Admin

NHẤT ĐỊNH CÓ MỘT LẦN TỚI BẾN (thơ)

thuannghia | 18 March, 2010 15:39

Anh không đến bởi vì anh chưa đến
Không với chưa khác biệt rất nhiều
Không là có, có điều chi chi đó
Chưa là còn, (còn chẳng biết bao nhiêu).
.
Anh chưa nói bởi vì duyên chưa tới
Chưa đến nguồn để biết khởi từ đâu
Anh không nói bởi vì chưa có vội
Khi nhân duyên đang hài tượng ban đầu
.
Anh không biết bởi vì chưa muốn biết
(Cõi tâm tư quả vị quá uyên sâu)
Anh sơ đẳng trước tình đời tích hợp
Trước nhân tâm tô điểm vạn sắc màu
.
Anh không có bởi vì anh không có
Điều giản đơn như vậy đến bất ngờ
Khi tuổi rụng còn ngở mình đang có
Nên bạc đầu ngớ ngẩn giữa ngây thơ
.
(Anh là vậy chính vì anh là vậy
Cứ tùm lum quấn quyện với tà la
Đen mõm chó vẫn mơ ngày trắng ngậy
Đặc cán mai chống leo đỉnh thật thà
  
Anh giật thột thấy mình y củ chuối
Cũng râu ria sần đụn với trần gian
Khi giật thột thấy mình như tôi mọi
Cho đam mê vọng tưởng ngút ngàn)
.
Em cứ hỏi (bởi vì em muốn hỏi)
Câu trả lời. Thật, có mấy phần trăm?
Anh sẽ dối bởi vì không muốn lỗi
Trước mắt hiền có giọt đắng đang lăn
.
Anh chưa nói bởi vì duyên chưa tới
Chưa hiểu mình, chưa biết cả em luôn
Nhưng nhất định có một lần tới bến
Khi nhân duyên chín mọng hết ngọn nguồn.
  
18.03.10
tn

TUYỆT CHIÊU CHỮA CÁC BỆNH VỀ CỘT SỐNG (tư liệu- phần 5)

thuannghia | 16 March, 2010 15:23

Đau lưng, đau vai - cổ, đau đầu gối và đau đầu là bốn loại đau nhức mà có thể nói là những thứ bệnh rất "thời thượng" bây giờ. Nó không kinh hoàng như Ung thư, không khiếp hãi như đột quị, không dễ sợ như máu mỡ, áp suất máu cao hay "đa đoan đành đoạn" như tiểu đường. Nhưng nó triền miên âm ỉ, kinh niên thống khổ vô cùng.
Mà hầu như tất cả các thứ đau nhức nói trên đều xuất phát từ Cột Sống và có nguyên nhân sâu xa liên quan đến 4 cơ quan nội tạng Gan-Thận- và Tỳ - Vị.
Từ ngàn xưa, Y học cổ truyền đã có trăm phương nghìn toa điều trị những chứng đó, nhưng đến nay những thứ đau nhức ấy vẫn đang hoành hành bá đạo đày ải nhân gian. Y học hiện đại cũng có vô vàn thiên ủng máy móc thuốc men chuyên trị, nhưng đâu có trị tuyệt được những chứng đau nhức ấy đâu.
Thuốc, thuốc,.. thuốc, và thuốc. Những viên hóa dược như những liều độc tố, chỉ tạm thời ngăn chặn cơn đau và tàn phá phá nội tạng đã trở thành "diệu dược" được ưa chuộng. Dân số Trái Đất có hơn 6 tỷ người mà mỗi ngày tiêu thụ hết 2,5 tỷ viên "thuốc độc" (Tư liệu WHO). Thật không hiểu nổi !!!!!!
Ngay cả Châm Cứu và thảo dược cũng chữa trị và kìm hãm được cơn đau của một số bệnh có tính chất tạm thời chứ không thể nào chữa tuyệt nọc được.
Ví dụ như bệnh thoái hóa đĩa đệm, hay vôi hóa cột sống dẫn đến tình trạng chèn ép dây thần kinh gây nên chứng đau nhức thì ai dám đảm bảo là có thể châm cứu hay dùng thảo dược có thế chữa dứt điểm được. Ngay cả những biện pháp vật lý trị liệu kể cả châm cứu, cũng như giải phẫu cũng chỉ tạm thời xử lý triệu chứng trước mắt, chứ không thể nào đảm bảo bệnh không thể tái phát.
Những chứng bệnh này ngoài sự vận động tích cực phục hồi chức năng tự chữa bệnh của chính cơ thể người bệnh  thì không còn một phương pháp nào có thể gọi là dứt điểm được.
Và sự vận động tích cực có thể giúp người bệnh phát huy được khả năng tiềm tàng kỳ diệu của cơ thể trong việc phục hồi lại các cơ quan bị thoái hóa, và các chức năng bị suy giảm..đó là Khí Công.


Có người hỏi:-  bệnh vôi hóa đốt sống lưng đã dẫn đến tình trạng có gai đốt sống, thậm chí đã chèn đẩy xô lệch cột sống, thì ngoài việc giải phẫu để nạo vét nó đi là cách tối ưu nhất. Khí Công làm gì có khả năng đào thải được những gai đốt sống lưng đó?

Xin thưa:-  Việc giải phẫu để cắt bỏ nạo vét phần đốt sống lưng bị vôi hóa là một biện pháp hạ sách, trong trường hợp đặc biệt muốn trả lại tạm thời cho người bệnh sự vận động đang bị gai đốt sống chèn đau thì mới sử dụng mà thôi, bởi vì đốt sống được giải phẫu đó sẽ tiếp tục bị vôi hóa với tốc độ nhanh hơn. Còn Khí Công thì không những nhờ sự chấn động nội lực để phá vỡ, bào mòn những gai đốt sống lưng đó mà còn nhờ sự vận động khí lực nội tại có thể đào thải được những chất thoái hóa đông kết đó ra ngoài, mặt khác còn phục hồi lại chức năng của cơ thể tránh được tình trạng vôi hóa tiếp theo .


Lại hỏi: - Như đĩa sụn đệm giữa hai đốt sống lưng đã bị thoái hóa mòn vẹt, hai đốt sống cọ xát lên nhau, gây nên tình trạng khó vận động, hoặc bị chèn ép lên bó rễ thần kinh gây đau nhức, người ta thường giải phẫu để thay bằng đĩa đệm nhân tạo là tốt nhất, còn khi đĩa đệm đã bị mòn vẹt thì Khí Công làm sao mà đắp đầy lại được ?

Xin thưa:- Tại sao có người đĩa đệm bị thoái hóa, có người lại không bị. Tại sao có người gia 80, 90 tuổi đĩa đệm vẫn còn nguyên vẹn. Bởi vì cơ thể luôn luôn bồi đắp, bảo trì, tu dưỡng đĩa đệm bằng những tinh chất, thủy dịch được khí huyết vận động đưa đến từ việc hấp thụ thức ăn. Sở dĩ đĩa đệm bị thoái hóa, ngoài nguyên nhân sai lệch trong vận động, bị viêm nhiễm ra, thì nguyên nhân quan trọng nhất là chức năng bảo trì tu dưỡng đĩa đệm của cơ thể bị suy giảm. Khí Công là phương pháp tốt nhất để phục hồi lại chức năng đó cho cơ thể. Khi chức năng đó đã được phục hồi, thì sự bồi đắp và tu dưỡng đĩa đệm bằng tinh chất và thủy dịch, nhất định sẽ tạo lại phần đĩa đệm đã bị suy thoái, hay ít nhất cũng ngăn chặn được suy thoái tiếp theo.


Hỏi:-  Môn khí công nào có thể phục hồi lại đĩa đệm và chữa được các bệnh về cột sống và hệ vận động cũng như các bệnh đau nhức vì phong thấp ?

Thưa:- Bất kỳ môn Khí Công nào cũng có thể làm được điều đó, vì bản chất thật sự của Khí Công là điều hòa Âm Dưong, bồi bổ chính khí, hoạt huyết hành khí, tăng sức đề kháng, khai mở tiềm năng của cơ thể. Nhưng đương nhiên mỗi một môn có một thế mạnh riêng của mình. Trong suốt mấy chục năm vật lộn với bệnh đau nhức nói chung và các bệnh về cột sống nói riêng, theo kinh nghiệm của tôi thì bộ Bát Linh Công là môn Khí Công có tác dụng với các bệnh về Cột Sống và hệ vận động rõ rệt nhất, hiệu quả nhất và nhanh nhất.


Một nghiên cứu mới nhất gần đây về của Y học hiện đại về bệnh xương, đặc biệt là bệnh loãng xương của người già. Người ta thấy rằng nguyên nhân chủ yếu gây nên chứng này là do sự rối loạn thu nạp và điều chỉnh tích lũy các loại vitamin B (B1, B6, B12) và vitamin D của cơ thể. Một loại thuốc vừa mới sản xuất và đang lưu hành trong giới y dược đặc trị bệnh loãng xương chỉ có các thành phần 3 loại vitamin B1, B6, B12 và vitamin D, hiện nay được coi là "thần dược" để chữa bệnh về xương. (Otedorit)
Nghiên cứu về loại thuốc này là ở Lüberg, Đức kết hợp với tổ chức Võ Thuật liên quốc gia SVCC đang sử dụng Bát Linh Công để chữa bệnh về cột sống đã làm một cuộc nghiên cứu trắc nghiệm. Thì kết quả thấy những người luyện Bát Linh Công cơ thể của họ không còn thiếu các hàm lượng vitamin nói trên, mặc dầu họ không hề uống thêm loại thuốc nào.
Hơn 15 năm nay, tôi sử dụng Bát Linh Công kết hợp với Ngũ Hành Khí Công, Lục Tự Quyết và gần đây là Càn Khôn Thập Linh, hướng dẫn cho bệnh nhân có bệnh về cột sống tập luyện. Thì thấy hiệu quả ngoài hai chữ "Tuyệt Vời" ra không còn nói thêm được gì hơn nữa.
Hàng chục bệnh nhân có ngày hẹn giải phẫu cột sống, nhờ Bát Linh Công phối hợp mà lành bệnh, không cần phải giải phẫu và uống thêm viên thuốc nào
Tôi có một người thân ở Việt Nam, bị bệnh đau thắt lưng và đầu gối có khi không ngồi, không đứng dậy đi lại được, có nhờ tôi bắt mạch và ra toa. Tôi cho một toa thuốc, cắt uống 6 thang thì hết đau. Gần đây bệnh lại tái phát, có nhờ tôi cho lại toa. Tôi ừ hữ và lảng tránh. Vì thật ra toa thuốc đó chỉ kìm hãm cơn đau, nhờ bồi bổ Gan Thận tăng sức đề kháng của cơ thể mà có tác dụng giảm đau, chứ không có khả năng đào thải gốc bệnh là bị thoái hóa đốt sống thắt lưng (thần kinh toạ).
(Ừ hữ lảng tránh để chờ dịp có duyên truyền thụ cho Bát Linh Công mà tự luyện. Nhưng có lẽ... than ôi! Người Việt mình thích nuốt cái thứ độc dược được gọi là Thuốc hơn là vận dụng "Thánh Dược" trong chính cơ thể của họ..hu hu...đây cũng là "kinh nghiệm" trong nghề).
Về xuất xứ của Bát Linh Công tôi đã trình bày trong các phần trước.
Phần này tôi xin đi vào từng phương pháp chữa từng bệnh cụ thể về Cột Sống:


Bát Linh Công là 8 thức Khí Công lấy tướng của 8 loại Linh Thú làm cơ sở đó là Ưng-Hổ-Long-Phụng-Xà-Hầu-Qui-Hạc (chim ưng, hổ, rồng, phượng, rắn, vượn, rùa, hạc). Mỗi một thức đều có tính khai mở, chấn động, điều hòa khác nhau, và thích hợp với từng trường hợp bệnh lý khác nhau.
1) Đau vùng thắt lưng, đau lưng do thận suy, thoái hóa đĩa đệm hay vôi hóa đốt sống vùng thắt lưng.
Qui Thức (thế con rùa)
Ưng Thức (thế con chim ưng)
Long Thức (thế con rồng)
Hầu Thức (thế con vượn)
______
   
Qui Thức (thế con rùa
 
___- Chuẫn bị:  hai chân bước rộng quá vai, rùn người xuống tấn trung bình
- Hít vào: Hay tay từ đưa lên cao trước mặt
- Thở ra : xoay người ra sang bên trái hai tay từ từ hạ xuống, kéo lui người xuống phía sau
- Hít vào, từ từ nâng người dậy, hay tay nâng lên, nín hơi, nhón đít
- Thở ra, từ hạ người xuống, lưng thẳng, cổ ngước cao
(lặp lại 3 lần)
- Hít vào, đứng dậy thế trung bình, xoay người lại vị trí ban đầu, hay tay ngửa ra phía trước mặt
- Nín hơi, kéo khoát tay ra phía sau-xuống dưới, khi hay tay ngang hông, giật tay xuống thở hắt hết hơi ra
(lặp lại như vậy phía bên phải)
- Hít vào: hai tay chắp lại đâm về phía trước, đứng dậy, nín hơi nhón chân
- Thở ra, từ từ kéo khoát tay ra phía sau, hạ người xuống
(lặp lại nhiều lần, thế này như kiểu bơi lội vậy)
 Tác dụng: Chấn động tích cực lên vùng lưng hông, tác dụng đến Gan Thận, hoạt huyết hành khí ở tủy sống. Điều hòa khí huyết ở vùng bộng đái và bộ phận sinh dục. Hoạt khí ở Đại Trường.
____
  
Ưng Thức (thế con chim ưng)
 
  

- Chẫn bị: bước rộng hơn vai, xuống tấn trung bình
- Hít vào, vung tay đột ngột, cắt chéo trước mặt. Vươn rộng lên cao hai bên, từ từ hạ xuống
- Thở ra: Hạ tay xuống từ từ, đột ngột thở hắt ra, cúi thấp người xuống là là mặt đất, hai tay thủ quyền đánh gập sát vào nhau trên mặt đất
- Hít vào: hai ta  vươn ra hai bên, người là thấp xuống đất cổ vươn lên nhìn ra trước mặt.
- Thở ra: hai tay quành ra sau lưng lòng bàn tay ngửa, chỉa ra bên như cánh đại bàng
- Hít vào, thân hình giử nguyên tư thế, nín hơi, nghiêng qua trái, nghiêng qua phải
- Thở ra: nhổm người giử vị trí lúc hạ thấp người xuống
(lặp lại 3 lần)
- Hít vào:  đột ngột vòng tay xuống đất như vốc nước vậy cắt chéo ra trước mặt, đứng dậy, vung tay lên cao
- Thở ra: từ hạ tay xuống, lòng bàn tay úp xuống đất, lúc tay xuống ngang hông, giật vai ấn chưởng xuống và thở hắt hết hơi ra
- Thở vào: vòng tay múc ôm trước mặt, đứng dậy, nhót đít,  nâng hay tay lên trên quá đầu
- Thở ra từ từ vuốt xuống sau gáy rùn người thấp xuống.
(lặp lại nhiều lần, chỉ có thay đổi vuốt gáy và vuốt mắt khi hạ người thở ra)
- Tác dụng: chấn động kích thích mạnh ở Gan Thận Tỳ Vị. đặc biệt tốt cho chứng thận suy, gan yếu. Vận động sự thâu nhiếp và hoạt khí Hậu Thiên. Bền gân, sáng mắt, đen tóc và trường thọ.



_____
 Long Thức (thế con rồng
  
   

Long Thức là thức thế chủ trị về cột sống. Với nhiều trường hợp bị đau đột ngột, hoặc đau quặt quẹo không đi đứng được như đau thần kinh tọa chẳng hạn, chỉ cần tập một thức này nhiều lần là có thể đi lại hay ngồi nằm mà không đau đớn như trước
- Chuẫn bị: Xuống tấn tung bình
- Hít vào hay tay vươn ra hai bên lên cao, từ từ đứng dậy, nín hơi chắp hai lòng bàn tay lại như chưởng vái lạy vậy
- Thở ra: chắp tay hạ xuống trước ngực, rùn người xuống
- Hít vào: nghiêng người qua trái, cuì chỏ phải đặt lên đầu gối trái, tay chỉa về phía trước , quay đầu lên nhìn cho dúng vào chót cùi chỏ trái
- Thở ra ở tư thế đó
- Hít vào, nhón đít- thở ra
(lặp lại 3 lần)
- Hít vào, chuyển tư thế ấy sang phải (cùi chỏ trái đặt lên đầu gối)
phải cũng hít vào thở ra ba lần như vậy)
Thế kết:
Hít vào: đứng dậy vươn rộng hai tay lên trên
Thở ra: hạ tay, rùn người xuống, khi tay đền vùng hạ bộ thì thở hắt ra hết,
Hít vào lại vòng tay ra lên cao, đứng dậy
Thở ra lại rùn người xuống....



_____
 
Hầu Thức (thế con vượn)
  


___Hầu Thức và Xà Thức là hai thế có tính chất nhu nhuyễn trong Bát Linh Công.  Hầu Thức có tác dụng thanh lọc trọc khí, phá kết giải độc rất tốt, ngoài ra còn có tác dụng định thần an khí rất hay. Nếu bị đau nhức toàn thân, không rõ nguyên nhân, hay bị nhiễm độc, ngộ độc thức ăn, bia rượu...luyện hầu thức có thể khắc phục loại bỏ được hậu quả, và tránh được đau nhức, nhất là các chứng phong thấp tê bại....
- Hầu thức cứ hít vào thì đứng người dậy, nhón chân lên và thóp đít, thở ra thì chùn người xuống
- Hầu Thức tương tự như thế "vẫy tay" của một môn khí công đang thịnh hành trong nhân gian để phòng chống bá bệnh.  Chỉ khác hơn ở chổ hầu thức chậm rãi và như nhuyễn hơn.
___
  
2) Đau nhức vùng cổ gáy, nhức vai cổ, thoái hóa đĩa đệm hay vôi hóa đốt sống cổ
Hổ Thức (thế con hổ)
Long Thức (thế con rồng)
Hạc Thức  (thế con hạc)
Xà Thức (thế con rắn)
_____
 
  Hổ Thức (thế con hổ)
 
    - Tư thế chuẫn bị: Đứng hai chân trước sau. Chân trái phía trước, trọng tâm nghiêng về phía sau, chân trái nhớm bàn đặt thế vào gót chân. Người thẳng nghiêng sau.
- Hít vào, chồm người về phía trước, hai ta vươn vòng ôm lấy khoảng không kéo úp vào ngực, người nghiêng giật lại phía sau.
- Giử hơi
- Thở ra, hai lòng bàn tay xoay ngữa ra ngoài, đẩy lên ra lên trên đầu, trọng tâm dồn về trước. Cánh tay, đầu cổ lưng gáy và chân tạo thành 1 đường thẳng như cắm nghiêng vào mặt đất
- Hít vào, từ từ vòng tay qua đầu, nghiêng người ra phía sau, hạ tay từ từ xuống hai bên
- Khi hay tay  vừa xuống dưới hông, thì bất ngờ buông vai và thở hắt hết hơi ra
- Hít vào, hai tay úp xuống ngang cổ tay, thả lỏng và nâng ra lên trước mặt, người chồm về phía trước,
- Nín hơi kéo hay tay theo vòng thuận từ dưới lên trên, từ trước ra sau, theo cơ thể nghiêng người về phía sau,
- Thở ra và từ từ hạ tay xuống theo vòng thuận để bắt đầu hơi thở tiếp.
Tác dụng: Khai mở và điều hòa hai mạch Nhâm Đốc, chấn động tích cực lên dọc cột sống, từ gót chân lên đỉnh đầu, đặc biệt là các khớp vai cổ, bền chắc cơ gân, và điều hòa phủ tạng, đặc biệt bồi bổ chính khí Tỳ-Vị
(Thế điều hòa kết thúc Hổ Thức tương tự như thế Khôn trong Càn Khôn Thập Linh của Thầy Hằng Trường)
_____
Long Thức (thế con rồng)
(xem phần trên)
______
 
Hạc Thức  (thế con hạc)

 

Hạc Thức là thế tích lũy nội lực cực kỳ uyên thâm
Chuẫn bị: xuống tấn trung bình
Hít vào: hai tay quay thuận chiều kim đồng hồ, tay phải từ trên xuống  dưới, tay trái từ dưới lên trên, lòng bàn tay phải ngữa, tay trái sấp.
Thở ra: hai tay từ từ ép lại
Hít vào, động tác ngược lại, thở ra ép lòng bàn tay lại
Lúc nghiêng về bên nào thì bàn tay nào bỏ trên thì đưa lên cao phía trước, còn tay phía dưới thì vòng lên và móc ra phía sau

- Hạc thức lúc nghiêng về hai phía phải trái, mỗi bên có 3 hơi thở, lúc hít vào nhớm chân lên thót đít vào
- Ở các thế chuyễn tiếp, lúc thở ra ép hai lòng bàn tay vào nhau rồi đột ngột thở hắt ra
Thế đều hòa:  Hít vào hai tay ôm như ôm khối cầu trước bụng lăn sang một bên, lúc thở ra hay tay như khoát đẩy lại phía ngược lại. Lưu ý lúc tay ở vị trí nào thì mắt nhìn ở vị trí đó


__
Xà Thức (thế
rắn)
 
   
Xà Thức là thức tối thượng trong Bát Linh Công. Video trình bày trên đã giản lược cho hợp với thế thức của người bệnh. Còn nguyên bản chỉ dành riêng cho những người vận khí chữa bệnh, hay dành cho những người đã có trình độ uyên thâm trì luyện Bát Linh Công.
- Chuẩn bị: xuống tấn trung bình, hay tay chắp mặt vào nhau tước bụng, tay phải trên, tay trái dưới.
- Hít vào một hơi thật sâu, ém khí đan điền
- Nghiêng người qua trái quay tay ba vòng, từ trong ra ngoài, từ trước ra sau: Ngược chiều kim đồng hồ.
- Rút tay về vị trí cũ trước bụng mới thở ra
- Hít vào, tay trái lật úp nên tay phải
- Nín hơi, quay tay 3 vòng cùng chiều kim đồng hồ nghiêng về bên phải
- Rút tay lại vị trí cũ, thở ra
- Hít vào, tay phải chồm thẳng ra phía trước, ngược chiều kim đồng hồ
- Thở ra tay trái lòng dưới tay phải quay chồm ra phía trước ngược chiều kim đồng hồ
- Thở ra hít vào, quay như vậy 3 phía, trước mặt- bên trái- trước mặt- bên phải-trước mặt.
- Hít vào một hơi dài, ém khí quay trước mặt 3 lần- thở ra
- Hít vào ém khí đan điền. Quay thật nhanh thật nhiều vòng, từ dưới lên trên rồi đột ngột giật tay thả hắt hết hơi ra.
Hít vào, thở ra, từ từ hay tay úp xuống đất xoay song song ngược từ dưới lên trên.

______
3) Đau thần kinh tọa, đau đầu gối
Phụng Thức (thế chim phụng)
Long Thức (thế con rồng)
Qui Thức (thế con rùa)
Ưng Thức (thế chim ưng)
_______
  
  Phụng Thức (thế chim phụng)

Phụng Thức là thức có tác dụng điều hòa tạng phủ rất kỳ diệu, ngoài ra còn có tác dụng định thần, an ý rất diệu dụng. Ngoài tác dụng chữa đau đầu, nhức mỏi tứ chi, còn có tác dụng an thần chống hoảng loạn tinh thần, suy nhược thần kinh rất tốt.
- Hạc thức lúc đưa chân lên thì hít vào, lúc hạ chân xuống hay đưa ra sau thì thở ra
- Ở tư thế Phụng Hoàng chân trước chân sau, thì dụng đến 3 hơi thở.
Lúc hít vào nhón cả hai chân về phía trước, thóp đít vào, tay nắm lại. Lúc thở ra thì  hạ người ra phía sau, và xòe tay ra.
______
  
Long Thức (thế con rồng)
Qui Thức (thế con rùa)
Ưng Thức (thế chim ưng)
(xem video phía trên)
________
 4) Bệnh phong thấp, tê thấp nhức mỏi toàn thân thì dùng các thế
Hổ Thức
Ưng Thức
Long Thức
Hầu Thức và Hạc Thức
(Xem video phần trên)
_______
   Lưu ý:
-
Sự thâu nhiếp hô hấp trong Bát Linh Công tuân thủ theo nguyên tắc: hơi thở trải qua ba giai đoạn: hít vào-giử hơi-thở ra. Hít vào thở ra giử hơi đều bằng mũi. Miệng hoàn toàn ngậm trong quá trình luyện công.
- Nếu bị đau nhức hay thoái hóa cột sống cả cổ gáy và thắt lưng hay bị thần kinh tọa, phong thấp, lưng gối đều đau nhức thì nên tập cả 8 thức thì tốt
- Nếu bắt đầu tập luyện khởi công bằng 4 thế Khí Công Tâm Pháp Biệt Truyền mất độ 7 đến 10 phút để khởi động. Luyện Bát Linh Công mất độ 25 đến 45 phút để cố sáp gân cốt, bền vững sống lưng, bồi bổ gan thận. Sau đó dành độ 7-10 phút để luyện Ngũ Hành Khí Công để điều hòa châu thân thì không có một thứ thuốc thang nào sánh bằng để phòng chống bá bệnh . (Các bài vừa nhắc đã trình bày trong các phần trước)
  
(Nếu mỗi ngày mất độ 1 tiếng cho việc luyện tập này mà còn có bệnh tật mới là chuyện lạ và sống tới 100 tuổi vẫn coi đó là chết non he he...)
  
________
Phụ Lục :
Xem một đại sư khí công lừng danh biểu diễn Hổ Thức và Ưng Thức ở đây
Đại Sư Lim là một Khí Công sư thuộc dòng Bát Linh Công có những cuộc biểu diễn khí công hầu như khắp nơi trên thế giới
  

______
Xem một vị Đại Sư khí công 80 tuổi người Trung Hoa trình bày năng lực của Khí Công:

_
  
  Khí Công Sư Jon Chang là một Đại Sư khí công nổi tiếng thế giới, đã có hàng trăm nhà nghiên cứu, làm nhiều cuộc thẩm tra khoa học về năng lực siêu nhiên của Ông. Những hình ảnh trong Video là hoàn toàn sự thật. Và chính tôi cũng đã tận mắt chứng kiến ông biểu diễn nhưng kỳ năng trị bệnh của Ông trong hội nghị Khí Công Quốc Tế ở Áo Quốc. Ông thuộc Ngũ hành Khí Công phái.


_______
Thực hiện: Thuận Nghĩa

KHAI MỞ TIỀM NĂNG THÂN THỂ VÀ TRÍ TUỆ (Chuyên Luận) Phần 4

thuannghia | 12 March, 2010 06:05

Như đã nói cả 3 bộ quyền thuật khí công-tổng hợp của ba vị Đại sư Khổ Toại, Đạo Giác và Hằng Trường tuy có khác nhau về tính chất, tác dụng cũng như hình thức. Nhưng đều có chung một đặc điểm cơ bản là đặc biệt chú trọng về sức khỏe, nhất là nhằm mục đích trị liệu những căn bệnh nan y của thời đại kể cả về thể xác lẫn tinh thần. Bởi vậy mà nền tảng cơ sở về kỹ thuật của những bộ quyền thuật- khí công này, ngoài bộ Khí Công Tâm Pháp Biệt Truyền như tôi đã trình bày ở phần 3 (.......). Thì cả 3 bộ quyền thuật này còn dựa vào nguyên lý Thái- Cực, Âm- Dương, Ngũ Hành theo bộ Ngũ Hành Khí Công.
Bộ Ngũ Hành Khí Công là một bộ nhu công nội gia tâm pháp của Y Thuật cổ truyền. Bộ khí công này lúc lưu truyền trong dân gian còn có những tên khác đó là Thái Cực Khí Công, Thái Cực Ngũ Hành Khí, Ngũ Hành Lục Tự Quyết...Thái Cực Lục Tự Khí..Dù mang tên gọi như thế nào thì hầu như bộ khí công này rất ít thay đổi về hình thức và kỹ thuật thâu nhiếp hô hấp.
Bộ Ngũ Hành Khí Công nhu nhuyễn, nhẹ nhàng, trầm nhiếp và rất an nhiên giao hòa. Đây là một bộ khí công có công năng điều hòa âm dương rất diệu ảo và tối thượng. Mặc dầu các động tác đơn giản, chậm rãi và bình dị, thuận theo sự vận động tự nhiên của cơ thể, nhưng có khả năng khai mở, điều hòa rất cao.
Sở dĩ bộ khí công này còn có tên gọi là Ngũ Hành Lục Tự Quyết hay là Thái Cực Lục Tự Khí là vì Tâm Pháp của nó dựa vào 6 chữ mà hành công: An nhiên như CÂY cỏ, Bồng bềnh như GIÓ thoảng, Trầm vững như NÚI non, Êm đềm như mặt HỒ, Bao la như BIỂN cả và Bình thản như Mây trôi
  
6 chữ : Cây- Gió- Núi- Hồ- Biển- Mây mang các hành như sau:
Cây là hành Mộc ứng với Can Đởm (gan- túi mật) trong cơ thể
Gió là hành Hỏa ứng với Tâm- và Tiểu trường  (Tim và ruột non)
Núi là hành Thổ ứng với Tỳ-Vị ( bao tử và lá lách)
Hồ là hành Kim ứng với Phế- Đại trường (Phổi và ruột già)
Biển là hành Thủy ứng với Thận-Bàng quang (Thận và bọng đái)
Và Mây là hành Hỏa ứng với Tam tiêu (Thủy lưu trong công thể)
Bởi vì 6 chữ mang hình tượng của tự nhiên trong tâm pháp của bộ khí công này lại ứng 6 chữ trong Lục Tự Khí Công ( xin bấm vào đây để xem) đó là HƯ (mộc), HA (hoả), HÔ (thổ), HI (kim), SUY (thủy), HU (hỏa), cho nên dân gian nhầm mà gọi tên bộ Quyền này là Thái Cực Lục Tự Khí hay là Ngũ hành Lục Tự Quyết, và một vài người nhầm bộ khí công này là Bộ Tĩnh Công Lục Tự Quyết là Đệ Tứ trong ngũ đại tuyệt nghệ khí công (1. Dịch cân kinh, 2. Bát đoạn cẩm, 3 Ngũ cầm hý, 4. Lục Tự Quyết, 5. Ngũ Hành Khí Công)
Bộ Ngũ hành Khí công, hành công liên tục không ngưng nghỉ như các bộ khí công khác. Bắt đầu khởi công từ chữ CÂY (mộc) và kết thúc bởỉ chữ MÂY (hỏa). Có nghĩa là hành công theo Ngũ hành tương sinh mà bắt đầu từ hành Mộc theo thứ tự (Mộc- Hỏa-Thổ-Kim-Thủy-Hỏa)
Người luyện tập môn khí công này chỉ cần lưu ý hai điểm cơ bản rất đơn giản đó là Chữ gì ứng với cơ quan nào trong cơ thể là được, để khi mình có bệnh hay mất cân bằng âm dương ở bộ phận nào, thì lúc hành công tăng cấp số của chữ tương ứng lên nhiều lần để điều hòa trực tiếp vào nơi bị bệnh, ví dụ: bệnh về Gan, Thận, đau nhức, nhiễm độc...thì lúc hành công tăng động tác của chữ "cây" và chữ "biển" lên nhiều lần hơn các chữ khác là được
Điểm thứ hai là lúc hành công đến CHỮ nào ngoài việc giữ hơi thở vào ra đều đặn tự nhiên, thì nên hướng niệm tâm cảnh vào ý nghĩa của chữ ấy, ví dụ lúc hành công đến chữ Biển thì nghĩ về biển, lúc hành công đến chữ Mây thì nghĩ về mây, đến chữ Gió thì nghĩ về gió.
Quá trình trì luyện như vậy, không những âm dương ngũ hành đều hòa mà còn đưa trạng thái của cơ thể và tâm thức hóa nhập vào cảnh giới của tự nhiên. Lúc đó thân thể và tinh thần sẽ đạt được cảnh giới như Tâm Pháp đã đề ra: An Nhiên- Bồng Bềnh- Trầm Vững-Êm đềm , Bao la và Bình Thản đó chẳng phải là cảnh giới của sự Trường Cửu và Hạnh Phúc đó ư.?
Về vấn đề thâu nhiếp hơi thở, thì tuân theo hơi thở tự nhiên hài hòa với động tác chuyển động của cơ thể. Hít vào thở ra đều bằng mũi, miệng luôn ngậm lại.
Thực ra lý luận thì rắc rối vậy nhưng cách luyện tập rất đơn giản, dễ hiểu, đơn giản, nhẹ nhàng, không tổn sức và tốn rất ít thời gian. Chỉ có điều lúc luyện tập nên để thoáng cửa hoặc đến những nơi có không khí trong lành thoáng mát thì tốt hơn
____
Bấm vào đây để xem trình bày bộ Ngũ Hành Khí Công:

   
  http://www.youtube.com/watch?v=H6-TyDqacr4   
___________
   
  
Cách Luyện Ngũ Hành Khí Công:

Thức thứ nhất:
An nhiên như cây cỏ, thức này gồm có ba động tác chuyển động của tay khác nhau, lúc luyện thức này nên hướng tâm ý đến sự an nhiên tự tại của hoa lá cỏ cây
- Bấm vào đây để xem cách luyện động tác và hơi thở:




   http://www.youtube.com/watch?v=m9T3j6-ytlM  
___
  
Thức thứ hai: Bồng bềnh như gió thoảng, thức này chỉ có một động tác, nhưng chuyển về hai hướng trái phải. Lúc luyện nên nghĩ đến những ngọn gió nhẹ nhàng thoang thoảng lướt qua
  - Bấm vào đây để xem cách luyện động tác và hơi thở:
  

  http://www.youtube.com/watch?v=G2xWQ7UyfWg   

___
 
Thức thứ ba:
Trầm vững như nói non, thức này có 3 sự chuyển động khác nhau của tay, lúc luyện hướng tâm ý đến sự vững chãi trầm mặc của núi non đại ngàn 
- Bấm vào đây để xem cách luyện động tác và hơi thở:
 
http://www.youtube.com/watch?v=bhP2lYY5WXU  
   
___
___
  
Thức thứ tư:
Êm đềm như mặt hồ, thức này có 3 sự chuyển động của tay khác nhau, lúc luyện tưởng tượng như thân mình dập dờn trên những ngọn sóng lăn tăn của mặt hồ thu
   - Bấm vào đây để xem cách luyện động tác và hơi thở:  
   http://www.youtube.com/watch?v=iuPhGQvEbAI   
   
______
_
 
Thức thứ năm: Bao la như biển cả. Thức này cũng đa động tác và lên xuống nhịp nhàng, tất nhiên lúc hành công cũng hướng tâm thức đến đại dương mênh mông vô tận.
   - Bấm vào đây để xem cách luyện động tác và hơi thở:
  
http://www.youtube.com/watch?v=UwyF5UP6ue8
   
 
 
___
 
Thức thứ sáu:
Bình thản như mây trôi, lúc luyện thức này người như trôi nổi, lay động theo nhịp chuyển động của cơ thể, như những áng mây nhẹ nhõm lững lờ an nhiên trôi trong khoảng trời trong xanh và hiền hòa....
Bấm vào đây để xem cách luyện động tác và hơi thở:
 
http://www.youtube.com/watch?v=m0M7BUkgNpU    


___
Và bấm vào đây để xem một hành giả khác luyện Ngũ Hành Khí Công:
  
http://www.youtube.com/watch?v=S95R9sm_ges    
___

Đến đây là chấm dứt phần "thiên thung bang nai" nhằm mục đích dẫn dắt người bệnh vào con đường Khai Mở và Phục Hồi khả năng tự trị bệnh của chính mình, phần tiếp theo của chuyên luận này là đi vào trực tiếp trị từng bệnh cụ thể.
____
 12.03.10 
tn

BỮA ẤY THẤY MÌNH HOÀNH TRÁNG (he he he...)

thuannghia | 11 March, 2010 16:42

có bữa thấy mình rất dại
rũ toe dưới một tia nhìn
có bữa thấy mình rất khôn
trước lời ân ái lặng thinh
   
tưởng khôn hóa ra là  dại
ngỡ rằng dại hóa ra khôn
khôn-dại cũng rồi vô nghĩa
khi em bỗng chợt buồn buồn
.
có bữa thấy mình rất khoái
trước một lời khen long lanh
giật mình trước gương soi lại
não nề giọng nói rỗng tênh
   

có bữa thấy mình ảo não
khi ai chê rất chân tình
khen- chê gì rồi cũng thế
khi em không nói lặng thinh
.
có bữa thấy mình hoành tráng
nhún mình như top model
ghế bành ngả lưng ngồi xuống
mới hay xương cốt cũ mèm
    
có bữa thấy mình rệu rạo
chợt bừng ánh mắt lên men
còn ngon hay là khú đế
trong vòng tay em biết liền
.
có bữa thấy mình buông trôi
tý tửng tưởng là tự tại
té ra chính mình ngần ngại
khớp run trước một vạt người
   
đôi lần lâng lâng sương khói
sướng run cảnh giới phiêu diêu
ai dè lưng còng gối mỏi
còn bò lẫm chẫm dốc yêu.
....
  
(he he he....)
  ____

11.03.10
TN

EM, ĐÀN BÀ VÀ CHÂN LÝ (Phóng Sự ...)

thuannghia | 09 March, 2010 16:14



Trong một lần ngồi nhậu...trà với mấy bạn Thơ trẻ. Tuổi đời thì chúng nó nhỏ tuổi hơn mình. Nhưng nói như gã Hồ Bắc thì : "về tuổi đời thì anh sắp lên lão, nhưng riêng khoảng tuổi "EM" thì anh phải gọi tụi em là tiền bối". HB- một Thi Sĩ lãng tử khá nổi tiếng, hậu du của Tam Tổ Yên Tử, khi nghe một câu chuyện tình khá lý thú của, mình hỏi:
- Chú có biết anh nghĩ gì khi mà người ta bán cái xe máy cưới chồng cho người yêu không?
- Anh nghĩ sao?
- Anh nghĩ là hắn chả hiểu gì về Đàn Bà hết.
- Thế anh hiểu gì về  Đàn Bà nói cho em út nghe coi.
Nghe nó hỏi mình mới giật thọt cả mình tự nhủ:
- Ừ nhỉ Đàn Bà là gì nhỉ?
Thấy mình ấp úng, gã HB nói:
- Con đường để từ EM trở thành ĐÀN BÀ trong ta còn khó hơn là thõng tay vô chợ nữa đấy, đừng có mà bỡn!
....

Có một giai thoại về nhạc sĩ Trịnh Công Sơn. Hầu như ai yêu nhạc Trịnh cũng đều biết đến những bông hồng (EM) đi qua đời ông. Cứ mỗi EM ngang qua là để lại một ca khúc bất hủ, nào Diễm, nào Nguyệt, nào Quỳnh Hương, nào Bích Khê,  Michiko, VA, Dao Ánh, Hồng Nhung v..v...Cứ mỗi EM như vậy lại có Diễm Xưa, Quỳnh Hương, Nguyệt Ca...EM thì ông có nhiều, nhưng hình như ông chưa đủ công lực để tiến đến cảnh giới tiếp cận được với Đàn Bà. Duy chỉ một lần hồi Ông mới 26 tuổi, xém nữa là Ông tiến cái cảnh giới tương tự với cô Vũ Nữ gốc Hoa tên là Thanh Thúy, tục gọi là Hoa Cưng. Nhưng tiếc thay khi hai người bạn thân của Ông là Họa Sĩ Trịnh Cung và HS Đinh Cường sau khi chứng kiến họ Trịnh trao nhẫn cưới cho Hoa Cưng dưới ánh đèn mờ ảo và chứng kiến cảnh:  "Một giọt nước nóng bỏng rơi xuống lưng bàn tay suýt làm Sơn co tay lại, đó là giọt nước mắt hạnh phúc của Thanh Thúy". Và khi h đưa họ Trịnh đến phòng tân hôn rồi ra về...thì bỗng nghe tiếng chân lộp cộp hối hả phía sau, ngoảnh lại thì té ra là Tân Lang họ Trịnh vừa chạy theo vừa hổn hển nói :"Bỗng dưng ở lại một mình với một người đàn bà trước mặt, mình hoảng quá, không biết làm gì, đành bỏ chạy cho khỏe!"     ...
Ngoài những bản tình ca, những ca khúc bất hủ, Trịnh Công Sơn để lại cho hậu thế. Câu nói này của Ông còn chỉ ra cho lớp đàn em biết con đường tiến từ EM đến ĐÀN BÀ chông gai lắm...he he.....
  
Tác giả của ca khúc vượt thời gian "Làng quan họ quê tôi", Hoạ sĩ, Nhà Thơ Nguyễn Trọng Tạo hơn nửa đời lăn lộn trong cuộc sống đa tầng, đa phương diện, mãi cho đến lúc hơn 60 tuổi, Nhạc sĩ, Nhà thơ tài ba này còn phải thốt lên trong một tập thơ dài: -  " Em- Đàn Bà" ôi khó lắm thay!!! he ..he ...he cú nữa.

 TN : - Tại sao anh lại đặt tên tập thơ là Em Đàn Bà vậy, chứ bộ có EM không phải là đàn bà à
- Nguyễn Trọng Tạo: - Ngày không Em ngọn cỏ khát  đâm mù tia nắng...Em Đàn Bà đơn giản vậy..vì.. yêu em ...he he...
- TN: !!!!!!!!!
  
_____
Nhà Văn Hoàng Đình Quang, Tổng Biên tập Nhà Xuất Bản Văn Nghệ khu vực Miền Nam, suốt cuộc đời bôn ba giữa giông bão với Chân dài, chân ngắn cho mãi đến lúc lên cơn sốt hơn 40 độ mới tìm ra được một chân lý là giữa Em và Đàn 2 thế giới hoàn toàn khác nhau : "Tôi đi tìm Em lại gặp Đàn Bà....- Thơ viết trong cơn sốt"...
 

  
________

Nguyễn Quang Vinh: - Để tui dạy cho ông mấy chiêu chinh phục mấy EM chân dài nhé.
Nguyễn Quang Lập:- Thằng Vinh biết gì về EM mà dạy, hắn lớn lên là may mắn đi đường tắt đến cảnh giới Đàn Bà ngay, sau đó mới quay lui lại tìm Em, nên chẳng có kinh nghiệm gì đâu. Vụ này để anh chỉ cho chú mấy chiêu. Muốn chinh phục các EM  để tiến tới cảnh giới cao hơn, đầu tiên chú phải học thuộc câu thần chú điều khiển gậy như ý của Tôn Hành Gi, hô to là to đến bao nhiêu cũng được, hô nhỏ là nhỏ lại được ngay..he he he....
TN: !!!...??????

_________
 ___________

TN: - Anh hạnh phúc thật, làm sao mà anh có được người Đàn Bà của mình hay thế
 Trương Đình Tuấn:- Hè hè...thế mới chiến chứ, nếu như chị của em mà không tranh với anh hai cái gốc xoài để treo võng ngủ trưa thì đúng thật chị ấy là một người Đàn Bà thật rất
tuyệt vời
TN: ??????
 
________
  
..

- Từ Linh Nguyên: - Khi nào thì đại ca  " một hôm ngựa bỗng thấy thanh bình, thảm cỏ tình yêu dưới chân mình..". hay là: Chỉ mong làm cỏ bên nguồn/ Mềm chân lơ đãng suối hồn ngây thơ...để vén gió nhìn mây
 Dami: -  Chim vỗ cánh nắng phai rồi đó
Về đi thôi o nớ chiều tà
Ngó làm chi mây trắng xa xôi
Mắt buồn quá chao ơi là tội!
(Qua mấy ngõ hoa- Mường Mán)
TN:-  he he.....Bác Mường Mán ơi cho thêm mấy cái bánh tráng và ly trà đá, chân lý cuối cùng là uống, mà uống thơ, uống trà hay uống bia thì cũng là uống cả thôi.

....
08.03.10
tn

Liên Khúc "THƯA EM" (nhạc..he he...)

thuannghia | 08 March, 2010 14:05

Đáng lý ra ngày 8/3 tôi không cần phải chúc mừng chị em, bởi vì tôi là người luôn luôn coi trọng Chị Em, cho nên cái ngày Vùng Lên này đối với tôi không có ý nghĩa. Về vấn đề kính nể chị em, nếu như tôi bị xếp hạng nhì thì không có ai được xếp hạng nhất. Bằng chứng đây:

  
 
THƯA EM! (1) (thơ)
thuannghia | 01 October, 2009 04:44
.

Thưa em!

Rằng em rất đúng

Mắc mớ gì đâu mà buồn

Gần với xa cũng thế

Khi nghĩ về  nhau luôn

.

Thưa  em!

Rằng em rất đúng

Áp má kề vai

Chan chán ngày dài

Xa xa trong cách trở

Nhớ nhớ..

Tình đâu phai

.

Thưa em!

Rằng em rất đúng

Lửa nhen đâu có vĩnh hằng

Mình nghĩ về nhau thật tốt

Ấm hoài đến ngàn năm

.

Thưa em!

Rằng em rất đúng

Lời nói không mất tiền mua

Lỡ như giận nhau chuyện nọ

Nắm tay

Nháy  mắt cười trừ

.

Thưa em!

Rằng em rất đúng

Đôi khi anh như ngẩn ngơ

Đương nhiên vì môi em thắm

Nụ hôn thì đang còn chờ

.

Thưa em!

Rằng em rất đúng

Hết khuyết là đến rằm

Tháng giêng hay tháng tám

Cũng là một vầng trăng

.

Thưa em!

Rằng em rất đúng

Méo tròn gì cũng là anh

Không phải duyên thì phận

Vui vui tại bởi lòng lành

.

Thưa em!

Rằng em rất đúng

Chúng mình đâu còn xuân xanh

Nghiêng đầu nhổ cây tóc bạc

Ai nói lòng  không yên bình

.

Thưa em!

Rằng em rất đúng.
....

01.10.09
thuận nghĩa
____________
   

THƯA EM! (2)
thuannghia | 14 November, 2009 19:41
.
Thưa em, rằng anh đã sai

(Có nghĩa là em rất đúng)

Ừ thôi,  không mười thì chín

Chẻ gì cho một thành hai
.
Thưa em! rằng anh đã sai

Biết rồi, em nở nụ cười

Ngày mai đúng ngày phiên chợ

Tạ tình một đóa hoa tươi
.
Thưa em! Khi anh có lỗi

Bao giờ cũng thế lặng thinh

Nếu muốn cúi đầu tạ tội

Anh cũng quì rất ngon lành
.
Thưa em! rằng anh đã sai

(Vì em lúc nào cũng đúng)

Thế thì cần chi nói mãi

Cho đời thêm chuyện mông lung
.
Thưa em!  rằng anh đã sai

Chỉ xin một bữa yên bình

Câu thơ hôm nào viết dở

Há để dòng cuối trắng tinh
.   
Thưa em! rằng anh đã sai

(Có nghĩa là em tối thượng)

Cầu em hải hồ độ lượng

Cho anh một phút ngọt lành

.
Thưa em! sai hết về anh

Nhường em tất tất lẽ đúng

Với anh chút thơ mỏng mảnh

Đã dư tới cõi vô cùng!
____________
   
THƯA EM (3)
       
Thưa em!
Là anh có nhớ
Thỉnh thoảng mới chút  quên quên
Cái ngày chúng mình gặp gỡ
Hình như anh khắc bên em
.
Thưa em!
Là anh không quên
Đôi khi chỉ không kịp nhớ
Vài hôm anh về hỏi Mẹ
Em sinh tháng mấy biết liền
.
Thưa em!
Anh không lỗi hẹn
Bởi vì gặp bạn ham vui
Vì chắc vài lời ve vuốt
Bỏ qua em sẽ mỉm cười
.
Thưa em!
Anh rất chung tình
Lỡ như ngang đường mắt liếc
Yêu em thì như em biết
Nhưng vì người ta quá xinh
.
Thưa em!
Anh rất đàng hoàng
Tuần này vẫn chưa nói dối
Cho nên trong đêm chờ đợi
Chớ nghĩ rằng anh tắt ngang
.
Thưa em!
Thôi đã muộn màng
Dẫu rằng anh như củ chuối
Cũng đừng kêu trời lại hỏi
Khi đời lỡ buớc sang ngang...
       
08.03.10
thuận nghĩa

VỚ VẨN BỎ XỪ...(thơ)

thuannghia | 06 March, 2010 15:12

trà còn người còn
trà hết người hết
lăn lộn cả ngày không mệt
tối thiếu tách trà bất an
  
tiền còn tình còn
tiền hết tình hết
đến khi cận kề cái chết
mới ngộ ra điều rất cỏn con
  
người còn trà còn
tình còn tiền còn
phát khởi muôn ý niệm
rốt ráo thành vô ngôn
  
Đồ Gàn

DER, DIE, DAS...(Chuyện Vui)

thuannghia | 05 March, 2010 13:44

Thuở nó lên 5 đã  chững chạc như người lớn. Khi thấy anh vừa lụi cụi nấu ăn vừa lẩm bẩm..der, die, das (giống đực, giống cái, giống trung) học tiếng Đức. Nó đang chơi trò cô Tiên một mình nơi hành lang chạy vào gõ gõ cái bút chì cô Tiên vào anh hỏi:
- Nào, cô Tiên đến đây, cho nhà ngươi ba đều ước. Ba muốn ước điều gì nào?
Nó có một trò chơi rất đơn giản với hai cái bút chì, một cái là nó, một cái khi thì cô Tiên, khi thì ông Bụt, khi thì con người máy bằng nhựa chưng ở cửa hàng đồ chơi mà Ba nó hẹn kỳ lương tới sẽ mua cho nó. Đã gần nửa năm rồi, thỉnh thoảng nó hỏi anh:
- Kỳ Lương Tới  đi đâu xa mà lâu về Ba nhỉ?
Anh cười cười ngượng nghịu nói với nó:
- Kỳ Lương Tới có hai loại, một loại là Kỳ Lương Tới dư và một loại là Kỳ Lương Tới thiếu. Loại Kỳ Lương Tới dư thì hư, ham chơi, nên lâu lâu mới về nhà, Kỳ Lương Tới thiếu thì ngoan nên lúc nào cũng về nhà đúng ngày đúng giờ con ạ.
Nó lại hỏi:
- Thế Kỳ Lương Tới nào thì có thể mua được người máy hả Ba?
- Thì là kỳ lương tới dư đó - Anh trả lời.
- Vậy thì con chẳng thích ngoan đâu, con thích hư thôi.
Anh thương nó, định lôi con lợn đất mà cả hai cha con ngày nào cũng bỏ tiền lẻ vào chờ đầy là lấy mua ô tô, định đập ra mua người máy nhựa cho nó, thấy thế, nó nhỏ nhẹ hỏi anh
- Ba biết con ghét nhất cái gì không?
- Con ghét nhất cái gì nào- anh hỏi
- Là người máy bằng nhựa đấy...
Hai cái bút chì ấy là một thế giới trò chơi phong phú nhất của nó, nó có thể chơi say mê hàng mấy tiếng đồng hồ liền mà không chán. Một cái là nó, một cái là cô Tiên luôn sẵn sàng cho 3 điều ước. Hai cái bút chì theo nó suốt những buổi chiều nơi phòng đợi ở phòng mạch mà ba nó thực tập. Cùng với nó suốt cả buổi tối nơi nhà hàng ba nó rửa bát và phụ bếp cuối tuần...
 
Lúc nó gõ gõ cái bút chì vào anh nói cô Tiên bút chì của nó cho anh 3 điều ước, anh cười hề hề xoa đầu nó:
- Ba ước là có một cái Die nấu ăn và dọn dẹp nhà cửa giúp ba, còn cái Das thì khoẻ mạnh, ngoan và học giỏi, riêng cái Der thì sẽ lấy được bằng cấp và Kỳ Lương Tới dư lúc nào cũng về nhà.

Ngày sinh nhật nó 18 tuổi, anh hứa mua cho nó cái Caprio. Khi đưa nó đến nhà xe Audi, chọn cái nào nó cũng lắc đầu. Anh buồn lòng hỏi nó thật sự thích cái nào, nó hề hề trả lời:
-Thật ra thì con chưa thích đi xe đâu, vì chạy xe tốn kém lắm, học sinh làm gì có tiền mà nuôi xe.
Anh giật mình thấy nó còn chững chạc và chín chắn hơn cả mình.
Anh rút cái bút bi trên túi áo xuống gõ gõ vào vai nó:
-  Nào cô Tiên đến đây, cho nhà ngươi ba điều ước, nhà ngươi ước gì nào
- Con ước cái Der sẽ có một cái Die, còn cái Das thì đủ điểm vào học nghề Y.  Der, Die, Das immer unter dem Dach *
Anh ôm  nó vỗ vỗ vào vai:
- Du bist richtig schon einer Erwachsener (Con thật sự đã là một người lớn).
- Nói tiếng Việt đi, mai mốt về Việt Nam không biết nói chuyện với ai đâu- Nó giả bộ nghiêm mặt nhại lại câu nói của anh thường nhắc nó hồi bé- Hì hì...ngoan!, về Việt Nam, Ich kiếm cho Du một cái Die sehr đẹp nhé- Nó lại chua thêm một câu, làm như nó là bố của anh không bằng.
- Cái thằng dịch vật- anh mắng yêu nó
- Dịch vật là cái gì vậy Ba?
Biết mình lỡ lời, anh chống chế:
- Là một cái Die tuyệt vời.
Anh và nó nhìn nhau cười vang cả nhà xe.
   
   _____
       
Chú thích:
Die: giống cái
Der: giống đực
Das. giống trung
Ví dụ: Die Frau là người vợ, người Phụ Nữ, Der Männer là người chồng, Đàn Ông, Das Kind là con cái.
Câu nói đùa: "Der, Die, Das immer unter dem Dach" có nghĩa là Vợ Chồng con cái luôn ở chung dưới một mái nhà

______
04/03/10
TN

KHAI MỞ TIỀM NĂNG THÂN THỂ VÀ TRÍ TUỆ (Chuyên Luận) Phần 3

thuannghia | 05 March, 2010 03:21


____Tiếp theo phần 1 và 2_________
 .....  
Tôi vốn rất đam mê Võ Thuật Dưỡng Sinh, và chỉ riêng Võ Thuật Dưỡng Sinh và các môn vận động Dưỡng Sinh bảo vệ sức khoẻ cũng như liên quan đến việc phòng và chống bệnh tật thôi. Còn các môn võ thuật mang tính chiến đấu hay các môn Khí Công nhằm mục đích thành đạt những khả năng siêu nhiêu thì tôi ít quan tâm, và chỉ tìm hiểu và luyện tập theo kiểu "cưỡi ngựa xem hoa".

Mấy năm trước có người bạn thân từ Mỹ sang, thấy anh luyện một môn  Dưỡng Sinh rất lạ. Vừa giống như Khí Công, vừa na ná Thái Cực Quyền, lại man mác màu sắc của Yoga. Mặt khác Tâm Pháp của môn dưỡng sinh này lại hoàn toàn đậm đặc phong cách của Phật Giáo, vừa thanh thoát huyền nhiệm  như ý chỉ của Thiền Tông vừa uyên nhiên thăm thẳm thâm sâu như Hoa Nghiêm Tông, bát ngát bao la tinh thần Bát Nhã.  Đó là bộ Càn Khôn Thập Linh

Anh là một cư sĩ trường chay  đoạn dục đã hơn 25 năm nay và cũng là một trong những đệ tử của Hoa Nghiêm Tông, học trò của Thầy Hằng Trường. Thấy anh say mê luyện tập mộn dưỡng sinh này rất rốt ráo. Nhìn qua bài luyện tập của anh, tôi đã thấy sướng âm ỉ và rất thống khoái với các chuyển động của cơ  thể và cách thu nạp hơi thở.

Tôi được anh cho xem 20 dĩa CD, và  tận tình chỉ bảo trực tiếp, từng ly từng tý. Khi cùng anh luyện tập môn dưỡng sinh này, tôi có nói với anh là tôi cảm thấy rất thân quen với Càn Khôn Thập Linh. Anh cười và nói "Có lẽ vì chú có duyên với Càn Khôn Thập Linh mới có cảm giác đó thôi". 

Tôi trình bày cho anh xem những môn Dưỡng Sinh khác mà tôi đã may mắn có cơ duyên luyện tập. Trong đó có bộ Thiên Lý Tiêu Dao và bộ Bát Linh Công được đệ tử "ruột" của Đại Sư Độ Giác trực tiếp chỉ bảo, và bộ Lục Tự Quyền thì được chính ngay Đại Sư Khổ Toại truyền thụ. Và tất nhiên cũng nổi hứng "dạo qua" Thái Cực Quyền  Nhị Thập Tứ Thức của họ Dương,  Ngũ Hành Khí Công, và Ngũ Cầm Hí của Đạo Gia và Y Gia... Anh xem tôi biểu diễn các môn dưỡng sinh đó và vô tư nói: "thì cũng na ná như Càn Khôn Thập Linh thôi". Tôi trương cổ lên cải: "Sao lại na ná như Càn Khôn Thập Linh,  phải nói là Càn Khôn Thập Linh na ná như những môn kia mới phải chứ". Nét mặt anh vẫn hồn nhiên như trẻ thơ và trả lời: "cái nào giống cái nào mà chẳng được, vì làm gì có Trước với có Sau, có Hay với có Dỡ, chỉ là có Duyên hay không có Duyên mà thôi...."

Quả đúng là như vậy. Cổ nhân đã để lại cho hậu thế hàng ngàn pho Dưỡng Sinh huyền nhiệm để luyện thân dưỡng tính bảo vệ sức khoẻ, nhưng có được bao nhiêu người luyện tập đâu, và đã  mấy ai đạt được huyền cơ trong đó.

Kho tàng Võ Thuật Dưỡng Sinh và Khí Công của Tiền Nhân đã truyền lại cho hậu thế có từ hàng trăm năm hàng ngàn năm trước, bao la bát ngát vô cùng. Không kể những pho bí truyền mà đến bây giờ chỉ lưu truyền trong các môn phái Võ thuật, thì những pho Dưỡng Sinh bất hủ, di sản Văn Hoá nhân loại, đang được phổ cập rộng rãi trong dân gian vẫn luôn luôn mở rộng ngưỡng cửa để chờ đón những hành giả, khám phá chính cơ thể, và tâm linh của chính mình, đưa cơ thể của người luyện tập đến cảnh giới "bất hoại" của Thiên Nhiên.

Cùng với các trường phái Yoga của Ấn độ, ngày nay Thái Cực Quyền và Khí Công của Á Đông đã dần dần trở thành một trong những phương pháp tối ưu nhất để bảo vệ sức khoẻ trong hệ thống Y Học Hiện Đại.

Về Thái Cực Quyền thì có các môn phái chủ yếu đó là Thái Cực Quyền của Họ Dương, Thái Cực Quyền của họ Trần, Thái Cực Quyền của Võ Đang ...

Mời bấm vào đây để xem  đầy đủ các bài Thái Cực Quyền hiện đang lưu hành rộng rãi ở phương Tây: http://taiji.de/

Còn các môn Khí Công được truyền bá rộng rãi hiện nay cũng  vẫn là Ngũ Đại Tuyệt Nghệ Khí Công cổ truyền:

1)    Đệ Nhất : Đạt Ma Dịch Cân Kinh của Phật Gia

2)    Đệ Nhị : Bát Đoạn Cẩm của Phật Gia và Đạo Gia

3)    Đệ Tam: Ngũ Cầm Hí của Đạo Gia và Y Gia

4)    Đệ Tứ: Lực Tự Khí Công của Y Gia

5)    Đệ Ngũ : Ngũ Hành Khí Công của Đạo Gia

Bấm vào đây để xem tất cả Xuất Xứ, Cách Luyện Tập, Tác Dụng...của Các Môn Dưỡng Sinh đang lưu hành trên thế giới. Và đặc biệt là cách luyện tập bằng băng hình có phụ đề giải thích bằng tiếng Việt

1)    Bấm vào Youtobe.com: (bấm vào dưới đây)

          http://www.youtube.com/ 

2)    Điền vào ô tìm băng video: thuannghiakc rồi bấm máy tìm

(hoặc gõ vào Google phần Videos chữ:  thuannghiakc )

Sẽ hiện lên tất cả các băng video trình bày các môn Võ Thuật Dưỡng Sinh và Khí Công nói trên)

3)    Khi đã hiện ra toàn bộ Video của thuannghiack, bạn muốn biết, muốn tìm hiểu về môn nào thì xem tên của băng hình đó mà bấm vào (muốn tiết kiệm thời gian thì ban có thể bấm trực tiếp vào Google: chữ thuannghiakc. Và tên của môn Dưỡng Sinh mà bạn quan tâm, ví dụ : thuannghiakc. bat doan cam thì sẽ hiện lên các băng hình về Bát Đoạn Cẩm, thuannghiakc. dich can kinh, thì chỉ sẽ hiện lên băng hình về Dịch Cân Kinh, thuannghiakc. luc tu khi cong (lục tự khí công), thuannghiakc. ngu cam hy (Ngũ Cầm Hý).....

4)    Khi băng hình từ Youtube hiện lên, muốn tìm hiểu xuất xứ và cách luyện tập phụ đề bằng tiếng Việt thì bấm vào phần : Weitere infos dưới hình đại diện bên phải màn hình sẽ hiện ra tất cả hướng dẫn luyện tập bằng tiếng Việt.

(hầu hết các băng hình đều thuyết minh bằng Anh Ngữ, Hoa Ngữ và Đức Ngữ)    

   Trong tất cả các pho Dưỡng Sinh cổ truyền đang lưu truyền trong dân gian, có một pho rất đơn giản về thế thức, nhưng rất huyền nhiệm về tác dụng. Không biết thành quả của nó có được phi thường như huyền thoại của  Dịch Cân Kinh hay Bát Đoạn Cẩm hay không, nhưng có một điều chắc chắn là nó hoàn toàn không có tác dụng nguy hiểm như một số môn Dưỡng Sinh tuyệt nghệ khác.
Đó là bộ KHÍ CÔNG TÂM PHÁP BIỆT TRUYỀN của Phật Gia. (Một số người nhầm gọi là Khí Công Tâm Pháp Bí Truyền. Gọi là "biệt truyền" là vì chỉ lưu truyền phổ cập trong Phật Giáo, là môn Khí Công chuyên biệt nhằm giúp đỡ cho các hành giả Thiền được có nhiều khí lực bền vững trong việc ngồi Thiền, Quán Tưởng lâu dài, chứ có bí mật gì đâu mà "bí truyền".)
Tuy là một bộ Khí Công đơn giản về chiêu thức dành cho giới Thiền Định, nhưng bộ Khí Công Tâm Pháp Biệt Truyền này hàm chứa đầy đủ các tác dụng của một môn Dưỡng Sinh hoàn chỉnh.
4 thức (bốn động tác) của Khí Công Tâm Pháp Biệt Truyền (KCTPBT) mang bốn cảnh giới diệu dụng của Dưỡng Sinh. Đó là Khai Mở Kinh Mạch Huyệt Vị, Tích Lũy Nội Lực, Hoạt Khí- Hành Huyết, và Định Tâm
Nếu không phải luyện tập để trị những bệnh chuyên biệt. Thì một người bình thường chỉ cần luyện tập 4 thức Khí Công giản diệu này là quá đủ, thì cái "Trương Mục" sức khoẻ của hành giả (người thực hành công phu) cũng dư xài với "trăm năm bể khổ trần ai" này rồi.
Cái đặc biệt của pho KCTPBT này là cách thổ nạp hô hấp cùng với sự vận động thủ túc, rất tự nhiên và đơn giản. Và đó cũng là những đặc điểm mà ba pho Dưỡng sinh của 3 vị Đại Sư Giác Độ, Khổ Toại và Hằng Trường đều có nét tương tự nhau.
Bởi vì ngoài những thể thức đúc kết tinh hoa từ các pho dưỡng sinh cổ truyền để sáng tạo nên những tuyệt kỷ khác nhau phù hợp với thời hiện đại, thì 3 pho dưỡng sinh của ba vị Đại Sư nói trên có nền tảng thâu nhiếp hô hấp từ pho KCTPBT, cho nên trong phần này tôi xin trình bày hơi kỹ về Khí Công Tâm Pháp Bí Truyền này.
    
   * Bấm vào đây để xem tôi trình bày 4 thức trong Khí Công Tâm Pháp Biệt Truyền:
       
      http://www.youtube.com/watch?v=pOAQnVR4dGc    
   

    
Đệ nhấtThức: Chuyễn Nhâm Đốc
Động tác này nhằm mục đích vận động khai mở hai kinh mạch chính trong cơ thể. Mạch Đốc( dương) chạy phía sau lưng và Mạch Nhâm (Âm) chạy phía trước bụng. Đây là hai kinh mạch tổng hội các đường kinh Âm và Dương trong cơ thể. Chuyễn được Nhâm-Đốc cũng đồng nghĩa với việc khai mở vận động tất các các kinh mạch và huyệt vị trong cơ thể, tất nhiên cũng khả năng thức động các Luân Xa (trung khu năng lượng sinh học).


  - Hít vào đồng thời hai chân bước rộng ra bằng vai
_________________________________
  

- Thở ra, từ từ cúi người xuống phía trước, hai tay buông lỏng tự nhiên xuống đất, đầu cũng theo tay thả lỏng xuống dưới
________
    
  
   - Từ từ hít vào và đứng dậy.  Hai tay úp vào phía sau lưng hông, nín thở, và  ngã người ra phía sau
 

____________________
      
  
Thở ra và từ từ cúi gập người xuống phía trước như động tác ban đầu và cứ vậy lặp đi lặp lại nhiều lần như có thể.
_________________________________

   2) Đệ Nhị Thức:
Tích Nội Lực
Thức này nhằm mục đích thâu liễm và tích lũy nội lực
    
 
  - Hít vào, chân bước rộng ra bằng vai, hai tay chống vào mạng sườn
_____________________________
   

 
     Thở ra và từ từ ngồi xuống thấp (lưu ý càng xuống thấp càng tốt, nhưng vẫn giử một khoảng cách không ngồi hẳn lên bắp chân)
_____________
  
      

- Hít vào, đồng thời từ từ đứng dậy
- Nín thở và từ từ nhón chân lên, đồng thời nhóp hậu môn vào
_________
     

Khi bắt đầu thở ra cũng là lúc từ từ thả người ngồi xuống như động tác ban đầu, và tiếp tục lặp lại động tác với khả năng có thể (5-7 lần là được)
______________
  
3) Đệ Tam Thức:  Hoạt Khí 

    
 
      Chân bước rộng ra bằng vai, xuống thế trung bình tấn
    __________________________
   

Hít vào đồng thời hai tay từ từ dang rộng ra hai bên, cánh tay thẳng, cổ tay buông lỏng, lòng tay sấp, rủ bàn tay xuống dưới, quay ra sau và lên trên quá đầu.
  
________
    
   


   Thở ra, đồng thời hai tay hạ xuống trước mặt, cánh tay thẳng, lòng bàn tay hướng ta ngoài, ngón tay chỉa lên trên,  từ từ cùng với hơi thở, hai tay hạ xuống ngang hông, và lặp lại động tác cũ
________
   4) Đệ Tứ Thức:
Bình Tâm Định Thần. Thức này nhằm mục đích dẫn ý, định tâm và thâu liễm khí Hậu Thiên (dinh dưỡng, hô hấp) hoá nhập với khí Tiên Thiên (nguyên lực nội tại)
  
     
    

- Bước chân ra bằng vai, xuống trung bình tấn, hai tay khép vào ngang hông, lòng bàn tay ngữa thẳng lên trên
- Vẫn giử nguyên tư thế ấy từ từ hít vào.

 
- Giử nguyên hơi thở đan điền, hai tay quay hai vòng tròn phía trước mặt. Tay trái theo chiều kim đồng hồ, tay phải ngược chiều kim đồng hồ, đường kính của vòng tròn khoảng 30 đến 40 cm. Lúc hai tay quay vòng tròn thì dùng ý tưởng tượng trên đó có hai quả cầu lửa

Chỉ có lúc nín thở, hai tay mới quay vòng tròn ngược nhau, còn lúc hít vào thở ra hai tay luôn ở vị trí ngang hông
__________________________
   

    - Quay được 2 hoặc 3 vòng (tùy khả năng hơi thở nín được dài hay ngắn) thì rút tay vào hông như củ, lúc này mới từ từ thở ra
   
Vì thức này là thức hóa nhập, bình tâm, định thần, nhờ vào sự  vận chuyễn giao hòa giữa khí Tiên Thiên và Hậu Thiên, cho nên khi luyện thức này đòi hỏi phải có sự vận động tích lũy và hoạt khí của các thức trước mới có hiệu dụng. Nếu chưa đầy đủ khí lực nhờ luyện tập các thức trước mà luyện nay vào Đệ Tứ Thức thì không nên, vì thiếu mất nền tảng khí lực, nên việc định tâm, hóa thần rất khó khăn, đôi khi còn bị bồn chồn bất an nữa.
______
Bấm vào đây để xem các vị Đại Sư Thiền Tông hướng dẫn cách luyện tập Khí Công Tâm Pháp Biệt Truyền:
   
http://www.youtube.com/watch?v=RVRdpPcXTwE  
___________________
 * Lưu Ý: 
 - Đối với các Y Sư, nếu đã có nền tảng luyện tập các môn dưỡng sinh khác từ trước, sau đó thực hành luyện tập rốt ráo Đệ Tứ Thức thì nhờ sự lưu dẫn kích hoạt của khí Tỳ Vị (Khí Hậu Thiên) (Ý Niệm là khí hóa của Tỳ Vị), mà có được Chân Khí vững mạnh để làm tăng Y Lực lên rất cao (tăng sự "mát tay"- ví dụ như vận khí vê kim, tấn kim trong châm cứu chẳng hạn...)
- Theo kinh nghiệm của nhiều hành giả có công phu tu tập các môn dưỡng sinh uyên sâu, thì Khí Công Tâm Pháp Bí Truyền có thể là một môn, sử dụng như một môn khởi động trước tất bất kỳ cuộc luyện tập về thể chất nào cũng đều có tác dụng rất huyền nhiệm
- Ngoài ra nếu người luyện tập chỉ chuyên tâm trì luyện 4 thức khí công này, thì thành quả của nó cũng không thua sút gì các môn tuyệt kỷ khác như Dịch Cân Tẩy Tủy Kinh, Bát Đoạn Cẩm, Ngũ Cầm Hý....
  
(Còn nữa)
___
05.03.10
Biên Soạn
Quảng Nhẫn Lê Thuận Nghĩa

...CÒN NGUYÊN NHỮNG VẾT THÙ - (Thảo Nguyên- Collage)

thuannghia | 28 February, 2010 04:21

 
Bấm vào đây để nghe bài hát:
http://www.youtube.com/watch?v=HPmx90DD1co&feature=related
   
      
 ______
  

Thảo Nguyên- (Collage- 150/130cm) Tranh xé dán của Thuận Nghĩa
     ....
...một hôm ngựa bỗng thấy thanh bình...thảm cỏ tình yêu dưới chân mình...ân tình mở cửa ra với mình..ngựa hoang bỗng thấy mơ để quên những vết thù...
__________
    
  
   (trích đoạn)
    ....
...Ngựa hoang nào dẫm nát tơi bời...đồng cỏ nào xanh ngát lưng trời...
   
______
  

(trích đoạn)
   ...
...ngựa phi như điên cuồng...giữa cánh đồng ..dưới cơn giông...vì trên lưng cong oằn những vết roi vẫn in hằn...
  
_______
   

(trích đoạn)
     
...
...ngựa hoang muốn về tắm sông nhẫn nhục...dòng sông mơ màng mát trong thơm ngọt...
   
____

  
.....
...ngựa hoang quên thù oán căm....từ nơi tối tăm về miền ơi sáng...
   
________________
     
 
  ...ngựa hoang về tới bến sông rồi...cởi mở lòng ra với cõi đời...
  
_______
    

   

  
....nhưng đời làm ngựa hoang chết gục....
 
_____
  

 
...vì trên lưng nó ôi..còn nguyên những vết thù... (he he...)
       
   http://www.youtube.com/watch?v=0HpMyIiFxU8   
____   
28.02.10
tn

KHAI MỞ TIỀM NĂNG CƠ THỂ VÀ TRÍ TUỆ (phần 2)

thuannghia | 27 February, 2010 14:18

 

                                  Entry dành riêng cho Đồng Nghiệp , Thân Hữu, anh Ba và người trong gia đình
   
                                                 

                              
 
                                     
                           
                                 
                                  (hì hì... những truyền nhân cuối cùng của Thanh Long phái)
                    
           
Phần 2 : Tác Giả 3 bộ Quyền Thuật-Khí Công Hiện Đại:

   
Lại nói 3 bộ quyền thuật- khí công tổng hợp do 3 vị Đại Sư sáng chế, hiện đang được phổ cập rộng rãi trong cư dân phương Tây. Sở dĩ 3 bộ quyền thuật này ngày càng được ưa chuộng và thu hút được đông đảo người hâm mộ theo học và luyện tập là vì những bộ Quyền Thuật này không những đúc kết được tinh hoa các bộ môn Dưỡng Sinh cổ truyền mà còn đáp ứng được tính thực dụng cũng như nhịp sống hối hả của thời đại số hóa của người phương Tây.

Vừa đưa được hết những tinh hoa của Võ Học Dưỡng Sinh, Vận dụng Tâm Pháp bí truyền vào sự luyện tập một cách cực kỳ sáng tạo, Khai mở một xu hướng Công Phu đạt được thành quả "nhãn tiền". Có tác dụng rõ rệt, nhanh chóng, hoàn mỹ, tiết kiệm được thời gian, dễ dàng tiếp thu và thực hành. Ngoài việc cường thân kiện thể, phòng chống được bệnh tật, trị liệu được những căn bệnh mà Y học bó tay. Những bộ quyền thuật này còn đưa tâm thức của hành giả đến một cảnh giới an lạc, bi ái, hài hòa với thiên nhiên và thế giới xung quanh, khai mở được tiềm tàng của Trí Năng để tiếp cận dễ dàng với cảnh giới Chân Thiện Mỹ của đời sống Tâm Linh. Chính những đặc điểm đó đã đáp ứng được thị hiếu cũng như lối sống của phương  Tây

Và để làm được những điều đó, tất nhiên ngoài sự am hiểu thấu ngộ được những yếu chỉ thâm sâu nhất của Võ Học Dưỡng Sinh, thì người sáng chế ra những bộ quyền thuật đó còn phải có  Trí Huệ của những bậc khai ngộ. Điều đó làm chúng ta không ngạc nhiên khi tác giả của 3 bộ quyền thuật này đều là Đệ Tử nhập thất của một bậc Thiện Tri Thức có thể nói là duy nhất trong thời mạt pháp của thế kỷ 20. Hòa Thượng Tuyên Hóa, một người đã đạt được quả vị tối cao của Thiền Định, một bậc Giác Ngộ Chân Như giữa đời nay.

Tuy rằng 3 bộ quyền thuật này do 3 Vị Đại Sư là đệ tử trong 3 thời kỳ khác nhau trên con đường Thành Đạo của Hòa Thượng Tuyên Hoá, nhưng đều chung một mụch đích là phụng sự chúng sanh, và mang tinh thần Bát Nhã, đặc biệt có những nét ơng đồng về thế pháp,  và có yếu chỉ tương tự như nhau trong phương pháp khai mở các luân xa (trung khu năng lượng sinh học), nhằm đánh thức và khơi dậy tiềm tàng kỳ diệu của cơ thể, và năng lực trí tuệ.
Bộ Lục Tự Quyền có năng lực chấn động nội tại, và khả năng thanh trọc, giải trược, loại trừ các độc tố vật chất và phi vật chất ảnh hưởng đến sự sinh tồn và đời sống tâm linh của người luyện tập
Bộ Bát Linh Công thì  có khả năng tập trung năng lượng thần kinh, để phát huy những tiềm năng siêu nhiên của cơ thể, cũng như hóa nhập giữa Tiểu Ngã vào Đại Ngã, đưa đời sống của con người đến gần sự trường tồn, bất hoại của vũ trụ
Bộ Càn Khôn Thập Linh thì có khả năng diệu kỳ trong việc khai mở những luân xa tối thượng trong cơ thể đưa hành giả đến cảnh giới Đại Định hoá nhập với Chân Như (giải thoát) một cách nhanh chóng, hiện thực và viên mãn
    

Người sáng lập nên bộ Bát Linh Công là đệ tử thọ giới Tỳ Kheo nơi Đại Pháp Đàn hồi Ngài Tuyên Hóa còn ở chùa Nam Hoa tại Tào Khê,  Trung Quốc. Vị này vốn là một đệ tử của Thiếu Lâm Vĩnh Xuân Quyền, vì đam mê võ học mà chu khắp thiên hạ, học hết tinh hoa của trăm nhà, sau này có duyên với kinh Hoa Nghiêm mà thọ giới với Hòa Thượng Tuyên Hóa.

Khi Ngài Tuyên Hóa sang Mỹ, thành lập Tăng Đoàn của Phật Giáo chính thống ở phương Tây, thì Đại Sư Độ Giác  sau khi hành hương  Tứ Đại Thánh Địa Phật Giáo ở Ấn Độ thì Đại Sư đến định cư ở Thụy Sĩ, với một thân thế hết sức khiêm tốn, trong một Thiền Đường không tên không tuổi ở thành phố Lutzern. Và cũng từ đó cùng với một số đệ tử rất hiếm hoi của Ngài, khai nguyên tổ chức  Quốc tế truyền bá tuyệt nghệ gia truyền của Thiếu Lâm Vĩnh Xuân ở châu Âu. Mặc dầu tổ chức này được thành lập chính thức như một tổ chức truyền bá Võ Học Thiếu Lâm, và có tổng đàn ở thành phố Bochum  do Giáo Sư Tiến Sĩ Y Khoa  - Võ Sư M. Freiburg sáng lập. Nhưng linh hồn thực sự của tổ chức này chính là Đại Sư Độ Giác và những người học trò của Ông.

Ngày nay tổ chức Truyền Bá Vĩnh Xuân Quyền trở thành một tổ chức liên quốc gia, có qui mô hoàn cầu, và phát triển mạnh mẽ nhất là ở Đức, Áo, Thụy Sĩ, Hà Lan, Úc, Bỉ...., Ví dụ chỉ riêng ở thành phố Hamburg đã có tới 16 cơ sở huấn luyện quyền thuật của riêng tổ chức này, trong đó có 9 cơ sở đặc biệt dành riêng cho Khí- Công Y Tế, Thành phố Berlin có 17 cơ sở, thành phố Dormun có 8 lò luyện Nội Gia Khí Công, Düsseldoff có 4 cơ sở (Những cơ sở này được cấp giấy phép từ Bộ Y Tế, ...

Những cơ snày đều cơ sở huấn luyện Công Phu Thiếu Lâm, Thái Cực Quyền, Khí Công....trong đó một bộ phận được tách riêng ra khỏi công phu quyền thuật giao đấu đó là bộ phận Y Học Cổ Truyền Trung Hoa. Những người tu học và rèn luyện theo bộ phân này, khi đã đạt  đẳng cấp Huấn Luyện Viên đều được truyền thụ và bắt buộc phải có một bề dày công phu luyện tập Bát Linh Công.

Bấm vào đây để biết thêm về tổ chức này:  http://www.s-w-c-c.de/php/swcc_main.php 

    
Lục Tự Quyền là do Đại Sư Khổ Toại (
遂昌) sáng lập. Ông người gốc Nhật Bản, xuất thân từ dòng dõi Võ Sĩ Đạo, thời nhỏ Ông được huấn luyện trong trường đào tạo Samo. Lúc 19  tuổi xuất gia tại chùa Linh Nhạc (音楽)Nhật Bản. Năm 1959. Ông theo  Sư Phụ đến Hong-Kong dự khánh lễ Đạo Tràng Từ Hưng Thiền Tự do ngài Tuyên Hóa làm chủ sự. Cũng vì có duyên với Hoa Nghiêm tông. Đại Sư ở lại Hồng-Kong theo ngài Tuyên Hóa học đạo. Sau này ông còn sang Trung Quốc tu Thiền ở nhiều ngôi chùa nổi tiếng khác. Năm 1969 Ông lại sang Tây Tạng, năm 1981 Ông  lại đến Nepal và vào những năm đầu thập niên 90 thế kỷ trước thì Ông lại có mặt ở châu Âu.

Đại Sư Khổ Toại có những đặc điểm rất kỳ dị. Ông là người cao lớn như hộ pháp, ông ăn chay niệm Phật, tu Thiền, khai Pháp Đàn như một Tỳ Kheo, nhưng lại để tóc, và mặc thường phục như mọi đàn na thí chủ chúng sanh khác. Mặc dầu bên ông lúc nào cũng có một vài Thị Đồng thuộc Tây Tạng Phật Giáo theo hầu, nhưng rất ít ai biết Ông là một Thiền Sư. Ông giỏi rất nhiều thứ ngoại ngữ, và mang Quốc Tịch của nhiều nước. Quốc Tịch Nhật Bản. Quốc tịch Trung Quốc, Quốc Tịch Áo, và quốc tịch Nga.

Đại Sư Khổ Toại có một năng lực rất kỳ lạ, bởi ông cực kỳ uyên thâm Mạch Thái Tố, cho nên khi ông nắm tay ai, chỉ một lần là ông biết rất rõ tất cả về tình trạng bệnh tật sức khỏe của người đó, ngoài ra còn thấu rõ tường tận ý nghĩ của người đó trong thời gian tiếp xúc với Ông.

Vào những năm thập niên 90, ở chùa Viên Giác, Đức Quốc, những Phật Tử thường lui tới Phật Viện Viên Giác đều biết tiếng chẩn bệnh, trị bệnh kỳ lạ của một "Phật Tử" người Nhật Bản. Nhưng cũng rất ít ai biết Ông chính là Tôn Sư của một phái Võ, thậm chí có nhiều người còn không biết ông là Thiền Sư. Mặc dầu người ta vẫn cảm thấy rất lạ là khi mỗi lần đức Đạt Lai Lạt Ma ghé thăm Đức Quốc, thì lúc nào cũng có cuộc tiếp kiến riêng giữa hai người. Đặc biệt những vị Y sĩ riêng của Đức Lạt Ma có những cuộc đàm luận rất dài ngày với Đại Sư Khổ Toại.

Hiện nay Đại Sư Khổ Toại đang cư trú tại Sibiri , Liên Bang Nga, trong một đạo tràng Phật Giáo Tây Tạng, mà tại đó có một cơ sở Y Học Tây Tạng nổi tiếng châu Âu. Cũng chính vì sự có mặt của Đại Sư Khổ Toại ở vùng này mà hiện nay Lục Tự Quyền được truyền bá rất rộng rãi ở các nước Tây Á, và sang tận Thổ Nhĩ Kỳ, Iran.....

Bộ Thái Cực Tổng Hợp Càn Khôn Thập Linh do Thầy Hằng Trường, đệ tử nhập thất của ngài Tuyên Hóa, truyền thừa phái Qui Ngưỡng sáng lập tại Hoa Kỳ.

Thượng Toạ Hằng Trường gốc người Huế, định cư ở Mỹ, tốt nghiệp Đại Học Khoa Học ở Mỹ. Khi Hoà Thượng Tuyên Hóa thành lập Đại Pháp Đàn Vạn Phật Thánh Thành thì Thượng Toạ thọ giới Tỳ Kheo với Ngài Tuyên Hóa, và luôn kề cận bên Ngài trong gần 30 năm trời cho đến ngày Hòa Thượng Tuyên Hóa viên tịch. Thầy Hằng Trường là người sáng lập và chủ trì Giới Đàn Hoa Nghiêm Pháp Võng nổi tiếng ở Mỹ quốc và Úc châu. Hiện nay Thầy là giảng viên Thiền Định (Zen- Meditation) ở nhiều trường Đại Học nổi tiếng trên thế giới. Ngoài việc phát huy quang đại Hoa Nghiêm tông ở Hoa Nghiêm Pháp Võng, Thầy còn có một chương trình thường kỳ trên đài vô tuyến truyền hình ở tại Mỹ Quốc.

Thầy Hằng Trường nói tiếng Trung Quốc, Tiếng Anh, Tiếng Nhật, Tiếng Phạn...đều như tiếng mẹ đẻ, nên có rất nhiều đệ tử ở khắp Năm Châu.

Bấm vào đây để biết thêm về Thầy Hằng Trường và xuất xứ của Càn Khôn Thập Linh:

 
http://hnpv.org/
  
   

(Xem tiếp phần 3: Trình bày 3 bộ quyền thuật và khí công bằng hình ảnh và băng hình)
     

____________________
       
                   
(Vài lời với anh Ba và Thân Hữu, hãy cố gắng chịu khó đọc trước những vấn đề tưởng chừng như thiên thung bang nai này. Nhưng đó chính là những chủng tử tạo lòng tin cho việc khai mở tiềm năng tự trị bệnh của cơ thể. Bởi vì không có một toa thuốc nào hay, không có một thầy thuốc nào giỏi bằng chính cơ thể của người bệnh đâu, nhất là đối với những bệnh nan y, đặc biệt là bệnh vôi hóa, thoái hóa cột sống như anh Ba...)

   

27.02.10

Quảng Nhẫn LTN sưu tập và biên soạn

KHAI MỞ TIỀM NĂNG THÂN THỂ VÀ TRÍ TUỆ (Chuyên Luận) Phần 1

thuannghia | 23 February, 2010 15:47

Phần 1:
BA BỘ QUYỀN THUẬT- KHÍ CÔNG CÓ CHUNG MỘT NGUỒN GỐC
    
      

            Dành riêng cho Đồng Nghiệp, Anh Ba và Thân Hữu
    
     
Ngày nay các bộ môn dưỡng sinh như Khí công, Thái cực quyền, Yoga...rất được thịnh hành và ưa chuộng ở các nước phát triển như Mỹ, Úc, Đức, Pháp, Thụy Sĩ, Áo, Nga......, thì hình như các bộ môn có tác dụng bảo vệ sức khoẻ kỳ diệu này lại bị quên lãng ở nơi nó phát sinh ra.
   
Ngoài các môn Khí công, Quyền Thái Cực, Yoga nguyên thủy được đưa vào các trường đào tạo chính thức và có cấp bằng tốt nghiệp cũng như giấy phép hành nghề cho các chuyên gia theo học và trì luyện các môn này ra, thì hiện nay trong giới yêu thích các bộ môn luyện tập nhằm khai mở tiềm năng của cơ thể, cũng như khai mở trí tuệ đặc biệt chú ý đến 3 bộ quyền thuật- khí công tổng hợp, có tính chất dễ luyện tập, có tác dụng khai mở diệu kỳ, và có khả năng ứng dụng rộng rãi trong cộng đồng.
   
Đó là bộ Lục Tự Quyền do một Đại Sư Thiền Tông Nhật Bản sáng chế ra. Bộ quyền này được sáng lập trên tinh thần của Kinh Dược Sư, và dựa vào Lục Tự Khí Công làm nền tảng. Bộ quyền này được truyền bá rộng rãi ở Đức, Kasachstan, Nga, Hà Lan và Anh...
    
Bộ Bát Linh Công, do một Đại Sư Khí Công người Trung Hoa sáng lập. Bộ khí công này kết hợp tinh hoa giữa Khí Công cổ truyền Trung Hoa và Yoga Ấn Độ . Là một bộ môn khí công dễ thực hành và nhanh chóng đạt được những khả năng siêu nhiên.
    
Bộ Thái Cực Tổng Hợp: Càn Khôn Thập Linh do một Đại Sư Hoa Nghiêm Tông người Huế- Việt Nam sáng chế. Đây là một bộ quyền thuật có thể gọi là Pháp Bảo cho những Hành Giả Phật Giáo. Bộ quyền thuật này được sáng lập trên tinh thần của Hoa Nghiêm Pháp Võng, và là một bộ môn tổng hợp tất cả tinh hoa của Thái Cực Quyền, Khí Công, Yoga và Thiền Tông Phật Giáo. Bộ Càn Khôn Thập Linh là một bộ quyền Thái Cực không những có tác dụng khai mở và hàm dưỡng thân thể, mà còn đưa tâm thức của hành giả luyện tập nó quay trở lại Thái Cực (Vũ trụ đồng nhất), thoát ra ngoài sự kiềm tỏa của đối đãi Nhị Nguyên: Âm-dương, tốt-xấu, Thiện-ác......Bộ quyền này được truyền bá rộng rãi ở Mỹ, Úc, Pháp...
Điều kỳ lạ nhất là cả 3 vị Đại Sư sáng lập nên ba bộ Quyền Thuật siêu việt này đều là Đệ Tử nhập thất của Đại Lão Hòa Thượng Tuyên Hóa, một vị Thánh Tăng đạt Chánh Quả Khai Ngộ trong thời mạt pháp của thế kỷ 20. Hòa Thượng Tuyên Hóa là Vị Tổ Phật Giáo thứ 49 kể từ Thích Ca Mâu Ni, Tổ Thứ 9 của Thiền Tông Qui Ngưỡng, truyền nhân của Hư Vân Hòa Thượng. Và cũng chính là Sơ Tổ (Tổ Khai Nguyên) của Phật Giáo ở  Phương Tây.
    
Trước khi tìm hiểu về tiểu sử của ba vị Đại Sư sáng lập nên những bộ quyền thuật khai mở tiềm năng của Thân Thể và Trí Tuệ đang được phổ biến rộng rãi ở phương Tây này, chúng ta hãy tìm hiểu về nguồn cội xuất xứ của họ. Nguồn cội đó chính là con người, sự nghiệp và con đường thành Đạo của Thánh Tăng Tuyên Hóa
        
     
      
Hoà thượng Tuyên Hóa (tiếng Hán: 宣化上人; tên tục là Bạch Ngọc Thư, pháp danh là An Từ, tự Độ Luân; 16 tháng 4, 1918 - 7 tháng 6, 1995) là pháp hiệu do Lão Hòa thượng Hư Vân đặc biệt tặng cho khi Sư thọ lãnh sứ mạng làm người kế thừa đời thứ chín của Quy Ngưỡng tông. Sư sinh ngày 16 tháng 3 năm Mậu Ngọ, tại tỉnh Kiết Lâm, huyện Song Thành, tỉnh Tùng Giang, vùng Đông Bắc Trung Hoa (tức Mãn Châu). Thân phụ tên Phú Hải, chuyên nghề nông; thân mẫu thuộc dòng dõi họ Hồ, sinh được tám người con, năm trai ba gái, và Ngọc Thư là út.
  
Thời thơ ấu
Thân mẫu Ngọc Thư là người thọ chay trường, niệm Phật chẳng hề gián đoạn. Một đêm nọ bà mộng thấy đức Phật A-di-đà hiện thân, phóng hào quang chiếu sáng khắp thế giới, chấn động thiên địa. Giật mình tỉnh giấc, bà ngửi thấy mùi hương kỳ diệu khắp phòng, rồi sau đó hạ sanh Ngọc Thư. Tương tryền khi Ngọc Thư vừa ra đời liền khóc suốt ba ngày đêm, chính là vì đau xót cho nỗi khổ của thế giới Ta Bà.

Năm Ngọc Thư mười một tuổi, một hôm cùng chúng bạn dạo chơi, chợt trông thấy một em bé miệng ngậm, mắt nhắm, nằm bó trong đám rơm. Ngọc Thư gọi mà đứa bé chẳng đáp, rờ thì chẳng có hơi thở. Ngọc Thư lấy làm khó hiểu vô cùng nên hỏi lũ bạn. Có kẻ hiểu biết nên liền nói: "Đứa bé đã chết rồi!" Song Ngọc Thư vẫn vô cùng ngạc nhiên, không hiểu thế nào là chết. Về nhà, Ngọc Thư hỏi thân mẫu, bà dạy: "Phàm làm người, ai cũng phải chết. Có kẻ chết già, có kẻ chết vì bệnh, cũng có kẻ chết vì tai nạn. Bất luận là giầu sang hay nghèo hèn, ai ai rốt cuộc cũng phải chết cả!" Ngọc Thư lại thưa: "Như vậy, có cách gì thoát sự chết chăng?" Bấy giờ trong nhà có vị khách xưa kia từng tu Đạo giáo, đỡ lời đáp rằng: "Chỉ có cách tu Đạo, hiểu rõ tự tâm, thấu suốt bổn tánh, thì mới có thể chấm dứt sanh tử, thoát vòng luân hồi, thành tựu Chánh Giác, chứng được Vô Sanh."

 Nuôi chí xuất gia
Tuy lúc đó hãy còn nhỏ tuổi, song đối với lời vị khách nói Ngọc Thư tỉnh ngộ, quyết chí xuất gia tu Đạo. Khi Ngọc Thư mang chuyện xuất gia thưa với thân mẫu, bà dạy: "Xuất gia là điều tốt lắm, song không phải là chuyện dễ làm. Cần có thiện căn, có đại nguyện lực, phát đại Bồ-đề tâm, thì mới có thể thành tựu Vô Thượng Đạo. Nay con có lòng vậy, ta hết sức đồng ý! Song, nay ta đã già, mà các anh chị con đều đã tự lập; vậy con nên ở lại để phụng dưỡng cha mẹ; khi ta mất rồi, con xuất gia tu hành cũng chưa muộn."

Ngọc Thư vâng lời cha mẹ. Sau đó, hằng ngày thường theo thân mẫu lạy Phật. Lạy Phật xong rồi lạy cha me. Rồi vì nhận thấy thế giới này còn lớn hơn cả cha mẹ, nên Ngọc Thư hướng về trời, đất, vua, sư trưởng mà lạy. Ngọc Thư lại nghĩ đến những người tốt trên thế giới mà lạy, thầm tạ ơn họ về các việc thiện họ đã làm. Nhận thấy những người ác thật đáng thương, Ngọc Thư lại vì họ mà lạy, mong sao nghiệp chướng của họ được giảm bớt và sớm biết hối cải. Mỗi ngày Ngọc Thư lại nghĩ thêm những người khác để lạy; nên về sau, bất kể thời tiết, mỗi ngày Ngọc Thư đều đặn lạy 837 lạy vào buổi sáng và 837 lạy vào buổi tối.

Ngày lại ngày, Ngọc Thư cung kính phụng dưỡng song thân như đối với đức Phật vậy. Chẳng bao lâu tiếng hiếu thảo đồn khắp bốn phương, và mọi người đều gọi Ngọc Thư là "Bạch Hiếu Tử" (người con chí hiếu họ Bạch).
  

 Xuất gia
Năm Ngọc Thư mười chín tuổi thì gặp phải tang thân mẫu. Sau khi chu toàn việc mai táng, Ngọc Thư đến chùa Tam Duyên lạy Lão Hòa thượng Thường Trí làm thầy, và xuống tóc xuất gia. Sau đó, Ngọc Thư về lại mộ phần thân mẫu thủ hiếu trong ba năm. Suốt thời gian ấy, Ngọc Thư sống trong một túp lều tranh nhỏ, ngày ngày tọa Thiền, đọc tụng kinh điển Đại thừa và niệm danh hiệu Phật A-di-đà. Rất nhiều lần Ngọc Thư ngồi Thiền rồi nhập Định, liên tiếp trong nhiều tuần lễ chẳng rời thiền sàng. Một đêm nọ, dân trong thôn gần đó hốt hoảng thấy túp lều tranh của Ngọc Thư hừng hực lửa đỏ. Ánh lửa hồng phừng thẳng lên giữa không trung và túp lều tranh thì sáng rực như ban ngày. Song khi tới nơi mọi người thấy túp lều tranh vẫn bình lặng và Ngọc Thư thì an nhiên, tĩnh mặc trong Thiền Định.

Có lần Ngọc Thư đang tọa Thiền thì chợt có vị khách đến viếng. Vị khách ấy, ngạc nhiên thay, chính là Lục Tổ Huệ Năng. Đức Tổ sư dạy Ngọc Thư rằng trong tương lai Ngọc Thư sẽ đến Hoa Kỳ để độ sinh, rằng ở Tây phương Ngọc Thư sẽ gặp nhiều kẻ hữu duyên có thể hoằng dương Phật Pháp và sẽ độ vô lượng vô biên chúng sanh. Mãi đến lúc Đức Tổ sư từ biệt quay đi rồi, Ngọc Thư mới choàng tỉnh, sực nhớ rằng Huệ Năng vốn là người đời nhà Đường, khoảng 1.200 năm về trước
   
Gặp Thiện Tri Thức
             
Hòa Thượng Tuyên Hóa (trái) và Hòa Thượng Hư Vân (phải)
  
Năm 1946, sau khi Thế chiến thứ hai kết thúc, tình trạng giao thông đã bắt đầu dễ dàng trở lại. Sư bèn tìm xuống phía Nam để đến chùa Nam Hoa ở Tào Khê, tỉnh Quảng Đông, đảnh lễ Lão Hòa thượng Hư Vân, và đến núi Phổ Đà để thọ Cụ Túc Giới. Cuối cùng, trải hơn 3.000 dặm, Sư đã được bái kiến Lão Hòa thượng Hư Vân, bậc Đại Thiện Tri Thức mà Sư bấy lâu ngưỡng mộ.

Vừa nhìn thấy Sư, Lão Hòa thượng, lúc ấy đã 109 tuổi, liền nhận ra ngay sự chứng ngộ của Sư. Lão Hòa thượng nói: "Như thị, như thị!" và Sư cũng đáp lại "Như thị, như thị!" Biết Sư là bậc "pháp khí", Lão Hòa thượng ấn chứng sở đắc của Sư, và Sư chính thức trở thành vị tổ thứ chín của Quy Ngưỡng tông. Sau đó, Lão Hòa thượng dạy Sư ở lại đảm nhận chức Viện trưởng Viện Giới luật của chùa Nam Hoa.
     
 
Sang Hương Cảng


Hoà Thượng Tuyên Hóa và Đức Đạt Lai Lạt Ma
      
 Năm 1949, Sư từ giã chùa Nam Hoa, lên đường sang Hương Cảng, và sống trong một sơn động biệt lập. Chẳng bao lâu, có vô số tăng lữ từ Trung Hoa Đại Lục qua Hương Cảng tị nạn và cần sự giúp đỡ của Sư. Ứng với nhân duyên, Sư rời sơn động, sáng lập Phật Giáo Giảng Đường, chùa Tây Lạc Viên và Từ Hưng Thiền Tự, cùng trợ giúp xây dựng và trùng tu nhiều đạo tràng khác. Trong suốt mười hai năm ở Hương Cảng, Sư là tấm gương sáng khổ hạnh, tinh tấn tu Đạo, vì Pháp quên mình. Sư đã có ảnh hưởng đến vô số thiện nam tín nữ, khiến họ phát tâm Bồ-đề, quy y Tam Bảo, ủng hộ Phật Pháp.
   
 
Sang Hoa Kỳ

Hòa Thượng Tuyên Hóa sang Hoa Kỳ

   
Hòa Thượng Tuyên Hóa vốn nuôi chí nguyện đem Chánh Pháp truyền bá đến khắp nơi trên toàn thế giới, nên năm 1961, Sư sang Úc Châu hoằng Pháp; và năm sau, 1962, Sư đến San Francisco, Hoa Kỳ. Tại đây, nơi một nhà kho nhỏ, Sư kiên trì tu hành trong im lặng, chờ đợi cơ duyên hoằng dương Đạo Pháp chín muồi. Lúc ấy, Sư tự gọi mình là "Mộ Trung Tăng" (nhà sư trong phần mộ) và "Hoạt Tử Nhân" (người đã chết nhưng còn sống).

 Hoằng Pháp tại Tây phương
Năm 1968, biết cơ duyên đã đến, Sư nói: "Một đóa hoa sẽ nở ra năm cánh." Mùa hè năm ấy, Sư chủ trì Pháp hội giảng Kinh Lăng Nghiêm trong 96 ngày. Khi Pháp hội kết thúc, quả nhiên có năm người Mỹ xin xuất gia với Sư. Từ đó, Sư chủ trì nhiều Pháp hội khác giảng giải Tâm Kinh, Kinh Địa Tạng, Kinh Pháp Hoa, Kinh Pháp Bảo Đàn, v.v. Năm 1971, Sư giảng bộ kinh tối cao của Đại Thừa, Kinh Hoa Nghiêm.
   

 Thành lập tăng đoàn tại Tây phương

  Hòa Thuợng Tuyên Hóa cùng đệ tử Nhất Tự Nhất Bái kinh Hoa Nghiêm trên đường hành hương
     
Vì số người phát tâm cầu xin xuất gia làm tăng ni ngày một tăng, trong năm 1972, Sư quyết định chính thức truyền tam đàn đại giới lần đầu tiên ở Mỹ, tại Kim Sơn Thiền Tự. Sư cung thỉnh chư cao tăng đại đức đăng đàn truyền giới. Năm nam và một nữ thọ giới tỳ kheo và tỳ kheo ny. Tiếp đến, tại Vạn Phật Thánh Thành, tổ chức Tam Đàn Đại Giới vào những năm 1976, 1982, 1989, 1991, 1992 và 1995. Hơn hai trăm giới tử với nhiều quốc tịch đã xuất gia, thọ giới dưới sự chỉ dạy của Sư.

Sư quyết tâm đem chánh pháp Phật giáo truyền bá sang Tây phương. Đồng thời, tuy khuyến khích các đệ tử tu học Phật pháp theo truyền thống của chư tổ sư, nhưng Sư cũng thường nhắc nhở họ nên chú ý dẹp bỏ tập tục mê tín dị đoan đang che lấp Phật Pháp chân chính, để tránh cho Phật giáo Tây phương khỏi bị ô nhiễm bởi những lề lối tu hành băng hoại hiện đang lan truyền trong Phật giáo của người Trung Hoa. Sư cũng khuyến khích họ nên hiểu những lý lẽ chánh đáng trong sự tu hành của người xưa.

Những cải cách của Sư gồm có: Phục hồi giới luật do đức Phật chế ra như tăng sĩ phải đắp y ca sa để biểu thị giới tướng; nhấn mạnh việc đức Phật dạy chư tăng ni thọ trai mỗi ngày một lần, không nên ăn sau giờ ngọ. Tự thân Sư thực hành và khuyến khích đệ tử tuân thủ các hạnh này. Sư lại khích lệ các đệ tử nên hành hạnh ngồi thiền mà không nằm vào ban đêm. Những ngày đầu tại chùa Thiên Hậu, tại khu "phố Tàu" của Cựu Kim Sơn (San Francisco), một số đệ tử xuất gia, vì muốn hành hạnh này, ra đường kiếm những thùng phuy bỏ rồi đem về sửa lại để làm chỗ ngồi vừa vặn, không duỗi chân ra trong lúc ngủ vào ban đêm. Sư cũng thường chỉ trích những người cư sĩ Trung Hoa, thường đi quy y hay làm đệ tử rất nhiều thầy. Riêng Sư không nhận những người đã từng quy y với các thầy khác làm đệ tử của mình.

Có vài người Mỹ bị Phật pháp và Sư thu hút vì thích những cảm ứng cùng thần thông biến hoá. Họ muốn tìm hiểu về những cảm ứng thần kỳ. Một số có thần thông cũng tự nhiên muốn gần gũi Sư. Nhận thấy rõ tầm nguy hiểm của sự mong cầu thần thông biến hóa, Sư thường nhấn mạnh rằng những thần thông cảm ứng phát xuất từ những cảnh giới của sự tu hành, nên chớ đắm trước. Sư nhắc nhở là đức Phật luôn ngăn cấm biểu diễn thần thông. Sư cũng nói rõ là thần thông không biểu hiện trí huệ và cũng không nhất định biểu thị phẩm hạnh đoan chánh.

Nói chung, Sư rất lo lắng về động cơ xuất gia của các đệ tử, nên thường xem xét coi tâm hạnh của họ có được thanh tịnh không. Sư không muốn thấy tăng sĩ ở Mỹ xuất gia vì những động cơ không chính đáng. Vì thế, Sư lập ra gia phong cho chúng đệ tử:

"Lạnh chết, không phan duyên
Đói chết, không hóa duyên
Nghèo chết, không cầu duyên
Tùy duyên không đổi, không đổi tùy duyên
Chúng ta quyết định thực hành ba tông chỉ này
Xả mạng vì Phật sự
Tạo mạng vì tăng sự
Chánh mạng vì bổn sự
Nơi sự hiểu lý, nơi lý hiểu sự
Luôn hành tổ sư nhất mạch tâm truyền."
Ngoài ra, Sư chế định tiêu chuẩn tu hành cho mình và cho chính các đệ tử xuất gia lẫn tại gia, theo sáu tông chỉ: Không tranh, không tham, không mong cầu, không ích kỷ, không tự lợi, không nói láo. Một trong những hành động khoáng đạt là Sư đã nỗ lực hàn gắn lại sự phân chia hơn hai ngàn năm, của hai truyền thống Phật giáo, Nam tông và Bắc tông. Sư thường cung thỉnh danh tăng Nam tông đến chùa truyền giới, cùng thương thảo và giải quyết những quan điểm dị đồng.
    

Vạn Phật Thánh Thành

   Hoà Thượng Tuyên Hóa trước thời gian nhập diệt ở Vạn Phật Thánh Thành
       

Song song với việc giảng Kinh thuyết Pháp, Sư còn làm vô số công đức độ sinh khác. Năm 1976, Sư thành lập Vạn Phật Thánh Thành, nền tảng căn cứ địa để hoằng dương Phật Pháp tại Hoa Kỳ. Tại Thánh Thành, Sư xây dựng chế độ tùng lâm, đào tạo tăng ni học chúng, tạo nhân duyên thù thắng cho sự chân chính tu hành. Sư chủ trương rằng tất cả Phật tử cần phải đoàn kết lại và nên dung hợp Nam, Bắc tông. Vì thế, nhiều dịp truyền thọ Tam Đàn Đại Giới tổ chức tại Vạn Phật Thánh Thành là do chư cao tăng Đại thừa và Tiểu thừa hợp lực chủ trì.
  

 Học viện Phiên dịch Kinh điển Quốc tế
Vào năm 1973, Sư chính thức thành lập Hội Phiên dịch Kinh điển (Buddhist Text Translation Society) tại đường Washington ở Cựu Kim Sơn. Đến năm 1977, viện lại được sát nhập vào trường Đại học Phật giáo Pháp giới, với danh xưng Học viện Phiên dịch Kinh điển Quốc tế. Vào năm 1990, Sư lại nới rộng và dời Viện về thành phố Burlingame ở phía nam của Cựu Kim Sơn. Khi Hội Phiên dịch Kinh sách được thành lập, Sư lập ra bốn ban để điều hành việc phiên dịch: (1) Ban Phiên dịch, (2) Ban Duyệt thảo, (3) Ban Nhuận sắc và (4) Ban Chứng minh. Bốn ban này cung ứng phương thức tuyệt hảo cho việc huấn luyện những người mới tham gia trong tiến trình phiên dịch. Quan trọng hơn nữa là khi người người đều tập lấy tâm Phật làm tâm mình đang khi phiên dịch và thể nhập vào những lời pháp ngữ của Sư, tâm trí họ được mở rộng và trưởng thành giúp tiến bước vững chắc trên đường tiến đến đạo Bồ Đề vô thượng.

Năm 1980, Sư thành lập Trung tâm Cứu Tế Nạn dân, một tổ chức cứu trợ xã hội bất vụ lợi được chính phủ Hoa Kỳ ủy quyền để cứu tế, cung cấp các lớp huấn nghệ và học Anh ngữ, đồng thời giúp tái định cư người tỵ nạn từ Việt Nam, Lào, Cambodia. Trung tâm này đóng cửa vào năm 1986 theo quyết định của chính phủ.
   

 Lục đại tông chỉ của Vạn Phật Thánh Thành
Bất cứ nơi nào Hòa Thượng đến hoằng truyền Phật Pháp, ngài luôn khuyên bảo mọi người theo sáu đại tông chỉ của Vạn Phật Thánh Thành là: không tranh, không tham, không mong cầu, không ích kỷ, không tự lợi, không nói dối.
    

 Đề xướng giáo dục
Để bổ khuyết vào nền giáo dục đang băng hoại tại Tây phương, Sư sáng lập trường Đại học Pháp giới, trường trung học Bồi Đức, tiểu học Dục Lương, và phát triển chương trình trợ cấp sinh viên học sinh nghèo khó.

Đối với Sư, giáo dục thanh thiếu niên là nền tảng vững chắc, hay nhất của quốc phòng. Tại bậc tiểu học, Sư đề xướng đạo hiếu thuận. Bậc trung học, đề xướng trung thành ái quốc. Bậc đại học, sinh viên không những học các ngành chuyên môn mà còn phải có trách nhiệm chuyển hóa, phát triển, làm lợi ích cho thế nhân.

Sư quân bình nền giáo dục truyền thống và nền giáo dục hiện đại. Sư luôn đề xướng phương thức phát triển trí huệ sẵn có của mọi người, tức là dùng cách thức mới mẻ trong việc giáo dục. Cụ thể, Sư tự viết vài bài ca bằng tiếng Anh, rồi khuyến khích các đệ tủ dùng những phuơng pháp đó để giảng dạy Phật pháp.

Năm 1982, Sư thành lập chương trình huấn luyện tăng ni và cư sĩ với mục đích chủ yếu vào việc tu trì học tập Phật pháp trong khuôn viên tu viện, dựa trên nền tảng của giới định huệ. Chương trình huấn luyện tăng ni, chú trọng vào sự hành trì tông giáo, luật lệ sinh hoạt và quản lý tự viện. Xuyên qua các chương trình này, Sư đã huấn luyện được những nhân tài phục vụ cho Tổng hội và cho Phật giáo.

Do sự đề nghị của cựu quản trị viên thành phố Cựu Kim Sơn, Carol Ruth Silver, Sư thành lập trường tiểu học Dục Lương vào năm 1976. Để hỗ trợ việc bồi dưỡng mầm non thiện đức của trẻ em, trường tiểu học nhấn mạnh vào nền giáo dục có phẩm chất. Đề xướng chương trình song ngữ, tiếng Anh và tiếng Hoa, và dạy về căn bản văn hóa của Đông phương cùng Tây phương. Cô Terri Nicholson và các thầy cô giáo khác giảng dạy những lớp học đầu tiên bên dưới hầm nhà của Viện Phiên dịch Quốc tế. Trường học được dời về Vạn Phật Thánh Thành vào năm 1978. Trường trung học Bồi Đức được khai giảng vào năm 1980. Học sinh nam và học sinh nữ được học hành riêng biệt vào năm 1981.
   

Không phân biệt tôn giáo
Sư thường nhấn mạnh rằng giáo lý Phật giáo là dùng để giáo hóa chúng sanh. Sư cũng phê bình sự phân chia trong Phật giáo, vì đó là điềm báo hiệu thời mạt pháp. Thêm nữa, Sư nhắc nhở mọi người đừng nên quá chấp trước vào sự phân biệt giữa tôn giáo, mạch phái. Sư chủ trương các tôn giáo phải hỗ tương, học hỏi những điều hay lẽ phải và bổ khuyết lẫn nhau. Để thực hành thiết thực, Sư mời hồng y Thiên Chúa giáo Vu Bình tại Đài Loan đến Vạn Phật Thánh Thành, thành lập và làm chủ nhiệm trung tâm nghiên cứu tôn giáo thế giới. Sư đề nghị rằng Hồng y Vu Bình sẽ là người Phật tử giữa những người Thiên Chúa giáo, còn Sư sẽ là người Thiên Chúa giáo giữa những Phật tử. Chẳng may, Hồng y Vu Bình qua đời đột ngột, làm đình chỉ việc thành lập trung tâm đó. Sau này, vào năm 1994, Viện Nghiên cứu Tôn giáo Thế giới được thành lập tại Berkeley.

Năm 1987, Sư chỉ đạo trường Đại học Pháp giới tổ chức hội thảo tôn giáo quốc tế tại Vạn Phật Thánh Thành. Trong năm 1987, Sư cũng diễn giảng tại khóa hội thảo Phật giáo-Cơ Đốc giáo Quốc tế lần thứ ba tại Berkeley. Có lần, Sư được thỉnh mời đọc bài điếu văn tại giáo đường Từ Ân (Grace Cathedral) ở Cựu Kim Sơn.

Năm 1989, Sư được hội Quaker thỉnh mời đến Pendle Hill, Pennsylvania để thuyết pháp định kỳ tại trung tâm tu học đó. Năm 1992, Sư là quý khách chủ trì pháp hội hằng năm của nhóm Vedata Society. Đáng kể thêm là tình đạo chân thành giữa Sư và Cha John Rogers, giáo sĩ trường Đại học Humbolt, rất mật thiết.

Vì Pháp quên mình
Với tinh thần "Vì Pháp quên mình," Hòa Thượng không quản khó nhọc, thường xuyên đến các đạo tràng trong và ngoài nước để hoằng dương Phật Pháp. Sư được mọi giới kính ngưỡng vì nếp sống khổ hạnh và nghiêm trì giới luật của Sư. Trong thời Mạt Pháp mà nhiều người không tôn trọng giới luật này, Sư đã nêu gương sáng và khuyến khích nếp sống khổ hạnh bằng cách chỉ ăn mỗi ngày một bữa vào giờ ngọ và ban đêm thì ngủ ngồi chứ không nằm.

Bình sanh, Sư sống nhẫn nhục, khoan dung, nhịn ăn nhiều lần để hồi hướng công đức cho chúng sanh. Cuộc khủng hoảng hỏa tiễn ở Cuba vào năm 1962 đã xảy ra không bao lâu sau khi Sư đến Hoa Kỳ. Sư đã tuyệt thực năm tuần để hồi hướng cho nền hòa bình thế giới. Vào dịp du hành Đài Loan năm 1989, Sư đã nhịn ăn ba tuần lễ để hồi hướng cho dân chúng Đài Loan. Sau đó, Sư lại đi hoằng Pháp tại nhiều nước châu Âu.

Mặc dầu tuổi đã cao nhưng Sư vẫn không muốn nghỉ ngơi tịnh dưỡng. Suốt ba mươi năm liên tục, Sư đã đăng đàn thuyết Pháp và giảng luận kinh điển Phật giáo. Chính trong lúc đang bệnh, Sư vẫn kiên trì tiếp tục đại nguyện diễn dịch kinh điển Phật giáo.

 Niết Bàn

Xá Lợi của Thánh Tăng Hòa Thượng Tuyên Hóa

    
Ngày 7 tháng 6 năm 1995, Hòa Thượng Tuyên Hóa thị hiện viên tịch tại Los Angeles, Hoa Kỳ; trao lại cho các đệ tử ba trách nhiệm quan yếu: (1) tiếp tục hoằng dương Phật Pháp, (2) phiên dịch kinh điển Phật giáo và (3) hoàn mãn sự nghiệp giáo dục. Vâng theo di huấn của Sư, tứ chúng đệ tử tại các đạo tràng thuc Tổng hội Phật giáo Pháp giới đều chuyên tâm trì tụng Kinh Hoa Nghiêm và niệm Phật suốt 49 ngày kể từ hôm Sư viên tịch. Ngày 12 tháng 6, 1995, lễ nhập quan được cử hành tại Long Beach Thánh Tự; và đến ngày 16 tháng 6, kim quan của Sư được cung thỉnh về Vạn Phật Thành. Tại đây lễ truy ân được tổ chức từ ngày 26 đến ngày 28 tháng 7, tro cốt của Sư được rải trên địa phận của Vạn Phật Thánh Thành đúng như lời di giáo của Sư:

"Khi tôi đến, tôi không có gì cả; khi tôi đi, tôi vẫn không có gì cả. Tôi không muốn để lại dấu vết gì trên thế gian. Tôi từ hư không đến. Tôi sẽ trở về hư không!"
Dù cho Sư không muốn để lại một dấu vết nào trên thế gian này, nhưng công đức hoằng Pháp tại Tây phương, phiên dịch kinh điển, thiết lập đạo tràng và học đường của Sư đã gieo hạt giống Bồ Đề và đã gây được ảnh hưởng sâu rộng đến các từng lớp dân chúng Tây phương.

Ngày 23 tháng 6 năm 1996, đúng một năm sau ngày Hòa Thượng Tuyên Hóa nhập Niết Bàn, Tổng hội Phật giáo Pháp giới long trọng tổ chức lễ cung thỉnh xá lợi về các đạo tràng. Một trong những lời di huấn của Sư là: "Hãy quét sạch tất cả các Pháp, ly khai tất cả các tướng!"
   

 Di sản
Suốt cuộc đời, Sư luôn khiêm cung, vô ngã và tận tụy rãi lòng đại bi đến tất cả chúng sanh. Sư hành đạo không nghỉ ngơi, chỉ muốn dẹp trừ màng vô minh, mê si đang che lấp bản tánh chân thật của chúng sanh. Sư luôn hành đạo vì hòa bình nhân loại, tôn giáo, quốc gia, thế giới. Mặc dầu chú trọng vào việc phát triển Tổng hội Phật giáo Pháp giới, sự cống hiến và công đức truyền bá Phật giáo qua Tây phương của Sư được tóm tắt như sau:

Phật giáo đã có mặt ở Trung Hoa trước khi Bồ-đề-đạt-ma, tổ sư Thiền tông, từ Ấn Độ sang. Tuy nhiên, hầu hết mọi người đều mê mờ về giáo nghĩa chân chánh của Phật pháp, không thể phân biệt gì là chân thật hay giả dối, gì là hời hợt hay thâm sâu. Tổ Bồ-đề-đạt-ma thắp lên ngọn đuốc trí huệ, làm sáng tỏ chân nghĩa của Phật pháp, bằng cách dạy họ tự mình rõ tâm thấy tánh (minh tâm kiến tánh), chứng được quả vị Bồ-đề. Hòa thượng Tuyên Hóa qua Tây phương sau khi Phật giáo được truyền sang đây khoảng một trăm năm. Lúc đó, có rất nhiều người thích nghiên cứu học hỏi Phật pháp, nhưng cũng rất mù mờ với những hiểu biết sai lầm. Vì vậy, nhận thấy rằng chỉ khi nào tăng đoàn Phật giáo được thanh tịnh và vững mạnh thì Phật giáo tại quốc gia đó mới được hưng thịnh, nên Sư trùng hưng cải cách chế độ của tăng đoàn, chú trọng việc giữ gìn giới luật tinh nghiêm của hai chúng đệ tử xuất gia và tại gia. Nhận biết bản tánh người Mỹ rất thích thực tế, và nhờ tiếp thừa tinh thần của tổ Bồ-đề-đạt-ma, Sư đề xướng thực hành thiền định tinh tấn, để họ có thể trực tiếp tự chứng ngộ giáo nghĩa chân chánh của Phật giáo. Vì có một số người nhận thức sai lầm về Phật giáo, Sư giảng giải kinh điển Phật giáo bằng phương pháp đơn giản dễ hiểu, và chỉ rõ sự liên hệ mật thiết giữa chân nghĩa kinh điển cùng việc tu tập thực hành trong đời sống hằng ngày. Sau đó, lại phiên dịch những lời chú giải ra Anh ngữ để giúp các độc giả Tây phương tiện việc nghiên cứu học hỏi. Cuối cùng, Sư quyết định chọn lựa Tây phương là nơi thực hành giáo hóa, tức dùng sự hành trì chân thật của mình mà hóa độ họ trong đời sống hằng ngày, hầu chỉ rõ chân nghĩa Phật giáo. Nhờ phương thức này, vô số người Tây phương vô cùng cảm động tri ân và thực hành theo những điều Sư đã giảng dạy.
    

Tham khảo:
Trang Chùa Vạn Phật của Vạn Phật Thánh Thành
Các bài giảng của Hòa thượng Tuyên Hóa
Dharma Realm Buddhist Association
Trang Tổng Hội Phật Giáo Pháp Giới - Vạn Phật Thánh Thành bằng Hoa ngữ
Venerable Master Hsuan Hua: His Life - His Legacy
Dharma Site - Trang song ngữ Anh Việt
Hoà Thượng Tuyên Hóa Cống Hiến Đời Mình Hoằng Dương Phật Pháp
Hoà Thượng Tuyên Hóa Hoằng Truyền Phật Pháp Sang Tây Phương
Một số bài bằng Anh ngữ và Hoa ngữ về Kinh Lăng Nghiêm
Khai Thị Vể Kinh và Chú Lăng Nghiêm
Wikiedia tiếng Anh: Shurangama Sutra


     ____________
     
    Mời xem tiếp :
 
Phần 2: Tiểu Sử và xuất xứ của người sáng lập nên 3 bộ quyền thuật- khí công: Lục Tự Quyền, Bát Linh Công và Càn Khôn Thập Linh
Phần 3: Trình bày 3 bộ quyền thuật này bằng hình ảnh và Video
Phần 4: Ứng dụng 3 bộ quyền thuật vào Y tế, phòng chống bệnh tật và điều trị bệnh nan y
Phần 5: Phần Phụ Lục Luận Bàn

CỔ TÍCH SIÊU HIỆN ĐẠI - THẠCH SANH.(.ặc ặc..ặc..)

thuannghia | 21 February, 2010 17:04

THẠCH SANH



....Thạch bà sinh một con trai khôi ngô tuấn tú đặt tên là Thạch Sanh
________________________________
 

Xưa ở quận Cao Bình có gia đình bác tiều phu Thạch Nghĩa, vợ chồng tuổi cao mà vẫn không con. Ông bà lo buồn và ra sức làm việc nghĩa. Ông thì sửa cầu, sửa cống, khơi rãnh, đắp đường. Bà thì nấu nước cho người qua đường uống. Việc làm của gia đình họ Thạch thấu đến trời, Ngọc Hoàng cho Thái tử đầu thai xuống trần làm con nhà họ Thạch. Thạch bà thụ thai ba năm, chưa sinh con thì Thạch ông mất. Sau đó, Thạch bà sinh một con trai khôi ngô tuấn tú đặt tên là Thạch Sanh.  
    
    
_________
   

    
   
   ...   với một mảnh khố che thân và một cái búa đốn củi.
____________
  
   
Thạch Sanh sống côi cút một mình trong túp lều tranh dưới gốc đa 
____________
  
....Cách ít năm sau, Thạch bà cũng mất, Thạch Sanh sống côi cút một mình trong túp lều tranh dưới gốc đa với một mảnh khố che thân và một cái búa đốn củi
.
    
    
    
   
    _____________________________________________
   
  
  

Năm Thạch Sanh mười ba tuổi, Ngọc Hoàng sai tiên ông xuống dạy cho chàng các môn võ nghệ và mọi phép thần thông.
  
   
 
      Ngoài thập bát môn võ nghệ....
_______
        
     
    
 
        
....Ngọc Hoàng còn cho người truyền dạy 72 tuyệt kỹ lướt mạng..
_____
     
   
   
 
   

  
....và 36 chiêu cua gái cho Thạch sanh
    ___________
   
   

   108 cách ăn...
_____

       
  
  

   và 365 cách uống..
   ________
  

ngoài ra còn dạy dỗ phương cách hoạt động chính trị...
   
  ___________________
   

    
 .... tập làm chính khách
    _____________
        
  
    cũng như điều khiển các phương tiện giao thông
  __________
        

   nói tóm lại là đào tạo Thạch Sanh không những liều lĩnh như côn đồ..
     _______
  
  
mà còn là tinh nhạy hoàn hảo như điệp viên 007. 
    

     
    ____________________
    


Một hôm có anh hàng rượu tên là Lý Thông, đi bán rượu ghé vào gốc đa nghỉ chân, thấy Thạch Sanh khỏe mạnh, lanh lợi, ở một mình, bèn kết làm anh em và đưa Thạch Sanh về nhà.
______
         
    

Bấy giờ ở trong vùng có một con Trăn Tinh thường bắt người ăn thịt, quan quân nhiều lần vây đánh không được. Vì nó có phép thần thông biến hóa; nhà vua phải cho lập miếu thờ và mỗi năm nộp một mạng người cho nó. 
_______
    
 
.....Thạch Sanh vui vẻ nhận lời và đi ngay.
________________________
 
   
đến lượt Lý Thông phải nộp mình. Mẹ con Lý Thông nghe tin hoảng hốt, bàn mưu tính kế đưa Thạch Sanh đi thế mạng. Khi Thạch Sanh đi lấy củi về, Lý Thông đon đả mời chàng uống rượu và nói: "Ðêm nay anh phải đi canh miếu thờ trong rừng, nhưng trót cất mẻ rượu, anh đi sợ hỏng, nhờ em thay anh canh miếu một đêm". Thạch Sanh vui vẻ nhận lời và đi ngay.
   
   
    


Nửa đêm Trăn Tinh hiện về, giơ vuốt, nhe răng hà hơi, nhả lửa, định xông vào miếu ăn thịt Thạch Sanh. 
   _______________________________
 
   
    
  
Thạch Sanh bình tĩnh trổ tài đánh nhau với Trăn Tinh
_____________________________
   
Thạch Sanh bình tĩnh trổ tài đánh nhau với Trăn Tinh, cuối cùng chàng chém được đầu nó, đốt xác nó thành than, và thấy hiện lên trong miếu một bộ cung tên bằng vàng ngời sáng. Thạch Sanh mừng rỡ giắt búa, đeo cung và xách đầu Trăn Tinh chạy thẳng một mạch về nhà. 
   

    


    xách đầu Trăn Tinh chạy thẳng một mạch về nhà....
___________________________
   
Nghe tiếng Thạch Sanh gọi, mẹ con Lý Thông hoảng sợ, cho là oan hồn của Thạch Sanh sau khi bị Trăn Tinh ăn thịt, trở về nhà oán trách - bèn cất lời cầu khấn, van xin: "Sống khôn, thác thiêng em hãy tạm đi, ngày mai mẹ cùng anh sẽ mua sắm vàng hương, cơm canh, cỗ bàn cúng em chu tất!".
   

        ______________________________
      


   nhưng chàng không giận, vẫn vui vẻ kể chuyện giết Trăn Tinh cho mẹ con họ Lý nghe
______________________
  

Bấy giờ, Thạch Sanh mới biết rõ tâm địa và mưu kế của mẹ con Lý Thông nhưng chàng không giận, vẫn vui vẻ kể chuyện giết Trăn Tinh cho mẹ con họ Lý nghe. Lý Thông liền nảy ra một mưu thâm độc mới. Nó nói Trăn Tinh là báu vật nhà vua nuôi, ai giết sẽ bị tội lớn. Thạch Sanh lo sợ, Lý Thông bảo Thạch Sanh trốn đi cho an toàn, một mình y sẽ tự lo liệu thu xếp giúp cho.

       ______________________________
  
    
  
   

Sau khi Thạch Sanh từ giã mẹ con Lý Thông trở về gốc đa xưa,
     
   
   
    
  
.....phong cho Lý Thông làm Ðô đốc quận công.
__________________________
 

Lý Thông đi ngay về Kinh, tâu vua là đã trừ được Trăn Tinh. Nhà vua vui mừng trọng thưởng và phong cho Lý Thông làm Ðô đốc quận công.
   
    
  
   Hội kén chồng kéo dài hàng tháng nhưng công chúa không chọn được ai vừa ý đẹp lòng
________
     
Tiếp đó, nhà vua mở hội kén chồng cho con gái là công chúa Quỳnh Nga. Hội kén chồng kéo dài hàng tháng nhưng công chúa không chọn được ai vừa ý đẹp lòng. Một hôm công chúa đang dạo chơi vườn đào thì một con chim đại bàng khổng lồ khác sà xuống cắp đi.
 
         
    
   
 

   ...Thạch Sanh dương cung bắn
______
 Thấy chim cắp người bay qua Thạch Sanh dương cung bắn   đại bàng bị trúng tên vào cánh trái, nó dùng mỏ ngậm tên rút ra rồi bay tiếp về hang ổ. Thạch Sanh lần theo vết máu tìm đến cửa hang đại bàng, chàng đánh dấu cửa hang ác điểu rồi trở lại gốc đa.
     
    
 

Thạch Sanh đến thăm và kể cho Lý Thông nghe việc bắn chim đại bàng....
 ____
   
Nhà vua sai Lý Thông đi tìm công chúa, tìm được thì sẽ được lấy công chúa, làm phò mã, nối ngôi vua, không tìm được phải chịu tội. Lý Thông vừa mừng, vừa lo, y lập kế mở hội hát xướng mười ngày để nghe ngóng dò la tin tức. Ðến ngày thứ mười, biết tin Lý Thông mở hội, Thạch Sanh đến thăm và kể cho Lý Thông nghe việc bắn chim đại bàng, Lý Thông mừng vui khôn xiết, hậu đãi Thạch Sanh và nhờ chàng dẫn đường đến hang Ðại bàng cứu công chúa.
   

    


  
Không thấy Thạch Sanh trở về, công chúa buồn thương rầu rĩ và bặt câm, không hé môi nói nửa lời
____
Thạch Sanh dùng thang dây xuống hang gặp công chúa và đưa thuốc mê cho đại bàng uống. Công chúa hẹn ước kết duyên cùng Thạch Sanh rồi Thạch Sanh buộc dây đưa nàng lên mặt đất. Lý Thông sai quân lính đưa công chúa lên kiệu rước về cung, còn y nói dối là ở lại đánh nhau với quái vật. Sau đó, Lý Thông dùng đá lấp kín cửa hang và trở về triều đình mạo nhận công trạng. Không thấy Thạch Sanh trở về, công chúa buồn thương rầu rĩ và bặt câm, không hé môi nói nửa lời. Nhà vua buồn bã, Lý Thông cầu đảo thuốc thang khắp nơi đều vô hiệu, việc tổ chức cưới xin phải đình hoãn.

        
    
     
    
    
    và gặp Thái tử con vua Thủy Tề đang bị yêu quái nhốt trong cũi sắt
_____
   
Hết liều thuốc mê, đại bàng tỉnh dậy hóa phép thần thông hãm hại Thạch Sanh, chàng dũng sĩ "mặt đỏ mày xanh", đã dám cả gan "phá nhà, cướp vợ" của nó. Thạch Sanh dùng tài võ nghệ và phép thần thông của mình tiêu diệt được đại bàng. Nhìn lên cửa hang kín bưng không còn một khe hở nhỏ, Thạch Sanh dạo khắp hang động của đại bàng và gặp Thái tử con vua Thủy Tề đang bị yêu quái nhốt trong cũi sắt. Thạch Sanh phá tan cũi sắt giải thoát cho Thái tử. Thái tử mời Thạch Sanh về Thủy Tề gặp vua cha.
   

  
Vua Thủy Tề tặng Thạch Sanh một cây đàn thần
______
  

Vua Thủy Tề cảm ơn và hậu đãi chàng. Trong thời gian lưu lại thủy cung, một hôm Thạch Sanh đang cùng Thái tử dạo chơi thì một con Hồ Tinh xuất hiện, biến thành một cô gái xinh đẹp để cám dỗ, mê hoặc hại chàng. Thạch Sanh bắt nó phải hiện nguyên hình là một con cáo chín đuôi và hóa phép giam nó lại. Vua Thủy Tề mời Thạch Sanh ở lại thủy cung và sẽ phong chức tước cho chàng, nhưng Thạch Sanh từ chối. Vua Thủy Tề tặng Thạch Sanh một cây đàn thần và sai sứ giả rẽ nước đưa chàng trở lại trần gian. 
    
      
   

Quân lính nhà vua bắt Thạch Sanh tống ngục
_________
Thạch Sanh lại về với gốc đa xưa. Vắng bóng Thạch Sanh cây đa buồn ủ ê, khi Thạch Sanh trở về cây đa lại xanh tươi như cũ. Hồn hai con quái vật bị Thạch Sanh giết (Trăn Tinh và Ðại Bàng) gặp nhau tìm cách hãm hại Thạch Sanh. Chúng vào kho châu báu của nhà vua lấy cắp vàng bạc ném vào gốc đa nơi Thạch Sanh ở. Quân lính nhà vua bắt Thạch Sanh tống ngục, nhà vua giao cho Lý Thông xử tội. Lý Thông khép Thạch Sanh vào tội tử hình để bịt đầu mối. Trong lúc bị giam trong ngục, chờ hành hình, Thạch Sanh đem đàn ra gảy. 

       
   

Đàn kêu tích tịch tình tang...
_______
   

Cây đàn thần vang lên tiếng tơ, tiếng trúc, cung thảm, cung sầu; cung thì kể tội Lý Thông vong ân, bạc nghĩa, cướp công Thạch Sanh; cung thì trách nàng công chúa sai lời hẹn ước dưới hang... Nghe tiếng đàn, công chúa bừng tỉnh dậy, cười cười, nói nói. Nhà vua vui mừng nghe công chúa nói rõ ngọn ngành. Lập tức nhà vua hạ lệnh tha cho Thạch Sanh và bắt Lý Thông tống ngục. Tiếp đó, vua làm lễ thành hôn cho Thạch Sanh cùng công chúa và truyền ngôi cho Thạch Sanh. Vua giao toàn quyền cho Thạch Sanh xử tội Lý Thông. Thạch Sanh tha tội cho Lý Thông, cho mẹ con họ Lý về quê quán làm ăn. Nhưng về giữa đường, trời nổi giông gió, mẹ con Lý Thông bạc ác bị sét đánh chết, Lý Thông hóa thành con bọ hung suốt đời chui rúc nơi bẩn thỉu.
    
         
      

 
Chàng có niêu cơm thần nhỏ bé nhưng xới bao nhiêu bát, cơm vẫn đầy lên như cũ
________
   
Biết tin Thạch Sanh kết duyên với công chúa Quỳnh Nga và lên ngôi trị vì thiên hạ, các hoàng tử, công hầu của mười tám nước chư hầu, những người đã từng kéo đến cầu hôn công chúa không được, vô cùng ghen tức, họ kéo quân đến gây sự với Thạch Sanh và công chúa. Thạch Sanh cùng công chúa ra tiếp đãi họ một cách tử tế. Tiếng đàn thần của Thạch Sanh phân rõ lẽ thiệt hơn, phải trái, làm cho quân sĩ các nước chư hầu mềm lòng, nản chí. Kẻ nhớ mẹ nhớ cha, người thương con nhớ vợ, ai cũng muốn về và ngại việc binh đao, cuối cùng các nước chư hầu đều thuận lui binh. Thạch Sanh mời họ ăn cơm. Chàng có niêu cơm thần nhỏ bé nhưng xới bao nhiêu bát, cơm vẫn đầy lên như cũ, khiến cho các nước chư hầu càng thêm kính phục.
  

   
khiến cho các nước chư hầu càng thêm kính phục.

   
hết
_____
Thực hiện Đồ Gàn

NGỬA NGÁP NGÀY CỔ TÍCH (thơ)

thuannghia | 20 February, 2010 02:35

Lá nhú lá xanh rồi bao lần lá úa
Cây anh trồng trái rụng  kiệt mùa em
Cái túi ba gang may từ hồi biết đợi
Cánh phượng hoàng vẫn mờ mịt trời đêm
Không có chim thiêng bay tìm hoang đảo
Đánh đổi trái hờ cho đủ túi ba gang
Đành ngửa gốc già nằm chờ ngáp dại
Hứng trái sung ung chín bói chiều tàn
.
Cứ ngẩn ngơ mơ một lần gặp Bụt
Trăm đốt đời "khắc nhập" để gặp nhau
Nhầm câu thần chú rạn mấy mùa "khắc xuất"
Lạc nửa câu chào hun hút tới bạc đầu
Gắng hết sức mình bao ngày nắm gió
Ở giữa muôn trùng thòng chữ vít đuôi trâu
Nhộn ước rằng em như sầu đâu trước ngõ
Để bữa tàn đông anh nhuộm trắng một màu
.
Nỏ phải mô em, đừng ngồi bè chẻ tóc
Cho sợi buồn rối lọn những lăn tăn
Mắc mớ chi anh phải chiềng làng chiềng chạ
Gõ mõ rung chiêng canh điểm nốt muộn mằn
Đã đủ quá rồi ngày xiết ngày lã chã
Rệu vác ngà voi đâu lọ mọ đa mang
Hơi hụt tù và vì thương Đình hàng tổng
Có nắm xôi thiu cũng quá đủ mỡ màng
.
Khi lỡ ngồi buồn lêu nghêu ngóng thị
Chỉ vì cô Tấm chẳng bước ra đời
Đâu phải cau non mà têm trầu mộng mị
Bống bống bang bang cúi giếng gọi tà lơi
Xương trắng có chôn thành lụa là phướn lượn
Cũng chẳng nên anh kiệu thắm ướm hài thêu
Phách sanh ngồn ngộn giọng hề giọng hưỡn
Bởi ngán ngao mình cuối bãi mãi lêu bêu
.
Gỗ lim trả người quạt mo lấy lại
Tựa gốc ta bà ngồi đếm lá đa chơi
Rồi bữa em về xõa rằm ngai ngái
Anh tìm lối ngự vắt sáo vọng thiên thai
Nếu có ai ngang, buồn mồm muốn hỏi
Phành phạch mo cau
Anh quạt gió
Mỉm cười
.
Phành phạch mo cau
Anh mời tiệc 
Nhậu mây trời...
    
    
19.02.10
thuận nghĩa

BÁO CÁO EM.....Tùy "Tiện" Bút

thuannghia | 16 February, 2010 17:03

 
                                                                  Entry tặng anh Thanh- Vietshare 
      
  
(ngoài tính kiên trì, làm tranh dán giấy phải có thêm đức tính ăn ở luộm thuộm dơ dáy và đức chịu đựng sự nguyền rũa chủi bới của người nhà vì bê bối nữa, mới  có thể yên tâm mà làm tranh được..Giới mê tranh Collage có một câu thành ngữ:  "vô luộm thuộm bất thành tranh xé dán"... he..he...) 

Em nói yêu ta: có dại không?

Chẳng có gì đâu: mớ đèo bồng

Vài ba bao rách chồng báo cũ

Một góc phòng hoang mãi long đong

     
.
(đi đâu thấy họa báo có màu đẹp thì xé và phân loại vào từng bao làm vốn)


Em nói thương ta: có dại không?

Chẳng gì có đâu: chút lòng thòng

Một ô cửa lạnh chăn chiếu lạnh

Một ấm trà suông "cười"  gió đông

    
.
(Độc Ẩm: Tranh xé dán đang hoàn thiện)

Em nói trọng ta: có thật không

Xé trang giấy vụn ấy lãi ròng

Vài ba tranh cũ chưa kịp bán

Mấy vệt màu loang mòn mỏi trong


.
(đồng cỏ mênh mông với chân trời tít tắp và đàn ngựa đang tung hoành trên thảm hoa dại là bức tranh đang làm)

 
Em nói thích ta: có thật không?

Đời quay như dế tít mòng mòng

Còn ta bảnh choẹ ngồi xé dán

Đói thối mồm vẫn nhỡn nhơ rong

  
.
(tìm màu cỏ trong họa báo dán bức Thảo Nguyên)

  
Em nói mến ta: có đúng không?

Vẫn đây ngơ ngẫn với cánh đồng

Mãi miết tìm màu cho cỏ dại

Chẳng đoái hoài em cứ ngóng trong
     
.
(Ô Cửa: Tranh xé dán- TN)

 
Em nói khoái ta: có mãi không?

Gối mõi, chân run lưng đã còng

Vẫn mơ vẫn mộng miền cổ tích

"thảo dã" ..."giang hồ" còn lông ngông

    
.
(Thụy Bây Giờ Về Đâu: Tranh xé dán-TN)

 
Em nói cùng ta: thiệt thòi không?

Mắt luôn ngóng đến cõi vô cùng

Hư hư ảo ảo đâu thiết thực

Sớm tối chiều hôm giữa mông lung
  

.
(muốn xé cho giống, đôi khi phải cần đến mẫu thật)

  
Ta nghĩ rằng ta rất ẩm ương

Ngớ ngẩn ngu ngơ giữa vô thường

Hư xé mà thực rồi cũng xé

Mai thỏng bàn tay với gió buông....
  
   _________
   
(hôm trước anh Thanh có hỏi mần tranh dán giấy như răng để anh mần theo, nỏ biết anh hỏi thiệt hay là hỏi chơi, nên chưa trả lời, nhân tiện đầu xuân, em mần cái entry ni tặng anh. Và qua anh, xin gửi đến bà con Vietshare.com lời CUNG CHÚC TÂN XUÂN từ Lâm Yên Như)
    

    
16.02.10
thuận nghĩa

1 2 3 ... 40 41 42  Sau»
Powered by vnWeblogs - Accessible and Valid XHTML 1.0 Strict and CSS