nhà bị phá nát tan tành của mình ở Rikuzentakata

alt

Toàn bộ thành phố Hiroshima bị san phẳng chỉ còn lại hàng km dài những mảnh gỗ nát vụn đất đã lởm chởm sau khi quả bom hạt nhân được thả xuống. 70.000 người đã chết trong thảm hoạ này.

alt

Cơn sóng thần trong phút chốc đã cuốn phăng hầu như toàn bộ thành phố Rikuzentakata

alt

Cách đây 66 năm thảm hoạ hạt nhân cũng đã thổi bay toàn bộ những ngôi nhà ở Hiroshima chẳng khác gì như ở Rikuzentakata trong bức hình trên.

alt

Ở Minamisanriku hiện tại và Hiroshima cách đây gần 7 thập kỷ mọi thứ cũng chẳng khác nhau là mấy. Cũng có một số thứ có thể tồn tại sau thảm hoạ hạt nhân và động đất nhưng đó chỉ là những khối bê tông. 10.000 người vẫn còn mất tích sau khi sóng thần ập vào Minamisanriku.

alt

Trong khi đó 70.000 người đã chết ở Hiroshima khi quả bom hạt nhân huỷ diệt được thả xuống đây.

alt

Một gia đình hiện đại bàng hoàng khi chứng kiến những gì hiện ra trước mắt ở Minamisoma.

alt

Cách đây 66 năm một người đàn ông Nhật Bản ở Nagasaki cũng có tâm trạng như gia đình trong bức ảnh trên.

alt

Một người đàn ông cô đơn bước đi giữa thành phố Minamisanriku đổ nát hoang tàn. Trước đây thành phố này luôn sầm uất tấp nập người ra vào.

alt

Hiroshima đã từng là một trong những thành phố công nghiệp hoá nhất Nhật Bản trước khi bom nguyên tử được thả xuống đây. Các tướng lĩnh Mỹ đã tránh đánh bom thành phố này trước khi thả bom nguyên tử. Vì thế người ta có thể thấy rõ nhất và đầy đủ nhất về ảnh hưởng gây ra từ quả bom hạt nhân.

                                                   (theo Dailymail)

 

More...

THUẬT ĐIỂM HUYỆT ĐẢ THÔNG KINH MẠCH (Tư Liệu Y Khoa)

By Lê Thuận Nghĩa

(THÁI ÂM CHÂN KHÍ BÍ CẤP : "ĐÀN CHỈ THẦN CÔNG")

 

Muốn dụng được thuật điểm huyệt để đả thông kinh mạch cần phải nắm thật vững các kiến thức dưới đây:

1) Vòng luân chuyển chân khí "Đại Chu Thiên"

2) Ba vòng luân chuyển chân khí "Tiểu Chu Thiên"

3) 3 cặp kinh Âm giao nhau và 3 cặp kinh Dương giao nhau

4) Các cặp Kinh Âm-Dương giao nhau

5) 12 vòng "Đoạn Chu Thiên" của 12 kinh mạch

6) Đồng hồ vượng khí của các Kinh mạch.

7) Vòng Thái Âm Chân khí

Phần 1: VÒNG ĐẠI CHU THIÊN:

Bắt đầu từ Huyệt Cực Tuyền của Thủ Thiếu Âm Tâm Kinh

alt
Từ huyệt đầu Cực Tuyền
chạy dọc theo Tâm kinh:
alt
 đến huyệt huyệt số 9 Thiếu Xung là huyệt cuối của Tâm kinh
alt
Nối Lạc mạch từ huyệt Thiếu Xung (Dưới móng phía trong ngón tay út) sang huyệt đầu của Thủ Thái dương Tiểu Trường Kinh là huyệt Thiếu Trạch (Phía ngoài dưới móng tay ngón út):
alt
Từ huyệt đầu tiên của Tiểu trường kinh là huyệt Thiếu Trạch chân khí chạy dọc Tiểu trường kinh
alt
đến huyệt cuối cùng là huyệt số 19: Thính Cung (Giữa dái tai)
alt
Từ huyệt Thính cung (Tiểu trường kinh) ở dái tai bắt lạc mạch chạy vòng ôm trên lông mày đến huyệt đầu của Túc Thái dương Bàng Quang kinh là huyệt Tinh Minh (đầu chân lông mày):
alt
Từ huyệt Tinh Minh chân khí chạy dọc theo kinh Túc Thái dương Bàng Quang
alt
alt
alt
  đến huyệt cuối cùng là huyệt số 67: Chí Âm:
alt
Từ huyệt Chí Âm này bắt lạc mạch chạy dưới bàn chân đến huyệt đầu của kinh Túc Thiếu Âm Thận là huyệt Dũng Tuyền:
alt
Từ huyệt Dũng Tuyền (Thận kinh) dưới lòng bàn chân chạy dọc Thận kinh:
alt
Đến huyện 27 là huyệt cuối Du Phủ nằm dưới xương đòn gánh phía cổ:
alt
Từ huyệt cuối của Thận Kinh là huyệt Du Phủ bắt lạc mạch chạy qua huyệt đầu của Thủ Quyết Âm Tâm Bào là huyệt Thiên Trì(Nằm cách núm vú khoảng hai thốn chệch sang phía nách)
alt
Từ huyệt đầu Thiên Trì của Tâm Bào chân khí chạy dọc theo Tâm bào lạc :
alt
đến huyệt cuối là huyệt thứ 9: Trung Xung nằm dưới móng tay ngón giữa phía bên ngón cái)
alt
Từ huyệt Trung Xung này của kinh Tâm Bào bắt lạc mạch chạy phía trên lòng bàn tay đến huyệt đầu của Thủ  Thiếu dương Tam Tiêu là huyệt Quan Xung (nằm dưới móng tay phía ngoài của ngón đeo nhẫn)
alt
Từ huyệt Quan Xung chân khí chạy dọc theo theo Thủ thiếu dương Tam tiêu:
alt
...đến huyệt cuối là huyệt 23 Ty Trúc Không(phía trên duôi lông mày):
alt
Từ huyệt Ty trúc không của Tam tiêu kinh bắt lạc mạch đến huyệt đầu của Túc thiếu dương Đởm kinh là huyệt Đồng Tử Liêu:
alt
Từ huyệt Đồng Tử liêu dưới đuôi lông mày chân khí chạy dọc Đởm kinh
alt
 đến huyệt cuối 44 là huyệt Túc Khiếu Âm:
alt
Từ huyệt Túc khiếu âm của Đởm kinh bắt lạc mạch sang huyệt đầu của Túc quyết âm Can là huyệt Đại Đôn (nằm dưới móng chân cái phía ngón út):
alt
Từ huyệt Đại đôn này chân khí chạy dọc Can kinh:
alt
 đến huyệt cuối là huyệt thứ 14 : Kỳ Môn nằm dưới bầu vú:
alt
Chân khí tiếp tục từ huyệt Kỳ môn này vòng phía trong núm vú chạy ngược lên trên bầu vú bắt với huyệt đầu của Thủ thái âm Phế kinh là huyệt Trung Phủ nằm vào khoảng giữa từ núm vú đến xương đòn gánh chệch về phía nách 2 thốn:
alt
Từ huyệt Trung Phủ (phế kinh) chân khí chạy dọc Phế kinh:

alt

 đến huyệt cuối là huyệt thứ 11 Thiếu Thương nằm dưới móng phía ngoài ngón tay cái:
alt
Từ huyệt cuối Thiếu Thương của Phế kinh bắt lạc mạch sang huyệt đầu của Thủ Dương minh Đại trường là huyệt Thương Dương nằm dưới móng tay ngón trỏ:
alt
Chân khí tiếp tục chạy dọc theo Đại trường kinh:
alt
 đến huyệt cuối là huyệt thứ 20 Nghênh Hương nằm ở cánh mũi:
 
alt
Từ huyệt Nghênh hương bắt lạc mạch sang huyệt đầu của Túc dương minh Vị kinh là huyệt Thừa khấp nằm dưới mí mắt:
alt
Từ huyệt Thừa khấp chân khí chạy dọc Vị kinh:
 
 
alt
 đến huyệt cuối là huyệt 45: Lệ Đoài nằm ở dưới móng chân ngón thứ 2:
alt
Từ huyệt Lệ đoài này bắt lạc mạch sang huyệt đầu tiên của Túc Thái âm Tỳ kinh nằm dưới móng chân phía trong bàn chân của ngón cái là huyệt Ần bạch:
alt
Từ huyệt Ẩn Bạch chân khí chạy dọc theo Tỳ kinh:
alt
 đến huyệt cuối là huyệt Đại Bao nằm dưới vòm ngực phía hông:
alt
Từ huyệt Đại Bao chân khí lại tiếp tục  bắt lạc mạch nối với huyệt Cực tuyền là huyệt đầu của Thủ thiếu âm Tâm kinh để bắt đầu một vòng Đại chu thiên mới
  
Phần 2: BA VÒNG TIỂU CHU THIÊN:
  
a) Vòng Tiểu Chu Thiên thứ nhất: Là vòng chân khí khởi từ huyệt Cực Tuyền của Tâm kinh đến huyệt cuối cùng của Thận Kinh là Du Phủ:

Bắt đầu từ Huyệt Cực Tuyền của Thủ Thiếu Âm Tâm Kinh

alt
Từ Huyệt đầu Cực Tuyền
chạy dọc theo Tâm kinh:
alt
 đến huyệt huyệt số 9 Thiếu Xung là huyệt cuối của Tâm kinh
alt
Nối Lạc mạch từ huyệt Thiếu Xung (Dưới móng phía trong ngón tay út) sang huyệt đầu của Thủ Thái dương Tiểu Trường Kinh là huyệt Thiếu Trạch (Phía ngoài dưới móng tay ngón út):
alt
Từ huyệt đầu tiên của Tiểu trường kinh là huyệt Thiếu Trạch chân khí chạy dọc Tiểu trường kinh
alt
đến huyệt cuối cùng là huyệt số 19: Thính Cung (Giữa dái tai)
alt
Từ huyệt Thính cung (Tiểu trường kinh) ở dái tai bắt lạc mạch chạy vòng ôm trên lông mày đến huyệt đầu của Túc Thái dương Bàng Quang kinh là huyệt Tinh Minh (đầu chân lông mày):
alt
Từ huyệt Tinh Minh chân khí chạy dọc theo kinh Túc Thái dương Bàng Quang
alt
alt
alt
  đến huyệt cuối cùng là huyệt số 67: Chí Âm:
alt
Từ huyệt Chí Âm này bắt lạc mạch chạy dưới bàn chân đến huyệt đầu của kinh Túc Thiếu Âm Thận là huyệt Dũng Tuyền:
alt
Từ huyệt Dũng Tuyền (Thận kinh) dưới lòng bàn chân chạy dọc Thận kinh:
alt
Đến huyện 27 là huyệt cuối Du Phủ nằm dưới xương đòn gánh phía cổ:
alt
( Đến đây là kết thúc vòng Tiểu chu thiên thứ nhất)
 
b) Vòng Tiểu chu thiên thứ hai: Bắt đầu từ huyệt Thiên trì của Tâm bào kinh đến huyệt cuối của Can kinh là huyệt Kỳ Môn:
 
alt
Từ huyệt đầu Thiên Trì của Tâm Bào chân khí chạy dọc theo Tâm bào lạc :
alt
đến huyệt cuối là huyệt thứ 9: Trung Xung nằm dưới móng tay ngón giữa phía bên ngón cái)
alt
Từ huyệt Trung Xung này của kinh Tâm Bào bắt lạc mạch chạy phía trên lòng bàn tay đến huyệt đầu của Thủ  Thiếu dương Tam Tiêu là huyệt Quan Xung (nằm dưới móng tay phía ngoài của ngón đeo nhẫn)
alt
Từ huyệt Quan Xung chân khí chạy dọc theo theo Thủ thiếu dương Tam tiêu:
alt
...đến huyệt cuối là huyệt 23 Ty Trúc Không(phía trên duôi lông mày):
alt
Từ huyệt Ty trúc không của Tam tiêu kinh bắt lạc mạch đến huyệt đầu của Túc thiếu dương Đởm kinh là huyệt Đồng Tử Liêu:
alt
Từ huyệt Đồng Tử liêu dưới đuôi lông mày chân khí chạy dọc Đởm kinh
alt
 đến huyệt cuối 44 là huyệt Túc Khiếu Âm:
alt
Từ huyệt Túc khiếu âm của Đởm kinh bắt lạc mạch sang huyệt đầu của Túc quyết âm Can là huyệt Đại Đôn (nằm dưới móng chân cái phía ngón út):
alt
Từ huyệt Đại đôn này chân khí chạy dọc Can kinh:
alt
 đến huyệt cuối là huyệt thứ 14 : Kỳ Môn nằm dưới bầu vú:
alt
(Đến đây là kết thúc vòng Tiểu Chu Thiên thứ 2)
  
c) Vòng tiểu chu thiên thứ 3: Bắt đầu từ  huyệt Trung Phủ của Phế kinh đến huyệt cuối của Tỳ kinh là huyệt Đại bao:
alt
Từ huyệt Trung Phủ (phế kinh) chân khí chạy dọc Phế kinh:

alt

 đến huyệt cuối là huyệt thứ 11 Thiếu Thương nằm dưới móng phía ngoài ngón tay cái:
alt
Từ huyệt cuối Thiếu Thương của Phế kinh bắt lạc mạch sang huyệt đầu của Thủ Dương minh Đại trường là huyệt Thương Dương nằm dưới móng tay ngón trỏ:
alt
Chân khí tiếp tục chạy dọc theo Đại trường kinh:
alt
 đến huyệt cuối là huyệt thứ 20 Nghênh Hương nằm ở cánh mũi:
 
alt
Từ huyệt Nghênh hương bắt lạc mạch sang huyệt đầu của Túc dương minh Vị kinh là huyệt Thừa khấp nằm dưới mí mắt:
alt
Từ huyệt Thừa khấp chân khí chạy dọc Vị kinh:
 
 
alt
 đến huyệt cuối là huyệt 45: Lệ Đoài nằm ở dưới móng chân ngón thứ 2:
alt
Từ huyệt Lệ đoài này bắt lạc mạch sang huyệt đầu tiên của Túc Thái âm Tỳ kinh nằm dưới móng chân phía trong bàn chân của ngón cái là huyệt Ần bạch:
alt
Từ huyệt Ẩn Bạch chân khí chạy dọc theo Tỳ kinh:
alt
 đến huyệt cuối là huyệt Đại Bao nằm dưới vòm ngực phía hông:
alt
(đến đây là kết thúc vòng tiểu chu thiên thứ 3)
  
Phần thứ 3: CÁC CẶP KINH ÂM GIAO NHAU và CÁC CẶP KINH DƯƠNG GIAO NHAU
  
1) Các cặp kinh Âm giao nhau:
a) Cặp Túc Thiếu Âm Thận nối với Thủ Quyết Âm Tâm Bào:
huyệt Dũng Tuyền:
alt
Từ huyệt Dũng Tuyền (Thận kinh) dưới lòng bàn chân chạy dọc Thận kinh:
alt
Đến huyện 27 là huyệt cuối Du Phủ nằm dưới xương đòn gánh phía cổ:
alt
Từ huyệt cuối của Thận Kinh là huyệt Du Phủ bắt lạc mạch chạy qua huyệt đầu của Thủ Quyết Âm Tâm Bào là huyệt Thiên Trì(Nằm cách núm vú khoảng hai thốn chệch sang phía nách)
alt
Từ huyệt đầu Thiên Trì của Tâm Bào chân khí chạy dọc theo Tâm bào lạc :
alt
đến huyệt cuối là huyệt thứ 9: Trung Xung nằm dưới móng tay ngón giữa phía bên ngón cái)
 
b) Cặp Túc Quyết Âm Can Kinh giao với Thủ Thái Âm Phế Kinh:
huyệt đầu của Túc quyết âm Can là huyệt Đại Đôn (nằm dưới móng chân cái phía ngón út):
alt
Từ huyệt Đại đôn này chân khí chạy dọc Can kinh:
alt
 đến huyệt cuối là huyệt thứ 14 : Kỳ Môn nằm dưới bầu vú:
alt
Chân khí tiếp tục từ huyệt Kỳ môn này vòng phía trong núm vú chạy ngược lên trên bầu vú bắt với huyệt đầu của Thủ thái âm Phế kinh là huyệt Trung Phủ nằm vào khoảng giữa từ núm vú đến xương đòn gánh chệch về phía nách 2 thốn:
alt
Từ huyệt Trung Phủ (phế kinh) chân khí chạy dọc Phế kinh:

alt

 đến huyệt cuối là huyệt thứ 11 Thiếu Thương nằm dưới móng phía ngoài ngón tay cái:
alt
 
c) Cặp Túc Thái Âm Tỳ giao với Thủ Thiếu Âm Tâm Kinh:
Từ huyệt đầu tiên của Túc Thái âm Tỳ kinh nằm dưới móng chân phía trong bàn chân của ngón cái là huyệt Ần bạch:
alt
Từ huyệt Ẩn Bạch chân khí chạy dọc theo Tỳ kinh:
alt
 đến huyệt cuối là huyệt Đại Bao nằm dưới vòm ngực phía hông:
alt
Từ huyệt Đại Bao chân khí lại tiếp tục  bắt lạc mạch nối với huyệt Cực tuyền là huyệt đầu của Thủ thiếu âm Tâm kinh
 
alt
Từ huyệt đầu Cực Tuyền
chạy dọc theo Tâm kinh:
alt
 đến huyệt huyệt số 9 Thiếu Xung là huyệt cuối của Tâm kinh
alt
2) Các Cặp Kinh Dương giao nhau:
  
a) Cặp Thủ Thiếu Dương Tam Tiêu giao với Túc Thiếu Dương Đởm Kinh:
 huyệt đầu của Thủ  Thiếu dương Tam Tiêu là huyệt Quan Xung (nằm dưới móng tay phía ngoài của ngón đeo nhẫn)
alt
Từ huyệt Quan Xung chân khí chạy dọc theo theo Thủ thiếu dương Tam tiêu:
alt
...đến huyệt cuối là huyệt 23 Ty Trúc Không(phía trên duôi lông mày):
alt
Từ huyệt Ty trúc không của Tam tiêu kinh bắt lạc mạch đến huyệt đầu của Túc thiếu dương Đởm kinh là huyệt Đồng Tử Liêu:
alt
Từ huyệt Đồng Tử liêu dưới đuôi lông mày chân khí chạy dọc Đởm kinh
alt
 đến huyệt cuối 44 là huyệt Túc Khiếu Âm:
alt
  
b) Cặp Thủ Dương Minh Đại Trường giao với Túc Dương Minh Vị Kinh:
huyệt đầu của Thủ Dương minh Đại trường là huyệt Thương Dương nằm dưới móng tay ngón trỏ:
alt
Chân khí tiếp tục chạy dọc theo Đại trường kinh:
alt
 đến huyệt cuối là huyệt thứ 20 Nghênh Hương nằm ở cánh mũi:
 
alt
Từ huyệt Nghênh hương bắt lạc mạch sang huyệt đầu của Túc dương minh Vị kinh là huyệt Thừa khấp nằm dưới mí mắt:
alt
Từ huyệt Thừa khấp chân khí chạy dọc Vị kinh:
 
 
alt
 đến huyệt cuối là huyệt 45: Lệ Đoài nằm ở dưới móng chân ngón thứ 2:
alt
 
C) Cặp Thủ Thái Dương Tiểu Trường giao với Túc Thái Dương Bàng Quang:
Từ huyệt đầu của Thủ Thái dương Tiểu Trường Kinh là huyệt Thiếu Trạch (Phía ngoài dưới móng tay ngón út):
alt
Từ huyệt đầu tiên của Tiểu trường kinh là huyệt Thiếu Trạch chân khí chạy dọc Tiểu trường kinh
alt
đến huyệt cuối cùng là huyệt số 19: Thính Cung (Giữa dái tai)
alt
Từ huyệt Thính cung (Tiểu trường kinh) ở dái tai bắt lạc mạch chạy vòng ôm trên lông mày đến huyệt đầu của Túc Thái dương Bàng Quang kinh là huyệt Tinh Minh (đầu chân lông mày):
alt
Từ huyệt Tinh Minh chân khí chạy dọc theo kinh Túc Thái dương Bàng Quang
alt
alt
alt
  đến huyệt cuối cùng là huyệt số 67: Chí Âm:
alt
 
(Xem phần tiếp)
  


15.3.11
TN

More...

Thái âm chân khí liệu pháp

By Lê Thuận Nghĩa


THÁI ÂM CHÂN KHÍ LIỆU PHÁP (Viết Nhân Dịp Ngày Thầy Thuốc Việt Nam)
  
Bài viết tặng bạn bè đồng nghiệp nhân ngày Thầy Thuốc Việt Nam
  
Vì là bài viết dành tặng cho đồng nghiệp nghề và  bạn bè quan tâm đến Đông Y cho nên để tiết kiệm thời gian tôi chỉ chú trọng vào phần trọng điểm.

 Trong bài viết dành cho "cao thủ" này những phần lý luận căn bản của Đông Y như hệ thống huyệt vị nguyên tắc ngũ hành âm dương tứ chẩn bát pháp...đều không đề cập đến. Bài viết chỉ đề cập đến 2 vấn đề cơ bản sau:
1) Nguyên tắc vận hành của vòng Thái Âm Chân Khí

alt


2) Những kinh nghiệm của Y tế châu Âu dụng liệu pháp Thái Âm Chân Khí
  a) Ứng dụng liệu pháp Thái Âm Chân Khí trong điều trị Vô Sinh và Sản Khoa
alt

  b) Ứng dụng liệu pháp Thái Âm Chân Khí trong việc kéo dài tuổi xuân

c) Ứng dụng liệu pháp Thái Âm Chân Khí trong điều trị bại liệt

alt

 
  d) Kích hoạt Thái Âm Chân Khí bằng thảo dược tác động trực tiếp vào Ty thể trong việc phòng chống và điều trị Ung Thư

 e) Thái Âm Công: "Thánh Đạo" trong Y thuật Trường Sinh
 
Phần1- NGUYÊN TẮC VẬn HÀNH CỦA VÒNG THÁI ÂM CHÂN KHÍ:
  

  alt  alt

alt

Hội thảo Quốc tế lần thứ 2 về Thái Âm Chân Khí từ ngày 18 đến 24 tháng 2 năm 2011 tại Đức Quốc do Tiến sĩ Günter Köhls chủ trì
________

 

alt

Vòng Ngũ Hành Sinh-Khắc trong vận hành Chân Khí

  

 

alt

Ngũ Hành Đại Chu Thiên

 

  alt

Vòng Đại Chu Thiên và 3 vòng Tiểu Chu Thiên qua cách trình bày của những nhà nghiên cứu Y học Á Đông của Y học hiện đại

Cách của bánh luân xa tô đậm là các kinh Dương:

- Dü= Tiểu trường kinh

- B= Bàng quang kinh

- DE  = Tam tiêu kinh

- G = Đởm kinh

-Di = Đại trường kinh

- M = Vị kinh

Cánh của bánh luân xa tô nhạt là các kinh Âm:

N= Thận kinh

Ks = Tâm bào lạc kinh

Le = Can kinh

Lu = Phế kinh

Mp = Tỳ kinh

H = Tâm kinh

Vòng Đại Châu Thiên khởi từ Tâm kinh đi đến => Tiểu trường kinh => Đại trường kinh => Thận kinh => Tâm bào lạc kinh => Tam tiêu kinh => Đởm kinh => Can kinh => Phế kinh => Đại trường kinh => Vị kinh => Tỳ Kinh => Tâm kinh => Tiểu trường kinh....

Vòng Tiểu chu thiên thứ nhất : Khởi từ Tâm kinh đến Tiểu trường đi qua Bàng quang kinh đến Thận kinh

Vòng Tiểu chu thiên thứ hai:Bắt đầu từ Tâm bào lạc đến Tam tiêu kinh qua Đởm kinh đến Can kinh

Vòng Tiểu chu thiên thứ ba: Bắt đầu từ Phế kinh qua Đại trường kinh đến Vị kinh và kết tại Tỳ kinh

(Nhìn trên đồ hình)

Các con số ở vòng ngoài cùng trong đồ hình là thời gian trong ngày nơi mà Chân khí đi qua Nội tạng tương ứng mạnh nhất

 

6 đường Kinh Âm và các huyệt Đầu và Cuối đường kinh (Nơi Chân khí nối tiếp nhau giữa các đường kinh)

alt

h1: Thủ Thái Âm Phế kinh

 

alt
H2: Huyệt cuối Phế kinh: Thiếu Thương (Lu11)
 
 
 alt
H3: Huyệt đầu Phế kinh: Trung Phủ
_________________________________
 
 
alt
H4: Thủ Quyết Âm Tam Bào kinh
 
 
alt
H5: Huyệt cuối: Trung Xung
 
 
alt
H6: Huyệt đầu Thiên Trì
______________________________
 
 
 
alt
H7: Thủ Thiếu Âm Tâm Kinh
 
  alt
H8: Huyệt cuối: Thiếu Xung
 
 
alt
H9: Huyệt đầu Cực Tuyền
____________________________
 
 
alt
H10: Túc Thiếu Âm Thận kinh
 
alt
H11: Huyệt đầu: Dũng Tuyền
 
alt
H12: Huyệt cuối Du Phủ
_____________________
  
alt
H13: Túc Quyết Âm Can kinh
 
alt
H14: Huyệt đầu: Đại Đôn
 
alt
H15: Huyệt cuối: Kỳ Môn
 ________________
 
alt
H16: Túc Thái Âm Tỳ Kinh
 
alt
H17: Huyệt đầu Ẩn Bạch
 
alt
H18: Huyệt cuối: Đại Bao
_______________
 
6 Đường Kinh Dương và các huyệt đầu và cuối
  
alt
H19: Thủ Dương Minh Đại Trường kinh
 
alt
H20: Huyệt đầu: Thương Dương
  
alt
H21: Huyệt cuối: Nghênh Hương
________
 
alt
H22: Túc Dương Minh Vị kinh
alt
H23: huyệt cuối: Lệ Đoài
 
alt
H24: huyệt đầu: Thừa Khấp
 
_____________
 
 
alt
H25: Thủ Thái Dương Tiểu Trường Kinh
 
alt
H26: huyệt cuối: Thính Cung
 
alt
H27: huyệt đầu Thiếu Trạch
_________________
 
 
alt
alt
alt
H28: Túc Thái Dương Bàng quang kinh
alt
H29: Huyệt cuối: Chí Âm
 
 
alt
H30: Huyệt Đầu Tinh Minh
________________
 
alt
H31: Thủ Thiếu Dương Tam Tiêu Kinh
 
alt
H32: huyệt cuối Ty Trúc Không
 
alt
H33: Huyệt đầu: Quan Xung
 
 _________
 
alt
H34: Túc Thiếu Dương Đởm Kinh
 
alt
H35: huyệt đầu Đồng Tử Liêu:
 
 
alt
H36: huyệt cuối: Túc Khiếu Âm
 
________
 
 
alt
Các đường kinh ở Tay bố trí theo hình cắt ngang
alt
 
alt
Các đường Kinh ở chân bố trí theo hình cắt ngang
 
alt
  
  
alt
Hình cắt ngang của Tay và Chân nơi có các đường kinh đi qua
 
_____
  
alt
Vòng Chân Khí Đại Chu Thiên:
Khởi từ  huyệt Cực Tuyền phía đường chỉ nách phía trong (hình H9) chạy dọc theo đường kinh Tâm (hình H7)  đến huyệt Thiếu Xung phía trong sau móng ngón tay út (hình H8) => Nối qua huyệt Thiếu Trạch của kinh Tiểu Trường (Hình H27) rồi chạy dọc phía ngoài cánh tay theo đường kinh Tiểu Trường (hình H25) đến huyệt cuối Thính Cung ở dái tai (hình H26). Từ huyệt Thính Cung chạy đến huyệt Tinh Minh (Hình H30) ở đầu lông mày của Bàng Quang kinh sau đó chạy dọc theo kinh Bàng Quang (hình H28) đến huyệt Chí Âm (hình H29) là huyệt cuối cùng của Bàng Quang kinh huyệt này nằm phía ngoài cuối ngón chân út. Từ huyệt Chí Âm chân khí tiếp tục chạy qua huyệt đầu tiên của Thận kinh là huyệt Dũng Tuyền (Hình H11) rồi từ đó theo Thận Kinh (hình H10) chạy qua vùng bụng gần rốn chạy thẳng đến huyệt cuối gần dưới cổ là huyệt Du Phủ (hình H12). (Đến đây cũng là vừa kết thúc vòng Tiểu Chu Thiên thứ nhất). Chân khí tiếp tục từ huyệt Du Phủ chạy đến huyệt thứ nhất của kinh Tâm bào là huyệt Thiên Trì (hình H6) tiếp chạy dọc theo đường kinh Tâm bào (hình H5) phía trong cánh tay đến huyệt cuối là huyệt Trung Xung (hình H5) phía ngoài ngón tay giữa. Từ huyệt Trung Xung ở ngón tay giữa chân khí vòng qua huyệt Quan Xung (hình H33) ở phía ngoài đầu ngón tay trỏ là huyệt đầu của kinh Tam Tiêu tiếp tục từ huyệt Quan Xung chân khí theo kinh Tam Tiêu chạy dọc theo đường kinh phía ngoài cánh tay (hình H31) đến huyệt cuối là huyệt Ty Trúc Không (hình 32) nằm cuối đuôi mắt. Từ huyệt Ty Trúc Không của Tam Tiêu kinh chân khí tiếp tục chạy đến huyệt đầu của Đởm kinh là huyệt Đồng Tử Liêu (hình H35) gần dưới mắt tiếp tục chạy theo Đởm Kinh xuống huyệt Túc Khiếu Âm (hình 36)  phía ngoài ngón giáp út của bàn chân. Từ huyện Túc Khiếu Âm phía ngoài ngón giáp út bàn chân chân khí chạy vòng trên mu bàn chân chạy đến huyệt đầu tiên của Can kinh là huyệt Đại Đôn (hình H14) nằm sau móng ngón cái phía ngoài ngón út từ huyệt Đại Đôn chân khí chạy ngược lên trên theo Can Kinh (hình H13) đến huyệt cuối cùng là huyệt Kỳ Môn ở dưới vòm ngực (hình H15). (Đến đây cũng là lúc kết thúc vòng Tiểu Chu Thiên thứ 2). Từ huyệt Kỳ Môn bên dưới ngực chân khí tràn qua huyệt đầu tiên của Phế kinh là huyệt Trung Phủ (hình H3) phía trên vòm ngực tiếp tực từ huyệt Trung Phủ chân khí chạy vòng qua nách chạy xuống huyệt cuối cùng của Phế kinh (hình H1) là huyệt Thiếu Thương (hình H2) nằm ở đầu phía trong ngón tay cái. Từ huyệt Thiếu thương ở ngón cái chân khí  chạy vòng theo hổ khẩu đến huyệt đầu của kinh Đại trường là huyệt Thương Dương (hình H20) chân khí tiếp tục chạy dọc theo kinh Đại trường (hình H19) lên trên kề mũi đến huyệt Nghinh Hương (hình H21) là huyệt cuối của Đại Tường kinh. Chân khí từ Nghinh Hương kề vách mũi chạy kép đến huyệt đầu của Vị kinh là huyệt Thừa Khấp gần đầu hốc mắt phía dưới sau đó theo Vị kinh (hình H23) chạy xuống ngang vùng bụng và chạy dọc theo phía ngoài chân đến huyệt cuối cùng là huyệt Lệ Đoài nằm phía ngoài đầu ngón chân thứ 2. Từ huyệt Lệ Đoài ở ngón chân thứ 2 chân khí vòng xuống dưới bàn chân chạy đến huyệt đầu của Tỳ kinh là huyệt Ẩn Bạch (hình H17) nằm ở phía trong đầu ngón chân cái chân khí tiếp tục theo Tỳ kinh (hình H16) chạy đến huyệt cuối là huyệt Đại Bao nằm phía bìa hông dưới vòm ngực. (Đến đây cũng vừa kết thúc vòng Tiểu Chu Thiên thứ 3) . Và cũng bắt đầu một vòng Đại Chu Thiên mới. Chân khí từ huyệt Đại Bao là huyệt cuối của Tỳ kinh chạy đến huyệt đầu của Tâm kinh là huyệt Cực Tuyền để rồi từ đó theo Tâm kinh làm một vòng Đại Chu Thiên khác.
(Vòng chân khí Đại Chu Thiên chạy theo 12 kinh mạch chính ở từng vùng khác nhau trong cơ thể có lưu chuyển theo các lạc mạch để giao lưu với Nhâm Mạch và Đốc mạch)
 
______
 
VÀ ĐÂY LÀ VÒNG "THÁI ÂM CHÂN KHÍ"
 
 
alt
Vòng Thái Âm Chân Khí:
Khởi từ huyệt đầu Phế Kinh là huyệt Trung Phủ ở chỗ tiếp giáp cánh tay với lòng ngực (hình H3) chạy dọc xuống theo Phế kinh phía trong cánh tay (hình H1) đến huyệt Thiếu thương đầu ngón tay cái (hình H2). Khí chân âm từ huyệt Thiếu Thương chạy vòng dưới lòng tay đến huyệt cuối của kinh Tâm bào là huyệt Trung Xung ở ngón tay giữa phía ngón út rồi từ đó chạy ngược lại kinh Tâm Bào (hình H4) đến huyệt đầu là huyệt Thiên Trì ở phía trên bên ngoài lòng ngực. Từ huyệt cuối Thiên Trì của Tâm Bài kh1i chân Âm chạy qua huyệt đầu của Tâm kinh cũng ở gần ngay chỗ đó là huyệt Cực Tuyền (hình H9) từ huyệt Cực Tuyền chân âm lại chạy dọc xuống theo Tâm kinh (hình H7) để đến huyệt cuối Tâm kinh là huyệt Thiếu Xung phía trong ngón út (hình H8). (Kết thức vòng thượng Chân Âm). Từ Huyệt Thiếu Xung chân Âm lại chạy ngược trở lại huyệt Cực Tuyền và tràn sang huyệt cuối của Thận Kinh nằm dưới xương đòn gánh dưới cổ là huyệt Du Phủ (hình H12). Từ huyệt Du Phủ chân âm lại chạy ngược đường kinh Thận (hình H10) tràn xuống huyệt đầu của đường kinh là huyệt Dũng Tuyền dưới lòng bàn chân (hình H11). Từ huyệt Dũng Tuyền chân âm chạy sang huyệt đầu của Tỳ kinh là huyệt Ẩn Bạch (hình H17) ở đầu phía trong ngón chân cái. Từ huyệt Ẩn Bạch chân âm chạy thuận theo đường kinh Tỳ (hình H16) đến huyệt cuối là huyệt Đại Bao (hình H18) ở phía dưới vòm ngực. Từ huyệt Đại Bao chân âm chạy qua huyệt Kỳ Môn là huyệt cuối của Can kinh ngay gần đó (hình H15). Chân khí tiếp tục ngược đường kinh Can chạy xuống đến huyệt đầu ngón chân cái là huyệt Đại Đôn (hình H14). Từ huyệt Đại Đôn ở ngón cái chân khí chạy thuận trở lại đường kinh Can và về tụ ở Kỳ Môn (kết thúc vòng Hạ Chân Âm). Bắt đầu từ Kỳ Môn huyệt của Can Kinh chân khí lại chạy lên huyệt Trung Phủ của Phế kinh gần đó để bắt đầu một vòng Thái Âm Chân Khí Mới.
 
Chú ý:
-Vòng Thái Âm Chân Khí có vòng luân chuyển ngược chiều kim đồng hồ và ngược vòng tương sinh theo luật Ngũ Hành. Hay nói cách khác Thái Âm Chân Khí chuyển dịch theo vòng tương khác từ Kim đến Hỏa từ Hỏa đến Thủy từ Thủy đến Thổ từ Thổ đến Mộc rồi từ Mộc chuyển đến Kim tiếp tục lại từ Kim chuyển đến Hỏa...
 
- Vòng Thái Âm Chân khí gần như có hai chu kỳ rõ rệt. Chu kỳ Thượng Chân Âm khí chân âm luân chuyển ở thượng tiêu và chu kỳ Hạ Chân Âm luân chuyển ở trung tiêu và hạ tiêu
  
- Vòng Thái Âm Chân Khí có huyệt Tam Âm Giao có một mạch lạc liên hệ với huyệt Túc Tam Lý để kích hoạt chân dương. Và có nơi hoạt khí chân Âm nằm trong tam giác ở lòng ngực nối từ huyệt Du Phủ (hình H12)  đến huyệt Trung Phủ (hình H3) và huyệt Kỳ Môn (hình H15).
  

(xem tiếp phần 2)
27.02.11
Biên soạn
QN- Thuận Nghĩa
  


More...

"TẾT" chứ không phải là "TIẾT" (Khảo luận Lịch Sử)

By Lê Thuận Nghĩa


"Tết" là lễ hội và hầu như những dân tộc có nền văn hóa cổ truyền khởi nguồn từ nền văn hóa lúa nước đều gọi những dịp tụ tập vui mừng thi đua chúc tụng... những thành quả có được hay là để chiêm cúng cầu mong có được thành quả tốt trong việc trồng trọt là "Tết".
 
Chữ "Tết" tương đối đồng âm với chữ "Tiết" trong 24 "Tiết Khí" của lịch nông nghiệp Á đông (Âm lịch Lịch mặt trăng..).  Tết Cổ Truyền Việt Nam lại hầu như trùng với ngày đầu tiên của Tiết Lập Xuân là ngày khởi đầu cho một mùa có tiết khí thuận lợi cho việc trồng trọt gọi là ngày Nguyên Đán. Cho nên người Việt chúng ta bắt đầu là nhầm lẫn sau đó là thành thói quen và cuối cùng đã biến Tết một ngày lễ hội mừng năm mới theo Lịch nông nghiệp thành Tết Nguyên Đán.
 
Tết cổ truyền Việt Nam là một lễ hội truyền thống có liên quan đến việc trồng cấy cây nông nghiệp trong tập tục của người Việt cổ đại chứ hoàn toàn không liên quan đến Tiết Nguyên Đán của Trung Hoa. Một số học giả cho rằng từ nguyên của Tết là xuất xứ từ Tiết Nguyên Đán bên Tàu là sai. Cũng chính vì vậy mà đã hình thành một khái niệm sai lầm trong nhận thức gọi Tết cổ truyền Việt Nam là Tết Nguyên Đán.
 
Ngày nay hầu như những bài viết của các học giả lịch sử các nhà biên soạn từ điển và ngay cả tng lớp trí thức Việt Nam cũng như các chính khách lãnh tụ Việt Nam khi viết về Tết cổ truyền hay chúc tụng Tết cổ truyền Dân tộc đều dùng từ "Tết Nguyên Đán".
 
Sự nhầm lẫn vô tình này đã tạo ra suy nghĩ Tết cổ truyền Việt Nam có xuất xứ từ Trung Hoa. Và cho rằng chúng ta lệ thuộc vào Văn hóa Tàu.
 
Cũng chính vì suy nghĩ này mà một số trí thức Việt Nam ở hải ngoại đã hô hào chống Trung Quốc bằng cách gạt bỏ Tết Cổ truyền và Tết Trung thu ra khỏi sinh hoạt cộng đồng. Họ cuồng tín cho rằng làm như vậy mới thoát ra khỏi ách đô hộ Văn hóa của phương Bắc.
   
Tết cổ truyền Việt Nam là lễ hội có trước ngày lễ "Tân Niên" lễ mừng ngày Nguyên Đán của người Tàu rất lâu. Và nếu như hai ngày lễ này có giống nhau về truyền thống thì chính Người Trung Hoa bắt chước người Việt mới có lễ hội này chứ không thể nói rằng Tết cổ truyền Việt Nam xuất xứ từ Tàu được.
  
Không thể có chuyện cái có trước lại bắt chước cái có sau được đó là nghịch lý.
 
Các bạn hãy xem Khổng Tử là bậc tổ sư cho lễ nhạc của Trung Hoa viết trong sách Kinh Lễ như sau: ":"Ta không biết Tết là gì nghe đâu đó là tên của một ngày lễ hội lớn của bọn nguời Man họ nhảy múa như điên uống ruợu và ăn chơi vào những ngày đó họ gọi tên cho ngày đó là "TẾ SẠ" (Tế Sạ là Khổng Tử phát âm ch Thêts là lễ hội năm mới của người Thái đất Phong Châu- TN)
   
Sách Giao Chỉ Chí cũng có đoạn viết "Bọn người Giao Quận thường tập trung lại từng phường hội nhảy múa hát ca ăn uống chơi bời trong nhiều ngày để vui mừng một mùa cấy trồng mới chúng gọi ngày đó là Nèn- Thêts không những chỉ có dân làm nông mà tất cả người nhà của Quan lang Chúa động cũng đều tham gia lễ hội này. Chỉ có bọn man di mới có ngày hội mà người trên kẽ dưới cùng nhau nhảy múa như cuồng vậy bên ta không có sự Quân thần điên đảo như thế.."
 
Hai đoạn trích từ hai cuốn Kinh sử nổi tiếng của Văn hóa Trung Hoa đều khẳng định Tết của Việt có trước ngày "Tân Niên" Chinese new Year " Thrếts Chìn" của người Tần Trung Hoa rất xa.
 
Tết cổ truyền của Việt Nam có từ thời Hồng Bàng có trước cả thời Hùng Vương vì vậy mới có sự tích Lang Liêu gói bánh chưng bánh dày mừng Tết vua Cha chứ. Có nghĩa là Tết cổ truyền Việt Nam đã có hơn 4000 năm rồi.
  
Trong khi lễ "Tân Niên- 新年 " của người Tàu thì sao?
 
Theo lịch sử Trung Quốc nguồn gốc Xuân tiết (春節) Tân niên (新年) hoặc Nông lịch tân niên (農曆新年).  có từ đời Tam Hoàng Ngũ Đế và thay đổi theo từng thời kỳ.
 
Đời Tam đại nhà Hạ (1767 TCN) Tân Niên chọn ngày đầu tháng giêng tức tháng Dần. Nhà Thương (1122 TCN)  lấy ngày đầu tháng Sửu tức tháng chạp làm tháng đầu năm. Nhà Chu (250 TCN) chọn tháng Tý tức tháng mười một làm tháng lễ mừng Tân Niên.

Đời Đông Chu Khổng Tử đổi ngày Tân Niên vào một tháng nhất định là tháng Dần. Đời nhà Tần (thế kỷ 3 TCN) Tần Thủy Hoàng lại đổi qua tháng Hợi tức tháng mười. Đến thời nhà Hán Hán Vũ Đế (140 TCN) lại đặt ngày Tết vào tháng Dần tức tháng giêng. Từ đó về sau không còn triều đại nào thay đổi về khởi đầu năm mới nữa cho đến tận bây giờ.
 
Như vậy là ngày Tân Niên của Trung Hoa có sau ngày Tết cổ truyền Việt rất xa. Và thay đổi tứ tung. Còn ngày Tết cổ truyền của Tộc Việt vốn không thay đổi từ thượng cổ cho đến nay. Thế thì tại sao lại nói ngày Tết cổ truyền Việt Nam là có từ Tết Tàu được. Thậm đại vô lý.
 
Nếu tra theo từ Nguyên của chữ Tết vốn chẳng liên quan gì đến chữ Tiết trong Tiết Nguyên Đán của Lịch Tàu cả. Vì bởi Nguyên Đán vốn không phải là Tiết trong 24 bốn Tiết khí của Thời tiết phân chia theo lịch Mặt trăng. Nguyên Đán chỉ là buổi sáng đầu tiên trong ngày khởi đầu của Tiết Lập Xuân thôi (Nguyên= Nguyên vẹn khởi đầu Đán= buổi sáng)
   
Nguyên Đán vốn không phải là Tiết khí vả lại ngày Nguyên Đán là ngày đầu của Tiết Lập Xuân mà ngày đầu của Tiết Lập Xuân không nhất thiết trùng với ngày Sóc (ngày có trăng) là ngày đầu tiên của tháng đầu tiên trong năm được. Vì vậy Tết không thể là "Tiết" Nguyên Đán và càng không phải là "Tết" Nguyên Đán được.
 
24 Tiết khí của Lịch nông nghiệp (Lịch âm) là :
 (Con số đầu là chỉ kinh lộ Mặt trời)
315° Lập xuân: Bắt đầu mùa xuân
330° Vũ thủy: Mưa ẩm
345° Kinh trập: Sâu nở
0° Xuân phân: Giữa xuân
15° Thanh minh: Trời trong sáng
30° Cốc vũ: Mưa rào
45° Lập hạ: Bắt đầu mùa hè
60° Tiểu mãn: Lũ nhỏ duối vàng
75° Mang chủng: Chòm sao tua rua mọc
90° Hạ chí: Giữa hè
105° Tiểu thử: Nóng nhẹ
120° Đại thử: Nóng oi
135° Lập thu: Bắt đầu mùa thu
150° Xử thử: Mưa ngâu
165° Bạch lộ: Nắng nhạt
180° Thu phân: Giữa thu
195° Hàn lộ: Mát mẻ
210° Sương giáng: Sương mù xuất hiện
225° Lập đông: Bắt đầu mùa đông
240° Tiểu tuyết: Tuyết xuất hiện
255° Đại tuyết: Tuyết dầy
270° Đông chí: Giữa đông 22 tháng 12
285° Tiểu hàn: Rét nhẹ
300° Đại hàn: Rét đậm
 
Ngày Sóc đầu tiên là ngày bắt đầu tháng đầu tiên của năm mới (Mồng một Tết) không hẳn là ngày đầu tiên của tiết Lập xuân. Vì ngày mồng một Tết thì dịch chuyển lung tung theo lịch Âm thiếu nhuận thay đổi liên miên. Còn ngày đầu tiên của tiết Lập Xuân được tính toán thành bất di bất dịch và luôn nhằm ngày 04 tháng 2 của năm Dương Lịch
 
Đấy 24 Tiết khí có cái Tiết nào là Tiết Nguyên Đán đâu. Nhầm cái ngày đầu (Nguyên Đán) của Tiết Lập xuân là Tiết rời nhầm sang luôn Tiết là Tết từ đó cứ gọi luôn Tết cổ truyền là Tết Nguyên Đán. Rồi trở thành như một thông lệ.
    
Cái phiền lòng nhất là các định nghĩa các khái niệm trong sách vở cứ cho Tết cổ truyền Việt bắt nguồn từ Tiết Nguyên Đán bên Tàu mà truyền dạy cho con cháu mới khổ chứ..hu hu...
   
Vì phát âm tương tự như chữ Tiết nên chúng ta cứ nhầm Tết là Tiết chứ từ nguyên của Tết vốn xuất xứ từ trong ngôn ngữ của các dân tộc Á Đông để chỉ các lễ hội mừng mừa mưa mới là mùa bắt đầu nuôi cấy và trồng trọt.
 
Theo tư liệu tôi đọc được trong một nghiên cứu về Tết thì chữ Tết có xuất xư từ các chữ này đây:
 
"Tết là gì?
Tết là tên riêng [nom propre] gọi ngày lễ mừng đầu năm mới của rất nhiều dân tộc và sắc dân ở khắp miền đông nam Á
Tiết chỉ là một tên thuờng [nom commun] của Tàu gọi những thời tiết thay đổi trong một năm chỉ có nguời Việt gọi là Tết hay tết nguyên đán trong khi cả ngàn triệu nguời Tàu chỉ biết gọi là duỳn tản [nguyên đán] hay là xin nển [tân niên] vậy tại sao họ không gọi là Tết ? vì Tết không phải là tiếng của họ.
Sau đây là những cognates /từ đồng nguyên/ khắp Đông nam Á dính líu với TẾT :
Al de Rhodes : Tết
Tết năm [sic]
tết ai
ăn Tết
Từ điển Khai Trí Tiến Đức không hề cho rằng Tết là # tiết của Tàu. Vả lại các ngôn ngữ chung quanh tiếng Việt cung đều gọi là Tết nhu chúng ta :
Nùng : TẾT
nèn Tết năm Tết
Muờng :Thết Tết ăn Thết ăn Tết
Thái : Thêts lễ mừng năm mới
Thế -xa New year celebration trong kinh Lễ Khổng tử gọi là Tế-sạ
Thêts khal mùa Tết những ngày tết.[khal là thời gian]
khal thêtx ngày Tết
Thêts Thày Tết Thái [Thai New Year]
Thrếts Tết
[theo Từ điển Francais-Thái của Pallegoix]
Thrếts Chìn Tết của Tàu Chinese new Year
Chêtr Tết của Thái [fifth lunar month / mid April Thái festival]
Tết / Đết tên ông thần mua [rain god monsoon deity]
Trôts lễ hội Thái cổ vào đầu mùa mưa bên Thái
Tốts Farăng Tết Hoa-lang [western New Year s Day]
Xem Từ điển nguồn gốc tiếngViệt (Bs Nguyễn hy Vọng)
Zhuang : XIT / SIT   lễ Tết của 20 triệu nguời Zhuang bên Quảng tây vùng Quế Lâm nói tiếng Tai tiếng Thái xua !
đuon Sít tháng Tết [mois de festival célébrant la mousson]
[đuon là tháng]
Chàm : TÍT lễ tháng năm của lịch xua Chàm [tháng gió mùa bắt đầu thổi] băng Tít # ăn Tết CHÊT Tết bu-lăn Chêt háng tết bu lăn là tháng [tiếng Chàm]
KTÊH lễ hội lớn nhất trong năm của nguời Chàm
Mon : kTEH New Year Day of the Mon people
o-TEH Tết New Year celebration with water splashing rituals
o - Tet
k-Tât New Year rituals
k-Tet id
Khmer : CHÊTR là Tết lễ mừng tháng 5 theo cổ lịch Khmer là tháng gió mùa bắt đầu thổi nguợc lại tháng của mùa gió nồm ở Đông nam Á tùy theo noi từ cuối tháng tu đến cuối tháng năm]
khae Chêtr tháng tết
[khae là tháng] 13 tháng 4 dương lịch 23 tháng ba âm lịch;
Chêtr khal thời gian có lễ Tết [khal là thời gian].
India : CHETR là tên tháng tư và tháng năm của cổ lịch Ấn độ hai tháng giao mùa đem mưa đến [mois du début de la mousson]
Nepal : TEEJ lễ đầu năm của Nepal
Mustang : TIDJ lễ đầu năm của xứ Mustang sát với xứ Nepal
Munda : TEEJ lễ ăn mừng mùa mưa đến / the ancient melodies of Teej marking the return of the monsoon and the promises of prosperity [National Geographic magazine]
Hơn nữa xem trên có hơn chục ngôn ngữ và dân tộc có nền văn hoá khác hẵn với Tàu mà vẫn gọi cái lễ ấy là :Têt đồng âm với cái tiếng Tết của dân Giao chỉ và của dân Mừờng nên ta phải "suy nghĩ lại" và "xét lại" về cái hiểu lầm Tết  khác Tiết của hơn 2000 năm qua.  
Như vậy tết là tên gọi cái ngày ăn mừng đầu mùa mưa của các dân tộc và sau này trở thành ngày ăn mừng đầu năm âm lịch luôn của các dân Mường Nùng Thái Zhuang Chàm Mon Khmer Vùng đông bắc Ấn độ Nepal Mustang Munda
(Nguồn Đổ Thành Nhạn Nam Phi)" (Hết trích)
 
Những luận cứ trên khẳng định Tết là lễ hội mừng năm mới theo lịch Nông nghiệp của Văn hóa lúa nước gọi là Tết Cổ Truyền Việt Nam chứ không thể gọi là Tiết hay là Tết Nguyên Đán được. Và đương nhiên là lễ hội này chính là lễ hội văn hóa truyền thống 100% của người Việt không phải có xuất xứ từ Trung Hoa.
    
Vì vậy khẩn xin các phương tiện truyền thông các lời chúc tụng của lãnh đạo dân tộc Việt và các nhà hoạt động văn hóa lưu tâm khi viết và nói về lễ hội mừng năm mới theo Nông lịch của người Việt là "Tết Cổ Truyền" chứ đừng nhầm lẫn là Tiết Nguyên Đán hay là Tết Nguyên Đán. Vì không những đó là sự nhầm lẫn lịch sử tai hại mà còn tỏ ra sự hiểu biết về Văn hóa Dân tộc Việt quá nông cạn.
 
Chấm hết việc khai bút đầu Xuân
Mồng 2 Tết Cổ Truyền Tân Mão
Thuận Nghĩa

More...

KHỚP VAI ƠI KHỚP VAI ( Viết Theo Yêu Cầu..)

By Lê Thuận Nghĩa

Thư nhận được:
Thuận Nghĩa thân mến tham vấn ông lang cái mấy ngày nay mình bị đau bả vai kinh khủng từ đấy nó lan xuống bàn tay tê rần cả bàn tay. Mấy bác sĩ cho uống các loại thuốc sau:
Ông thứ nhất: Cefalexin Valtharen Glel cosdieu... (có thể chép sai vài nét vì chữ bác sĩ). thuốc ông này đã uống xong.
Ông thứ 2: Meloxicam Maggve Cartlou Favtx.- ông này đang uống.
Nói tóm lại là uống mấy ngày rồi mà vẫn đau. Nhờ Thuận Nghĩa xem giúp co bài gì hoành tráng cho mình nhanh khỏi đau không đau khó chịu lắm. Ngày mai mình bận cả ngày có thể ngày kia mới đi chụp phim thử nhưng theo nhiều người chẩn đoán thì bị thoái hóa đốt sống cổ.
Mách giùm mình nhé cám ơn rất nhiều. Lúc nãy anh ĐNS hỏi địa chỉ email của Thuận Nghĩa chắc cũng hỏi thuốc thang gì đấy. Lão này là chuyên gia sinh học.
__
Trả lời:
(He he..đâu phải mình Bác bị quả ni mần chung một phát cho ai giống ri học tập kinh nghiệm luôn hỉ- TN)
 

H.1: đau buốt chỗ này chứ gì

H.2: Đau từ trên cổ  tê buốt xuống tay
 


H.3: Có thể là do thóat vị đĩa đệm nên chèn dây thần kinh rồi bị đau buốt xuống bả vai và xuống dọc cánh tay
 
  

H.4: lưy ý nếu đau buốt tê xuống dọc cánh tay ở vị trí nào kéo lên trên là biết bị ảnh hưởng do đốt sống cố nào bị thóai hóa 
Hình bên trái là nhìn phía trước hình bên phải là nhìn đằng sau thoái hóa các đốt C1 C2 C3 C4 C5 hay các đốt T1 T2 T3 đều có các vùng đau ở lòng ngực ở lưng vai và ở cánh tay như số đã đánh tương ứng
    
   Trường họp đau buốt bả vai nhức nhối khó chịu đau tê buốt xuốc cánh tay và ngón tay như trường hợp trong thư. Chưa hẳn là do thoái hóa đốt sống cổ như chẩn đoán có thể là do chính bệnh ở khớp vai đưa lại cũng nên: Xem dưới để tham khảo:
 

H.5:  Cấu tạo của khớp vai

   

H.6: Đĩa đệm ở khớp cổ( Phần màu xanh) thoát vị hay thoái hóa đều đưa lại hội chứng đau như người bệnh viết trong thư. Nhưng nếu như đĩa đệm khớp vai thoái hóa cũng gây nên hội chứng đau như thế.
   
 Một số bệnh của khớp vai thường gặp:
  
 

H.7: Engesydrom (Hội chứng co cứng khớp vai)
Triệu chứng: Đau một bên vai khi nâng cánh tay lên đặc biệt khi quay đầu thì đau buốt dữ dội đau thường xuyên kể cả lúc không làm việc ban đêm nằm nghỉ vẫn đau
Nguyên nhân: Do nhiều nguyên nhân như do viêm túi nước nhờn   viêm khớp chấn động trên xương đòn gánh vôi hóa khớp vai...
Điều trị: Tốt nhất là vật lý trị liệu luyện tập vận động thích hợp thuốc chống viêm giảm đau có thể chỉ định giải phẩu
  


H.8a:Tendinosis calcarea (Viêm gân)
Tendinosis calcarea (Viêm gân)
Triệu chứng: Đau dữ dội khi lắc hoặc quay đầu. Nhói buốt đột ngột khi cử động khớp
Nguyên nhân:Máu huyết không lưu thông uất kết có thể là do hội chứng co cứng khớp vai (H.) hay là giản dây chằng rạn đứt gân (H. )
Điều trị: Tốt nhất là thể dục vận động chườm thuốc và vật lý trị liệu 

H.8b Hinh chup X-quang
  
 
 

H.9  Riss der Rotatorenmanschette (Rách cơ xoay vòng)
  riss der Rotatorenmanschette (Rác cơ xoay vòng)
Triệu chứng: Cơn đau không rõ rệt nếu bị nặng thì nâng tay khó khăn vô lực và cảm giác đau thốn
Nguyên nhân: giãn dây chằng do vận động quá mạnh làm việc và qua tay quá tải có thể do chấn động
Điều trị: luyện tập vận động là tốt nhất
 


H.10:
Schulterinstabilität (Vai chấn động va chạm bất ổn định)
Schulterinstabilität (Vai chấn động va chạm bất ổn định)
Triệu chứng: Đau tê khi vận động mạnh đặc biệt cảm giác nhói buốt bả vai khi lắc đầu
Nguyên nhân: Máu huyết không lưu thông do ngồi nhiều một vị trí ít vận động
Điều trị: luyện tập vận động bơi lội là tốt nhất
 
  

H.11:
Luxation (Trật khớp vai)
Luxation (Trật khớp vai)
Triệu chứng: Đau dữ dội tay không thể cử động được
Nguyên nhân: Trặc tay té chống va chạm chấn động..
Trị liệu: Sửa khớp vận động thể dục
 
   
 

H.12:   SLAP- Läsion Pulley-Läsion (Gân bọc khớp vai bị tổn thương)
SLAP- Läsion Pulley-Läsion (Gân bọc khớp vai bị tổn thương)
Triệu chứng: Tay và vận động cầm nắm vô lực đau nhức dữ dội
Nguyên nhân: Làm việc nặng nhọc lâu ngày Ngồi cứng đầu cổ một thế vị thời gian lâu
Điều trị: Chỉ định giãi phẫu và thuốc giảm đau. Nghỉ ngơi
  
 
   

H.13: Frozen shoulder (Co lạnh vai)
Frozen shoulder (đông lạnh vai)
Triệu chứng: Đau dữ dội cầm nắm và vận động bàn tay khó khăn có thể kéo dài hàng tháng hàng năm bệnh rất dễ tái nhiễm
Nguyên nhân: Có thể do di truyền bẩm sinh nguyên nhân chưa rõ rệt
Điều trị: Thuốc giảm đau luyện tập vận động chỉ định giải phẫu
  
 
 

H.14a: Rheumatische  (Phong thấp- Thống tý- Hành tý..)
Rheumatische  (Phong thấp- Thống tý- Hành tý..)
Triệu chứng: Đau nhức tê buốt vận động khó khăn
Nguyên nhân: Viêm khớp máu huyết không lưu thông nhiễm độc nhiễm khuẩn
Điều trị: Vật lý trị liệu châm cứu thảo dược xoa bóp thuốc giảm đau và chỉ định kháng sinh

H.14b X-quang
  
 
 

H.15: Omarthrose (Viêm biến dạng khớp xương)
   Omarthrose (Viêm biến dạng khớp xương)
Triệu chứng: Đau nhức vận động khó khăn
Nguyên nhân: Lao động nặng nhọc thường xuyên máu huyết không lưu thông viêm nhiễm
Điều trị: Vật lý trị liệu Luyện tập vận động chỉ định thuốc đau nhức và giải phẫu.
 
(Phần trên dịch nguyên bản từ tiếng Đức. Lưu ý hầu như liệu pháp tốt nhất cho bệnh về khớp vai đều là luyện tập thể dục và vận động. Chú ý xem thêm ở đường link bên dưới)

 
Chỉ định Giải Phẫu


H.16: Mổ nội soi
 
 

H.17: Mổ xử lý vôi hóa nối dây chằng vá sụn vá bọc nước nhờn...v..v...
  
 

H.18: Khớp vai bị thoái hóa bị mòn do bệnh Viêm khớp phong thấp loãng xương v...v.. thì phải mổ thay luôn cái khớp nhân tạo mới hết đau được
   
 
  Đa số tình trạng đau bả vai kéo buốt xuống bàn tay ngón tay đều do đốt sống cổ bị thoái hóa

H.19: Thoát vị đĩa đệm
  


H.20: Hay thoái hóa đĩa đệm
 
 

H.21: Có thể bị vôi hóa hoặc bị chấn động nứt gảy mẻ gai đốt sống
  
  Tất cả trường hợp này xin vào đây để tham khảo thêm trong đó chỉ rất rõ cách khắc phục và phương pháp điều trị hữu hiệu và an toàn nhất:
http://thuannghia.vnweblogs.com/post/7291/268158   
http://thuannghia.vnweblogs.com/post/7291/268244       
  
   
Nếu í em trực tiếp điều trị cấp thì em sẽ làm như sau:
 
1) -Tạm thời để  cho vai và cánh tay ở trạng thái yên tĩnh
2)- Châm cứu nâng cao ngưỡng đau bằng Kim
Thủ Pháp:  Châm đắc khí cả hai bên các huyệt sau:  Phong trì Ngoại quan Côn lôn và Thận du
3)- Thủy châm trị góc bệnh
Thủ pháp: Dùng 5 ml hỗn hợp gồm 2ml B6  1ml B1 2ml procain 1% (Novocain). Chích vào các huyệt: Đại chùy Đại chử Kiên ngung Khúc trì và Hiệp cốc. (Chích phía bên đau). Và chích trực tiếp vào Á thị huyệt (huyệt đè vào thấy đau ở vai)

H.22
  
Phương pháp châm cứu mà theo kinh nghiệm của tôi có hiệu quả rất nhanh an toàn và cắt được cơn đau cấp ngay là phương pháp Quang Kích Ngũ Hành Châm mà tôi ứng dụng dưới đấy (Đọc thêm ở đây: http://thuannghia.vnweblogs.com/post/7291/269902 )

  

H.23: Dùng bì phu châm châm quanh a thị huyệt (huyệt ấn đau)   và huyệt Đại chùy và khớp vai   sau đó bắn tia điện từ và chiếu tia laser cho đắc khí bảo đảm hai đến 3 phát châm đắc khí kết đau ngay.

H.24:
  

H.25:
 

H.26:
  
He he..Rất tiếc là í em không trực tiếp chẩn trị mà tôi lại là "kẻ thù" của thuốc hóa dược chống đau nhức vì vậy các loại thuốc người ta chỉ định cho các Bác em xin kiếu không có lời bàn. 
 
Biết các Bác lười vận động và ưa nhậu..he he.. ghét bác sĩ châm cứu và không ưa uống thuốc Bắc cho nên em xin kính biếu mấy "phát" kinh nghiệm gia truyền chống đau cấp cái bả vai và khớp vai khá hữu hiệu như sau các bác tự "tuyển chọn" lấy phát nào tiện thì dùng

Phát thứ nhất: Dùng 150 gr gừng tươi và 100 gr củ cải biển (loại cây có lá và phần củ gần giống với củ cải đồng bằng mọc hoang ở các bờ biển- loại này không ăn được có mùi hăng và rất cay) Xay hoặc giã nhuyễn lẫn với nhau sau đó bọc vào vải chườm lên vai cổ và bả vai. Mỗi vị trí chỉ nên chườm từ 15 đến 20 phút khi nào nghe nóng rát và da đỏ lên thì chuyển sang vị trí khác.(hỗn hợp này rất nóng). Nếu không tìm được củ cải biển thì thay bằng 100gr hạt đu đủ xanh( chưa có màu đen) thay vào mà dùng.
 
Phát thứ hai: Như phát thứ nhất nhưng vật liệu là một nắm tiêu sọ  giã vụn một thìa ăn đầy nhựa thông (hổ phách) cũng tán mịn. Dùng cở 200 gram củ cây hoa dong giềng phần mầm non đầu củ sát thân cây giã nhuyễn trộn bột tiêu và bột nhựa thông vào cho nó sền sệt gói thật chặt vào một tấm vải cỡ bằng nắm tay. Chưng cách thủy (cho hấp hơi nóng) rồi chườm lên khớp cổ khớp vai và khớp khuỷu tay. Khi nguội thì lại hấp nóng chườm tiếp chườm khoảng hai ba bữa thì hết đau
   
Phát thứ ba: 
Bó nơi đau nhức sưng viêm bằng bắp cải.

1- Chọn một bắp cải lá to loại bắp cải lá quăn thì tốt hơn. Một ít băng gạc và một cái chai hay là cây cán bột.
 
 
2- Trải lá bắp cải lên thớt hoặc lên bàn trên tấp băng gạc
  
 
3- Lấy cái chai hoặc cây lăn bột lăn đi lăn lại chi lá bắp cải bầm dập ra
 

4- Rồi bó lên vùng sưng đau ngày bó một lần bó trước lúc đi ngủ là tốt nhất. Cũng có thể bó lưng bó vai được nhưng việc bó lá cần đòi hỏi tốn kém hơn.
(Tuần tự làm như vậy nhưng bó hoặc ép đắp lên bả vai. Làm phát đỡ ngay)
 
Phát thứ tư: Phương toa 
Toa Thuốc Gia Truyền Trị Bệnh Tê Bại Toàn Thân Bán Thân Đau Nhức Cột Xương Sống Thấp Khớp Nhức Mỏi.
 
1/ Trạch lan...............................4 chỉ
2/ Cam Kỷ Tử............................3 chỉ
3/ Xuyên Khung.......................2 chỉ
4/ Độc Hoạt...............................2 chỉ
5/ Hổ Cốt hay Cẩu Tích..........4 chỉ
6/ Sinh Địa ...........................4 chỉ
7/ Ngưu Tất.............................3 chỉ
8/ Nhãn Nhục.......................... 5 chỉ
9/ Quế.......................................2 chỉ
10/ Đương Quy........................3 chỉ
11/ Thục Địa........................... 2 chỉ
12/ Cam Thảo................... .....2 chỉ
13/ Đỗ Trọng......................... 4 chỉ

Ngâm với 1 lít rượu trắng 37 độ 1 lít nước suối không có gas ( hoặc 2 lít rượu vang nếu không muốn pha rượu với nước suối) 200 gr đường phèn. Ngâm độ 2 tuần hay lâu hơn càng tốt. Khi uống nhớ quậy đều lên uống sau bữa ăn trưa và tối mỗi lần một liquer nhỏ (ly uống sec). Uống mấy thang cũng được khi nào hết hẳn bệnh hãy ngưng hay uống tiếp tục càng lâu càng tốt. Nếu không uống được rượu thì nấu 4 chén còn lại 1 chén.
 
Toa thuốc này rất tốt để bổ máu và lưu thông máu huyết cho người lớn tuổi hoặc người bệnh do thiếu máu hay máu huyết ứ trệ. Đa số những người bị tê bại nhức mỏi là do máu huyết không thông đều dùng được. Chỉ cần lưu ý:
Những người có đàm thấp nhiều ví dụ có rêu lưỡi đóng trắng dầy thì uống lâu hiệu quả hơn cần phải uống thuốc trục đàm như Nhị Trần thang cho sạch đàm rồi uống mới có công hiệu nhanh. Toa thuốc này có vị Hổ Cốt rất khó tìm.
 
Toa này hiện đang được đồng bào Việt Nam ở hải ngoại tâm đắc ứng dụng nhất là ở Mỹ Pháp và Úc châu
  

Khớp cổ và khớp vai chúng nó hay bị mòn sụn và thoát vị đĩa đệm nên để phòng ngừa và khôi phục lại đĩa đệm bị thoái hóa các bác nên bổ sung cái loại sụn tự nhiên đặc chế từ con nghêu (hến) này kết hợp với Vitamin B Komplet (B1 B6 B12 và D3) thì rất có diệu dụng.


 

 

 
25.01.11
TN
____
P/s: Làm cái entry này cũng mất công ra phết nhuận bút chỉ xin mai mốt về Việt Nam   Bác cho em mượn 2 cái ống nứa gia truyền của bác để đi nghe đọc thơ là được.. ..ặk..ặk.. 

More...