Admin

THẾ ĐÓ

thuannghia | 26 January, 2012 16:18

Nếu người ta không lấy dao động ánh sáng để định nghĩa về màu sắc, thì làm sao lý giải được chính xác màu Đỏ khác với màu Xanh ở chỗ nào, mặc dầu trong thực tế của mắt, màu Đỏ với màu Xanh rất khác.

Và em cũng biết, chẳng có ai nói, màu Vàng đẹp hơn màu Cam, khi những thứ màu đó chưa hiển thị lên một thứ gì đó thích hợp, để cá tính của từng người tùy sở thích mà phân biệt.

Màu Đen hay màu Trắng, màu nhợt hay màu biếc, cũng chỉ là những thứ màu, đơn giản vậy thôi. Người ta chỉ thấy nó đẹp, khi những thứ màu này, đứng bên những thứ màu khác, hiển thị lên một thứ gì đó, hài hòa và hợp nhãn

Em có thể nói, nốt Đô hay hơn nốt La được chăng?, hoặc nói, nốt Xon dở hơn nốt Rê, khi những nốt đó không nằm trong một khung nhạc.

Và chắc em cũng không kinh ngạc, khi một người không hề biết một nốt nhạc, mà họ vẫn rất thích nghe hát và rất thích hát.

Vậy thì cớ vì sao em lại muốn biết, anh thích em ở chỗ nào?, yêu em ra sao?. Và đương nhiên cũng đừng hỏi, vì cớ gì, anh lại không muốn cùng em ngắm một hoàng hôn vừa buông xuống.

Điều đó rất đơn giản. Đơn giản như anh chỉ thích màu khói lam chiều, và rất thích những câu hát có nốt Mi Giáng. Trong khi anh không hề biết màu Khói Lam Chiều và nốt nhạc Mi Giáng có tần số là bao nhiêu.

Vâng! anh không hề biết rõ

Là em.....

 Là anh...

Là yêu....

Là thế đó...

  

26.01.12

tn

 

TÌNH CA CỦA HẠT CÁT

thuannghia | 24 January, 2012 19:07

Phía trước của hạt cát là tảng đá
Có thể là tảng đá nằm trước con đường
Hoặc là tảng đá nằm sau chân núi
 
Phía sau của hạt cát là dòng sông
Có thể là dòng sông đã chết
Hoặc là dòng sông chưa ra đời
 
Phía trên của hạt cát là đám mây
Đám mây thênh thang
Đám mây nhầm tưởng mình là bầu trời
Đám mây  luôn tự hào về phía chiều vô tận
 
Phía dưới của hạt cát là cái giường
Cái giường hôm qua có một chỗ ấm
Chỗ ấm vừa kịp cởi truồng
Hôm nay chỗ ấm cũng đã đâm chồi
Và muốn nở ra một nụ hoa đào trong vườn chuối
 
Có lần hạt cát đi về phía ngọn núi
Ngọn núi chứa hết cả một vòm trời
Và hỏi
Làm thế nào để trở thành hạt cải
Núi trả lời
Không!
 
Từ đó hạt cát về bên một bờ sông
Và suốt đời kể chuyện những cơn giông.
 
24.01.12
tn

 

MỘT LỜI BIỆN LUẬN CHO THƠ (Bài Bình Luận Cực Hay)

thuannghia | 22 January, 2012 00:52

Bài viết của tác giả Marcel Reich Ranicki, nhà phê bình có ảnh hưởng nhất tới văn học đương đại Đức. Bản dịch tiếng Việt là của Trương Hồng Quang (Đức). Xin mời các bạn...(Nguồn cung cấp từ Bloger Trịnh Quốc Dũng: http://vn.360plus.yahoo.com/dungtq2412_ihere/article?mid=1255)

MỘT LỜI BIỆN LUẬN CHO THƠ

Xin cứ nói thẳng: Thơ ư, có thật cần không? Hàng triệu người sống không thơ mà có sao đâu. Họ chẳng biết gì đến thơ mà vẫn hoàn toàn hạnh phúc. Họ chẳng thấy thiếu gì hết và còn tránh được khối điều phiền toái. Bởi thơ là một thể loại văn chương vô cùng đáng ngờ - và có đủ lí do để nhắc nhở ta hãy coi chừng nó. Trong văn xuôi người ta đánh bài ngửa, còn trong thơ nhiều khi lại đánh lận con đen. Thơ vốn luôn là chốn dung thân của những kẻ chẳng có gì đáng nói song lại thích được người khác nghe, những kẻ chuộng hát bởi không biết nghĩ, những kẻ buộc phải gieo vần bởi viết là thứ rào cản mà họ không sao vượt nổi.

Cái không tiêu thụ nổi trong văn xuôi lại được nhiều tác giả bày bán xổi trong thơ và cũng tìm được khách mua. Điều quá rồ dại để có thể nói xuôi thì họ lại thích đem ra để ngâm nga. Phải chăng thi sĩ là những ca sĩ giọng nam cao trong giới cầm bút? Có một điều chắc chắn là âm giai êm ái của ngôn từ – hay ít ra là cái được cho là êm ái – có thể dễ dàng che đậy sự nghèo nàn của trí tuệ. Ai trịnh trọng ngâm và xướng, kẻ đó không cần sợ bị chất vấn về ý nghĩa và mức độ thông minh trong lời lẽ của mình.

Vâng, người ta yêu cảnh mờ tỏ và cái bí ẩn hơn là sự rõ ràng và tỉnh táo, tin vào bùa chú hơn vào phân tích. Những nhà tư tưởng ở đất nước này được đánh giá cao nhất khi họ làm thơ và những nhà thơ trước hết được ca ngợi khi họ không còn biết suy nghĩ. Việc lợi dụng hình thức thơ để lẩn tránh vào sự không rõ ràng và mơ hồ, để rút lui vào một tình trạng không thể kiểm soát và xa vời đến tận các huyền thoại về Đức Thánh mẫu đã và có lúc vẫn đang còn là một tai ương cố hữu trong nền văn học của chúng ta.

Và như vậy, ở Đức, thơ là chốn ẩn mình của những tác giả có tài và bất tài, song đều chung nhau ở một điểm là ít dính dáng đến trí tuệ. Và của một công chúng dễ dãi chấp thuận yêu cầu: đến đây để hát theo, chứ không phải đến đây để cùng suy ngẫm! Sở dĩ chúng ta, dân tộc của các thi sĩ và các nhà tư tưởng, lại có được cái quan niệm rằng người ta chỉ có thể hoặc là thi sĩ, hoặc là nhà tư tưởng chứ khó lòng là cả hai, là do ảnh hưởng của một nhân vật lớn, người đã gieo rắc biết bao tai hoạ bằng vô số ý kiến của mình về văn chương, đặc biệt là về thơ và phê bình. Tôi đang nói về Goethe.

Trong tác phẩm “Phương châm và suy ngẫm” ta thấy nhận định nguy hiểm sau đây: “Thông qua tư duy người ta đạt đến nghệ thuật và khoa học; với thi ca thì không như vậy, bởi thơ là ngẫu hứng…” (1) Xin đừng tưởng bở: Đây không phải là một sơ suất ngoại lệ. Đáng tiếc là Goethe vẫn thường nhắc đi nhắc lại những điều tương tự. Chẳng hạn trong khi trò chuyện với Eckermann ông đã tuyên bố không hề ngượng ngập như sau: “Một tác phẩm thi ca càng độc nhất vô nhị và khó nắm bắt đối với trí tuệ bao nhiêu thì lại càng hay bấy nhiêu” (2).

Suốt một thể kỉ ở nước Đức những câu văn như vậy đã được trích dẫn một cách sùng kính. Nối tiếp mạch của Goethe, người ta luôn biện hộ cho cảm hứng, dè bỉu lí trí và khẳng định một cách hoàn toàn nghiêm trang rằng làm thơ sẽ gây rối mạch tư duy, và tư duy về phần nó cũng sẽ làm tổn hại nghệ thuật thi ca yêu kiều. Cơ sở cho thái độ này có lẽ là đức tin về sức mạnh giải thoát của thi ca.

Thế nhưng thi ca nào đã giải thoát được ai. Nó cũng ít phù hợp với mục tiêu sư phạm. Ai muốn khai sáng hay truyền thụ cho người cùng thời thì nên viết một bài báo hay một luận văn, thay cho việc viết một khúc tụng ca. Xin nói thêm ngay: còn ai cho rằng những vần thơ có thể tác động vào tiến trình của lịch sử, người đó theo đuổi những ảo tưởng thật ấu trĩ. Không, nhà thơ không thể nào thay đổi được thế giới. Người vẫn thường nói không mệt mỏi về điều này, Bertolt Brecht, chí ít còn có thể tự khen rằng những bài ca công nhân của mình do Hans Eisler phổ nhạc đã được lưu truyền rộng rãi vào những năm cuối của chế độ Cộng hoà Weimar. Tuy nhiên “Bài ca về tình đoàn kết” chẳng hề xây dựng nổi tình đoàn kết của giới thợ thuyền, và “Bài ca về Mặt trận thống nhất” cũng không gây được ảnh hưởng nào đến Mặt trận thống nhất, cũng như những khúc hát trong “Vở Opera ba xu” chẳng thể cải tạo được giới công chúng sân khấu tư sản Berlin.

Vậy sẽ ra sao nếu nhà thơ được trao cho mình quyền lực để thay đổi thế giới? Liệu đây có thực là điều đáng mong muốn? Đã có quá nhiều lần họ phục vụ cho bạo quyền, qua bao thế kỉ họ đã truyền tụng quá nhiều điều điên rồ dưới lớp vỏ bọc không ít khi hấp dẫn để người ta – dù chỉ trong một tích tắc – có thể coi đây là một câu hỏi nghiêm túc. Ngay Platon cũng từng muốn tránh thật xa các thi sĩ. Vậy chúng ta cũng hãy nên cẩn trọng trước những kẻ sĩ ít đáng tin cậy nhất này. Câu hỏi đặt ra ở đây là liệu ta có thể từ bỏ họ, liệu ta có cần đến họ ngày hôm nay, đặc biệt trong ngày hôm nay?

Nhà thơ La Mã cách đây hai nghìn năm đã không nhầm khi tự hào tuyên bố rằng với các bài tụng ca của mình đã dựng nên một tượng đài có độ bền vững hơn cả đồng. Thật vậy, các tác phẩm thi ca, những cấu trúc mong manh được chế tạo từ một thứ nguyên liệu dễ mai một nhất là lời nói, lại có thể trường tồn qua hàng thiên niên kỉ, hơn mọi thứ miếu đền và cung điện. Cũng không thể phủ nhận rằng thi ca có lúc có khả năng – cho dù không thay đổi được ngay thế giới – song có thể làm cho thế giới đó trở nên dễ chịu hơn. Vâng, nó có thể lay động con người khỏi trạng thái thờ ơ, và thậm chí có thể đánh bật nó khỏi những lối mòn tư duy cố hữu.

Thật là thừa, nếu không nói là ngớ ngẩn, khi chúng ta định tìm cách xếp thơ vào một vị trí cao hơn so với kịch hay văn xuôi. Thơ không hay hơn mà cũng chẳng sâu sắc hơn các thể loại văn chương khác. Thơ mang đặc tính khác, nó đi xa hơn. Nhà thơ không thể giấu mình, trong thơ anh ta phải đối diện với chính bản thân. Thơ là hình thức nhiều rủi ro nhất và vô liêm sỉ nhất trong mọi thể loại văn chương. Một nhà thơ – Goethe từng nói như vậy và lần này ông đã không nhầm – có tự giấu mình cũng bằng thừa, bởi “thơ tức là phản”. Nhà thơ là những kẻ khoả dục chuyên nghiệp, có khác chăng là không phải họ thi ca hoá sự loã lồ của mình, mà họ tự bóc trần bản thân trong thi ca. Chính vì vậy mà thông thường ta có thể chấp nhận một vở kịch tồi hay một cuốn tiểu thuyết trung bình hơn là một bài thơ nghèo nàn. Nhà viết kịch tìm cách kéo sự chú ý của người đọc vào nhân vật của mình, và nhà tiểu thuyết thu hút sự quan tâm của chúng ta đối với thế giới mà ông ta muốn mô tả. Còn nhà thơ ngược lại luôn luôn và trước hết chỉ hướng sự quan tâm đến chính bản thân. Thế nhưng loã thể là khiêu khích môi trường xung quanh. Tác phẩm kịch, có thể nói như vậy, là một lời mời chào và tiểu thuyết là một cuộc hẹn hò, còn thơ – đấy đã là một sự khiêu khích.

Gần đây tôi có đọc một nhận xét cho rằng nhà thơ giống như một kẻ đang bơi và hình thức chính là chiếc phao cứu hộ anh ta.(3) Hình ảnh này xem ra không được may mắn lắm. Bởi nếu vậy thì người ta cũng có thể nói rằng chiếc phao cứu của nhà vĩ cầm chính là cây đàn vi-ô-lông. Không, tác phẩm thơ không thể náu mình dưới mái nhà che chở của hình thức, bởi chính bản thân nó đã là hình thức. Và chỉ với hình thức, nó mới có lí do để tồn tại.

Mặc dù vậy người ta vẫn phải phản bác Stefan George, người từng có lần viết: “Giá trị của thi ca không được quyết định bởi nội dung (nếu vậy thì nó đã là sự thông thái, sự uyên bác), mà bởi hình thức”(4). Tôi cho rằng người ta phải tối kị việc dùng cái này để đối chọi với cái kia: Sự chia cắt thật đáng tiếc, nếu không nói là là đầy tai hại thường có trong văn chương giữa nội dung và hình thức, trở nên thừa trong thơ. Bởi hình thức – đó chính đã là nội dung của thơ. Phải chăng thế giới của chúng ta – cái vốn đem đến cho nhà tiểu thuyết, và ở một mức độ cao hơn nữa cho nhà viết kịch, những khó khăn lớn và thường là không thể nào khắc phục – lại không khước từ sự diễn đạt của thơ: Khi nhà viết kịch câm lặng và nhà tiểu thuyết dường như phải bó tay, thi sĩ chính là người mang thiên chức nói về nỗi đau của bản thân họ, nói về nỗi đau của chúng ta.

Người ta vẫn hay trách thi ca đương đại rằng nó thường quá ảm đạm, quá bi quan và thậm chí hư vô. Thế nhưng chủ nghĩa lạc quan, chủ nghĩa bi quan, chủ nghĩa hư vô – với những phạm trù như vậy ta chưa bao giờ tiếp cận nổi thi ca. Liệu Holderlin có phải là người bi quan? Heine hay Brecht là những người lạc quan chăng? Benn có phải thật sự là một kẻ hư vô? Chỉ cần đặt những câu hỏi như vậy đã đủ thấy chúng không thích hợp và tầm phào hết sức. Ngày nay chính những bài thơ ảm đạm lại hàm chứa những bước đột khẩu và đem đến cho ta những tia chớp sáng. Một cách nghịch lí, thường bóng tối chính lại là nơi khởi đầu của ánh sáng.

Nhưng có thể quy nguyên nhân cho cuộc phục hưng của thơ mà có người đã gọi một cách dè bỉu là “đợt sóng thơ” về chỗ nào? Thời đại của chúng ta càng vô vọng bao nhiêu, viễn cảnh tương lai của chúng ta càng ảm đạm bao nhiêu, thế giới vây quanh ta càng xáo động và hỗn mang bao nhiêu, nhu cầu của chúng ta lại càng lớn hơn, nhu cầu về… Ừ, nhu cầu về cái gì nhỉ? Nhu cầu được an ủi chăng? Có thể là như vậy, song thi ca sẽ không mang đến cho chúng ta sự an ủi. Cung cấp thuốc an thần và giảm đau cho dân chúng, đó không phải là nhiệm vụ của thi ca mà là của ngành dược phẩm.

Không, thơ không thể an ủi và vỗ về lòng ta. Tuy nhiên chỉ với sự hiện hữu của nó, nó đã xác nhận sự ghê tởm của ta trước cảnh hỗn mang. Hay thậm chí ta có quyền nói rằng, nó đáp ứng nhu cầu hướng đến cái trật tự của chúng ta? Chắc chắn có một điều này: Ai làm thơ, người đó kháng cự sự hỗn mang và tuỳ tiện. Làm thơ tức là lập trật tự. Trong khúc thứ tám của “Bi ca Duineser” có câu rằng: “Ta lập trật tự. Trật tự tan rã. Ta sắp xếp lại trật tự, và chính bản thân ta cùng tan rã.” Những lời này của Rilke trước hết có ý nghĩa đối với các thi sĩ.

Một khi trật tự là phương châm của thơ thì người ta chẳng nên ngạc nhiên khi thấy những người mà nhờ có họ chúng ta có được những hình ảnh riêng tư nhất, chủ quan nhất, mong manh nhất của văn chương lại cũng chính là những kẻ không hề ngần ngại phân tích và đánh giá một cách công khai các sản phẩm thi ca của những người đồng thời và đồng nghiệp. Khác với các nhà tiểu thuyết và sáng tác kịch, thi sĩ hầu như cũng luôn luôn đồng thời là nhà phê bình thơ. Và điều đó trước tiên gắn liền với ý thức sâu sắc về hình thức của họ.

Ý thức nổi bật về hình thức của các nhà thơ của chúng ta cũng giúp cho việc những lời đơn giản như “Thơ hôm nay” hàm chứa nhiều hơn là một ước vọng hay một sự bày tỏ – nó gần như đã là một thứ cương lĩnh bướng bĩnh. Thi ca vẫn thường xuyên là sự phản kháng và chống đối. Ai làm thơ, người đó nổi loại chống lại cái vô hằng. Ngay cả khi nó báo trước về sự sụp đổ, tôn thờ cái chết và ca ngợi sự suy tàn, thi ca – dù nó muốn hay không – vẫn bác bỏ sự sụp đổ, cái chết và suy tàn. Thơ là sự khẳng định cuộc sống. Vì vậy mà hôm nay vai trò của thơ ngày càng lớn: Sự thừa thắng của nó, sự thừa thắng mang vẻ sầu muộn mà khối người chưa hề để ý hoặc chỉ miễn cưỡng ghi nhận, có nguyên do sâu sắc nhất ở đây. Rõ ràng là câu trả lời của văn chương mà chúng ta đang trông đợi giữa đe doạ và hiểm nguy dường như chỉ có thể đến từ thể loại triệt để nhất của nó – thi ca.

Tuy nhiên nhà thơ chạy theo sau thời cuộc sẽ chẳng bao giờ đuổi kịp nó mà thường sẽ bị thời cuộc nghiến nát. Còn nhà thơ nhắm mắt làm ngơ trước thời đại sẽ bỏ lơi nghĩa vụ của mình. Những người kế tục của Heym và Trakl, Benn và Brecht không để mình mắc lỗi lầm nọ hay lỗi lầm kia. Có những bài thơ Đức trong những năm tháng này chỉ hướng tới những chi tiết nhỏ nhặt của thực tại mà đã nhắm vào tâm điểm của nó. Và nếu như ngày nay ở những nhà thơ rất khác nhau, trẻ cũng như già, ngày càng thấy rõ khuynh hướng tìm đến hình thức chặt chẽ hơn – hướng tới những khuôn mẫu cổ điển của thi ca, của vần khổ, hướng tới những nguyên tắc lập trật tự của thơ, thì ta đừng hiểu đấy là sự chạy trốn khỏi thời gian, mà có lẽ đấy là phản ứng trực diện và tự tin trước sự rối ren của thời đại, trước những thảm hoạ và sự ghê rợn của nó.

Cho dù người ta nhìn nhận cách nào đi nữa thì thi ca vẫn là một thực thể hai mặt. Sự cảnh báo của Platon có những cơ sở vững vàng của nó. Vâng, thể loại văn chương lâu đời nhất, mà cũng đáng ngờ và nguy hiểm nhất này đồng thời là thể loại táo bạo và triệt để nhất, nhạy cảm nhất. Tuy nhiên ở đây ta cần phải suy nghĩ, liệu không có mặt này thì mặt kia có thể tồn tại được không. Heine có lần đặt câu hỏi rằng, liệu thi ca có phải là một căn bệnh của nhân loại, “như viên ngọc thực ra chỉ là tác nhân khiến loài trai khốn khổ.”(5) Nếu Heine có lí thì thi ca hẳn là căn bệnh lạ lùng, và có thể nói là căn bệnh đẹp nhất của nhân loại. Và có lẽ chưa bao giờ chúng ta cần đến cái đẹp nhiều hơn là ngày hôm nay. Thế nhưng liệu nó chỉ đẹp thôi, hay còn hữu ích? Thường thì thi ca cũng hữu ích, hữu ích bởi vì đẹp.

MARCEL REICH-RANICKI
TRƯƠNG HỒNG QUANG dịch
(Từ nguyên bản tiếng Đức)

———————–
(1) Johann Wolfgang Goethe: “Artemis-Gedenkausgabe” (“Bản in tưởng niệm Artemis”). Tập 9, tr. 602.
(2) Johann Peter Eckermann: “Gesprche mit Goethe in den letzten Jahren seines Lebens” (“Trò chuyện với Goethe vào những năm cuối đời”), do Ernst Beutler chủ biên và giới thiệu. “Artemis-Gedenkausgabe”. Tập 24, tr. 636.
(3) Cách diễn đạt này là của Harald Hartung trong bài viết đáng chú ý “Das Gedicht und die Regel” (“Tác phẩm thơ và niêm luật”). Xem: “Merkur” 1980, Số 10.
(4) Stefan George: “Werke” (“Tác phẩm”). Tác phẩm gồm bốn tập. NXB Deutscher Taschenbuch Verlag, Mnchen 1983. Tập 2, tr. 310.
(5) Heinrich Heine, “Samtliche Schriften” (“Toàn tập tác phẩm”). Do Klaus Briegleb chủ biên. NXB Carl Hanser Verlag, Mnchen 1968 và các năm tiếp theo. Tập 3 (1971), tr. 441.

THƠ TÌNH CUỐI NĂM

thuannghia | 16 January, 2012 06:46

Muốn gọi phù du về đóng móng
Khớp nhân duyên dồn bước với thời gian
Lỡ vó kiệu không kịp ngày ướm mộng
Róc cạn nguồn vẫn lỗi nhịp quan san
       
Ừ thì Tết chẳng mai vàng đào thắm
Cũng xòe mê lúng búng bói xin xăm
Thì vẫn đó mắt em mùa thượng thượng
Bôi ngày xuân cho quẻ hạ kết nên rằm
     
Có lẽ đốt cội trầm nhen lửa bỏi
Đánh quả tù mù giữa khói quyện lam rêu
Biết đâu đó trong oi oi thời quá ngọ
Ngớ ngẩn đôi khi ngáp được gió rượi chiều
                            
Ừ thì Xuân cho tháng ngày thôi lỏng bỏng
Chút hương hoa đánh lộn tráo với đời
Như xôi hỏng khéo phủ màu gấc đỏ
Ởm ờ vui thế cuộc vậy mà trôi
                       
Em bất tận dù cho năm tháng tận
Quá giang mùa về đậu bến mắt môi
Em mãi mãi là khấc đời lận đận
Khớp phù du dồn vó mộng lên ngôi
  
Anh cứ Tết dù xôi chưa đổi quạt
Vẫn vì em tằn tiện phiến mo cau
Thì giả dụ tựa bờ vai nghiêng hát
Đợi gió qua thả áo mé chân cầu
  
Có lúc nghĩ bước chân mình chật đất
Dẫu con đường có muôn lối thênh thang
Nên dành lại dấu hài cho em đó
Rộng vết in khỏi lệch gót nhịp nhàng
 
Anh cúi xuống sau những lần hút bóng
Sẽ săm soi lần tìm chút dư hương
Hòa ký ức tô lại dòng êm ái
Vẽ lên xưa một bờ rộng thiên đường
  
Thì náo nức chứ vì sao không Tết
Gói màu trời vuông vắn bánh chưng xanh
Rồi sẽ giả gọi nhầm tên ai đó
Để bắt tay chúc năm mới an lành
 
Dù đã biết chẳng thể nào có nữa
Một mâm chung gắp kiệu muối dưa hành
Đêm trừ tịch với bóng hờ cứ nói
Này em yêu hãy cạn chén cùng anh...
 
15.01.09
15.01.12

TN

 

THƯA EM (4) - Lục Bát

thuannghia | 14 January, 2012 08:16

       
chẳng cần da diết nồng nàn
sợ chi cái lẽ hợp tan mà rầu
     
một vài bông bí nụ bầu
đôi ba tép hẹ chờ nhau gốc cà
       
sáng chầu nhài mấy đốm hoa
chiều nghiêng bông bụt hiên nhà gió rêm
          
bẹt ngồi chôm hổm bên thềm
rót tách trà mạn nhấp tên gọi mời
           
lơ phơ vén mảnh trăng rơi
nhặt êm ái rụng lượm lời tất tươm
         
phủi tay vạt áo gụ sờn
phủi câu kinh tụng phủi luôn ngày dài
         
sá gì mấy chữ "tài-tai"
sá gì "phước-mệnh" ướm cài câu đau
        
nhớm chân đạp nát bể dâu
nhếch môi mỉa cái nhụa nhàu mỹ nhân
        
khơ khơ con tạo xoay vần
rung đùi khầng khậc cười gần nhoẽn xa
      
muốn:
trăng kia đêm đến nuột nà
thích:
mây kia chẳng phải lụa là đó ư
           
sướng lên mấy câu ứ...ừ
rảo chân theo gã họ Từ lên non
     
cần thì phành phạch như Bờm
mo cau quạt hết nỗi buồn thế nhân
         
đuôi trâu cắm vách tục trần
vịt giời lùa những ái ân bay về
     
đồng trăng tỏm khúc sơn khê
gốc đa khảy nhịp đề huề nay mai
    
vụn ra cho rõ hình hài
ghép thêm cho biết mình ngoài bao nhiêu
    
ngõ trúc đậm liếp trà chiều
thấm nhấp chén nhạn ngẫm điều hiển nhiên
       
chân chiều dạo buổi chao nghiêng
bước ngày trôi dạt đến miền thong dong
        
chưa từng là hạt sương trong
cần chi ngửa lá cầm lòng màu đêm
       
nếu lần tới được nẻo em
che bưng biền lạ cài then mây vàng
        
đắng đót nguyên đắng đót tan
cho âm ba rụng trai đàn giọt thưa
       
đột nhiên đứng vụt giữa mùa
khoác miên cỏ nội dạ thưa em rằng:
        
anh từ bát ngát muôn năm
trượt bờ lá dại té đằng nhành khôn
        
giày gai vấp xước dăm buồn
phong sương áo bố gió luồn lạnh vai
       
ấu non tròn khoanh dặm dài
còn mê bú mớm trên vài núm Kinh
       
đỉnh cao hát khúc phù sinh
dòng sâu vớt nắm lục bình chưa trôi
     
đường không lượm được dấu người
gửi trên ngọn cỏ mấy lời từ ngôn
      
về đồng gom chút rạ rơm
quẹt xưa nhóm đốt cơn buồn lên xanh
           
cháy tàn mới rõ chính mình
từ nơi tro bụi lộ hình hài nguyên
    
thưa em rằng giấc khải huyền
là màu khói mộng quyện nên hình hài.
   
14.01.12
thuận nghĩa

_____

PHỤ LỤC

(Đọc thêm các bài THƯA EM khác)

THƯA EM! (1) 

 

Thưa em!
Rằng em rất đúng
Mắc mớ gì đâu mà buồn
Gần với xa cũng thế
Khi nghĩ về  nhau luôn
  
Thưa  em!
Rằng em rất đúng
Áp má kề vai
Chan chán ngày dài
Xa xa trong cách trở
Nhớ nhớ..
Tình đâu phai
  
Thưa em!
Rằng em rất đúng
Lửa nhen đâu có vĩnh hằng
Mình nghĩ về nhau thật tốt
Ấm hoài đến ngàn năm
  
Thưa em!
Rằng em rất đúng
Lời nói không mất tiền mua
Lỡ như giận nhau chuyện nọ
Nắm tay
Nháy  mắt cười trừ
  
Thưa em!
Rằng em rất đúng
Đôi khi anh như ngẩn ngơ
Đương nhiên vì môi em thắm
Nụ hôn thì đang còn chờ
 
Thưa em!
Rằng em rất đúng
Hết khuyết là đến rằm
Tháng giêng hay tháng tám
Cũng là một vầng trăng
  
Thưa em!
Rằng em rất đúng
Méo tròn gì cũng là anh
Không phải duyên thì phận
Vui vui tại bởi lòng lành
  
Thưa em!
Rằng em rất đúng
Chúng mình đâu còn xuân xanh
Nghiêng đầu nhổ cây tóc bạc
Ai nói lòng  không yên bình
 
Thưa em!
Rằng em rất đúng.

....

01.10.09
 

____________
   

THƯA EM! (2)
   

Thưa em, rằng anh đã sai
(Có nghĩa là em rất đúng)
Ừ thôi,  không mười thì chín
Chẻ gì cho một thành hai
   
Thưa em! rằng anh đã sai
Biết rồi, em nở nụ cười
Ngày mai đúng ngày phiên chợ
Tạ tình một đóa hoa tươi
    
Thưa em! Khi anh có lỗi
Bao giờ cũng thế lặng thinh
Nếu muốn cúi đầu tạ tội
Anh cũng quì rất ngon lành
   
Thưa em! rằng anh đã sai
(Vì em lúc nào cũng đúng)
Thế thì cần chi nói mãi
Cho đời thêm chuyện mông lung
   
Thưa em!  rằng anh đã sai
Chỉ xin một bữa yên bình
Câu thơ hôm nào viết dở
Há để dòng cuối trắng tinh
       
Thưa em! rằng anh đã sai
(Có nghĩa là em tối thượng)
Cầu em hải hồ độ lượng
Cho anh một phút ngọt lành
 
Thưa em! sai hết về anh
Nhường em tất tất lẽ đúng
Với anh chút thơ mỏng mảnh
Đã dư tới cõi vô cùng!

14.11.09
____________
   
THƯA EM (3)
       

Thưa em!
Là anh có nhớ
Thỉnh thoảng mới chút  quên quên
Cái ngày chúng mình gặp gỡ
Hình như anh khắc bên em
 
Thưa em!
Là anh không quên
Đôi khi chỉ không kịp nhớ
Vài hôm anh về hỏi Mẹ
Em sinh tháng mấy biết liền
 
Thưa em!
Anh không lỗi hẹn
Bởi vì gặp bạn ham vui
Vì chắc vài lời ve vuốt
Bỏ qua em sẽ mỉm cười
 
Thưa em!
Anh rất chung tình
Lỡ như ngang đường mắt liếc
Yêu em thì như em biết
Nhưng vì người ta quá xinh
 
Thưa em!
Anh rất đàng hoàng
Tuần này vẫn chưa nói dối
Cho nên trong đêm chờ đợi
Chớ nghĩ rằng anh tắt ngang
 
Thưa em!
Thôi đã muộn màng
Dẫu rằng anh như củ chuối
Cũng đừng kêu trời lại hỏi
Khi đời lỡ buớc sang ngang...
       
08.03.10


VÂNG! TRÀ ĐÃ NHÃO VÀ MÀU ĐÃ PHAi

thuannghia | 12 January, 2012 19:30

Ngày không đủ sáng đêm lại trắng
Trắng con mắt buồn dõi đêm thưa
Em không còn rộ như đào nở
Phai cả mùa xuân chớm giao mùa
    
Giờ đây đã ngấm hương trà chát
Anh gạn lại mình dưới đáy ly
Hình như nơi đó anh đã gặp
Sóng sánh môi ai rất nhu mì
       
Mùa không đủ ấm cho cơn nắng
Gió về rười rượi lay bông lau
Anh thấy rưng rưng như tay vẫy
Nghẹn đắng chân mây nhuốm bạc đầu
       
Ba bữa rồi đây qua mùa tết
Sót nụ nào không giữa gió đông
Để ngày lỡ cỡ còn níu nở
Bù một xuân phai chưa kịp hồng
    
Anh vẫn còn đây ly trà ấy
Nhấp lại môi cười của em xưa
Cho dù thấm chát mùi hương dại
Vẫn đủ lâng lâng phía em thừa
    
Vâng!
  
Là em thừa thải mà anh thiếu
Dẫu có phôi phai cũng hoa đào
Anh gom màu rụng nhen mình Tết
Nhặt những tàn rơi để xôn xao
     
Vâng!
    
Trước ngưỡng xuân tràn om lại nước
Chiêu một nhúm yêu rót chén dâng
Và nhấp hết cả nhành đông trước
Để biết hương xưa vẫn tuyệt trần
   
Vâng!
   
Thì như vẫn biết khi trà nhạt
Chẳng còn nồng nữa vị miên say
Nhưng thà cứ vậy hương mạn ấy
Dư vị nguyên sơ cũng đủ đầy
  
Vâng!
   
Và anh cứ nâng ly nhão đó
Ướm môi tài xỉu cuộc phong vân
Nhúng màu trà mạn tô mày nhé
Uống mắt em trong tẩy lụy trần....
     
12.01.12

thuận nghĩa

 

ĐIỀM BÁO LỤC BÁT (Chỉ Đơn Thuần Là Một Truyện Ngắn)

thuannghia | 11 January, 2012 11:21

Có rất nhiều cái chết được cảm nhận trước như một điềm báo. Có những hiện tượng sinh học khác lạ sẽ xẩy ra xung quanh người đang có cuộc sống bình thường. Nhưng họ sẽ từ giả cõi đời này trong một tương lai rất gần. Có thể là một cơn đột quị. Có thể là một cơn đột tử không có nguyên nhân. Hoặc chết vì một bệnh nan y, vì một tai họa thiên tai, một tai nạn giao thông, hoặc là một viên đạn, một mảnh bom hay là một sự cố rủi ro nào đó.
    
 Và đôi khi chính người đang khoẻ mạnh bình thường họ cảm nhận được trạng thái tâm lý của mình có những thay đổi bất an khác biệt, hoặc là sự trầm cảm lo lắng, sầu muộn vơ cớ. Hoặc là sự bồn chồn lo âu, não nề. Hoặc là cảm giác phiền muộn day dứt như đứng trước một cuộc chia ly....
    
 Tất cả sẽ được chính người thân của người quá cố đúc kết lại trong sự đau thương tiếc nuối. Những hiện tượng dị thường xảy ra trước lúc người xấu số về thế giới bên kia người ta thường gọi nôm na là "điềm báo".
  
 Vậy thì "điềm báo" có một cơ sở thực tế nào không? hay đó chỉ là những sự ngẫu nhiên được kết tập lại và thổi phồng lên thành một hiện tượng lạ mang tính chất huyền bí?
     
 Theo các chuyên gia người Mỹ nghiên cứu về hiện tượng chết và hiện tượng cận tử như William Green, Stefan Goldstein và Alex Moss thì: Các kết quả nghiên cứu, thực nghiệm và thống kê cho thấy, rất nhiều người đoán trước được cái chết của mình. Mà hiện tượng rõ nét nhất là thời gian ngắn ngủi trước khi cái chết bước đến, nhiều người thường trải qua một trạng thái trầm uất có thể kéo dài từ một tuần cho đến nửa năm
      
 Y học cũng cho rằng, sự sầu muộn lạ lùng này xảy đến do những thay đổi hoóc môn trong cơ thể gây ra. Đặc điểm tâm lý của hiện tượng mà bề ngoài như là sự chán nản vô cớ này là sự chuẩn bị của hệ thần kinh trung ương cho sự rời khỏi cõi đời không tránh khỏi
     
 Còn các nhà khoa học thì đã nghiên cứu vấn đề này trong phòng thí nghiệm. Cho thấy rằng trước khi chết, các tế bào của cơ thể đang sống phát ra một loạt mạnh các tia phóng xạ bất ngờ.
  
 Chính nhà vật lý học người Ba Lan, Janusz Slawinsky cũng cho rằng, luồng sóng khá mạnh này có thể chứa đựng thông tin về sinh mạng của một cơ thể sắp chết và cũng có thể bảo lưu các mẩu ý thức và ký ức.
   
Chính những loạt phóng xạ bất ngờ, luồng sóng sinh học mạnh khác thường phát sinh ra từ tế bào của người sắp chết đã phóng vào trong không gian xung quanh người chết một năng lượng khá thần bí. Những luồng năng lược sinh học này có chứa đựng các thông tinh về thể trạng, tinh thần, ý thức, ký ức, và nội hàm của người sắp chết. Nếu nguồn năng lượng phóng xạ sinh học này đủ mạnh, thì nó có thể xuyên thấu qua mọi trở ngại của vật chất và khắc in những "thông số" của nó vào không gian xung quanh của người sắp chết.
  
Những vật dụng và cảnh quan xung quanh người sắp chất sẽ như một bộ nhớ tự nhiên, khắc khi dấu ấn thông tin từ nguồn phóng xạ tế bào có lưu trữ các mẫu ý thức và ký ức của người chết.
  
 Do một điều kiện thiên nhiên nào đó, hoặc là một chấn động tương tác ngẫu nhiên, như một cú "klick" vào một nút bấm vô hình và làm hiển thị lại những thông tin do luồng phóng xạ kia đã ghi vào "bộ nhớ" của thiên nhiên từ trước. Thông tin về sinh mạng, các mẩu ý thức và ký ức của người chết được hiển thị trở lại. Có thể đó là hiện tượng "ma" hay là "vong" mà người đời thường nhắc đến, như linh hồn của người chết vẫn còn hiển diện thực sự ở đâu quanh chỗ đó.
 
 Đó cũng chính là tư liệu và nền tảng mấu chốt cho những nhà ngoại cảm thực sự, cảm nhận được thông tin từ và sự "tồn tại" của những người đã khuất, dù đã hàng chục, hay hàng trăm năm trôi qua. Sự cảm nhận này chính xác hay thiếu chính xác, thời gian đã lâu hay chưa lâu...không những phụ thuộc vào năng lực tiếp nhận sóng phóng xạ đặc biệt này của nhà ngoại cảm, mà còn phụ thuộc vào "chất lượng" của bộ nhớ thiên nhiên xung quanh cảnh quan của người đã chết, và phụ thuộc vào cả "chất lượng" của nguồn phóng xạ từ tế bào của người sắp chết phóng ra lúc đó.
       
 Còn theo niềm tin của người phương Đông, con người là một sinh vật có hai thể mạnh và yếu cấu tạo nên sự sống của họ. Thể mạnh làm nên thể xác con người. Còn thể yếu cấu thành tinh thần, vô hình, bao bọc linh hồn. Cái chết chính là sự tách biệt thể yếu khỏi thể mạnh.
    
 Thể yếu có vầng hào quang (Aura) mà chỉ những người có kinh nghiệm chẩn trị bệnh lý, có sự trải nghiệm về tâm linh hoặc năng lực ngoại cảm mới thấy được.
    
 Sự phát xạ từ hào quang này cho phép người thầy thuốc, nhà ngoại cảm, "thầy bói" có thể chẩn đoán được tình trạng sức khoẻ của một người, và do đó, cũng có thể nhìn thấy trước được cái chết. Vì vậy chẳng có gì là ngạc nhiên, khi có một người nào đó báo trước cái chết cho một người khác.
    
 Thực ra các trạng thái tâm lý và tư duy của con người mà Y học Á Đông gọi là Thất Tình (7 trạng thái tình chí: Bi, Hỷ, Nộ, Ưu, Tư, Kinh, Khủng = Buồn Chán, Mừng Vui, Giận Dữ, Lo Lắng, Nghĩ Ngợi, Lo Sợ, Khiếp Hãi) luôn có biểu hiện ra ngoài thần sắc của con người. Và nó cũng là một phần kiến cấu nên vầng hào quang (aura) bao phủ xung quanh thực thể và cuộc sống của cá thể đó.
    
 Mỗi một loại tình chí (trạng thái tâm lý và tư duy), đều có một sóng ánh sáng và màu sắc khác nhau. 7 loại tình chí đó, có màu sắc đặc thù biểu tượng như 7 màu sắc của cầu vồng kiến tạo nên lớp "Thần Khí" (Hào quang= Aura) bao quanh một cơ thể có đời sống hiện hữu.
  
 Tuy nhiên 7 loại "Thần Khí" (hào quang) đó không sắp xếp theo thứ tự như 7 màu sắc cầu vồng. Và đương nhiên cường độ ánh sáng của Thần Khí cũng không phải giống nhau. Mà quá trình sắp xếp 7 loại thần khí đó, và cường độ hiển thị của nó phụ thuộc hoàn toàn vào trạng thái tâm lý và trạng thái tư duy của từng cá thể riêng biệt.
    
 Có nghĩa là hào quang rực rỡ hay mờ nhạt. Thần khí tươi nhuận, sáng sủa hay đen tối, u uất. Đều tùy thuộc vào tình trạng cơ thể và trạng thái tâm lý của cá thể đó.
  
  Bởi vậy với một người có sự trải nghiệm trong vấn đề chẩn đoán "thần khí" trong mạch lý Y Khoa, hoặc là một nhà ngoại cảm, một nhà phân tâm học, một người hoạt động trong lĩnh vực tâm linh, và thậm chí là một người từng trải trong giao tiếp họ cũng rất dễ dàng nhận biết ra những "thông số" về thể trạng cũng như ý thức của người đối diện hay đối tác giao tiếp.
   
 Một người có tâm địa hiền lương, có đời sống an lành hạnh phúc...đều có một vầng hào quang rực rỡ, tươi nhuận, sáng sủa và rất dễ gây cảm giác gần gũi, thân thiện, an lành với người đối diện
  
 Người có tâm địa ác độc, hay đang có sự đố kỵ ghen ghét, thù hằn và giận dữ. Cho dù họ có che đậy bằng những lời nói mỹ miều, bằng những hành động có biểu hiện "từ thiện" đi nữa thì họ cũng không thể nào che khuất được cái vầng aura loạn lạc, u tối, rối rắm và bất an quanh họ được.
   
 Tôi có thể nhận biết ra tình trạng của 7 loại tình chí của người đối diện thông qua màu sắc và trạng thái vầng aura xung quanh họ. Đó là nghề của tôi, tôi đã từng học về điều đó, từng ứng dụng hiểu biết đó cho nghề nghiệp của tôi trong từng giờ, từng ngày làm việc và mưu sinh suốt cả quãng đời tôi đã sống. Đó không phải là tài năng, không phải là năng lực đặc biệt. Đó chỉ đơn thuần là một đòi hỏi bắt buộc phải có với nghề nghiệp của tôi mà thôi.
   
 Không phải tôi cố tình đem cái kinh nghiệm nghề nghiệp đó ra để phán xét. Hay nói cách khác tôi cố tình đem cái "bệnh nghề nghiệp" ấy ra để đổ vạ lên trên mối tình giữa tôi và em đang rạn vỡ.
  
 Mà thực sự tôi đã nhận ra vầng hào quang sáng lạn tươi nhuận của em trước lúc quen biết tôi đã thay đổi. Ánh sáng thần khí của các trạng thái tình chí Bi, Nộ, Ưu, Tư trong vầng aura xung quanh em đã thay đổi theo chiều hướng tăng dần cường độ. Nó đã làm mất vẻ sáng sủa tươi nhuận của vầng hào quang bao quanh cuộc sống của em trước khi em quen tôi
  
 Tôi hoàn toàn không trách em. Vâng, đó là sự thật, tôi không hề phiền trách em một tý nào. Tôi chỉ tự trách mình. Tại sao mình lại không thể làm cho vầng hào quang của trạng thái vui tươi an lành nơi em sáng sủa lên. Tại sao tôi chỉ có thể làm tăng lên cường độ thần khí của các loại tình chí Bi, Nộ, Ưu, Tư nơi vầng aura của em. Quả thật tôi là một người thất bại.
    
 Cảm giác tội lỗi này cũng đồng thời làm cho thần khí của loại tình chí Ưu, Tư, Kinh, nơi vầng aura của tôi theo đó mà hoạnh phát, tỏa ra nhiều hơn. Điều đó làm cho vầng hào quang bất an của tôi tăng lên, và vầng hào quang tự tại an nhiên nơi tôi suy giảm và tàn lụi đi nhanh chống. Tôi đã đi ngược lại với tôn chỉ của đời sống hạnh phúc của chính mình.
     
 Tình yêu trong tôi vốn tồn tại như một sinh linh, nó cũng có một sinh mệnh như sinh mệnh của chính tôi đang tồn tại giữa thế gian này.
 
 Tình Yêu của tôi đang đón nhận những điềm báo, trước ngưỡng cửa sinh tử. Có thể những luồng phóng xạ từ những "tế bào tình ái" đang phóng ra hết cỡ để lưu trữ vào đâu đó trong thế giới xung quanh tôi. Có thể "bộ nhớ" đang lưu trữ luồng phóng xạ mang thông tin của ký ức sinh mệnh tình yêu là một tiềng thở dài hoặc là một câu thơ.
   
 Tôi lại bắt đầu nghe tiếng loảng xoảng của hồn Lục Bát dội về. Ở nơi đầu câu 6 hay ở nơi cuối câu 8 nào đó, tôi thấy tôi đang dang tay vẫy, tiễn đưa một hình hài.

 

Mùa Trăng Tròn Tháng Chạp
thuận nghĩa
11.01.12

 

ĐÊM MỸ NHÂN KẾ (Lục Bát)

thuannghia | 11 January, 2012 08:41

níu trăng chèn phía đêm trằn
kéo cơn mộng huyễn che thăn thót chờ
  
em về òa kín giấc mơ
ủ anh ấm những ngày phơ phất tìm
  
tìm em từ độ lặng thinh
mút mùa mỏi mỏ chẳng hình bóng đâu
  
đến giờ tiêu muối mái đầu
me chua khế chát nhạt câu chung tình
 
mấy lần lúc chợt bồng bềnh
thấy em hiển hiện đôi lần ấy thôi
  
đến giờ da điểm đồi mồi
em tăm cá lặn em trồi trụt trăng
  
mù khơi cánh nhạn oái oăm
hoa chương lõm nhụy cành oằn lá khô
  
khuya anh bày một bệ thờ
thỉnh em lên để đốt tờ sớ yêu
 
khói nhang cho đủ ấm chiều
lỡ ngày tàn cuộc còn kêu tên người
 
một mai ngược lối về trời
có người hầu rượu ngồi chơi cờ tàn....
 
nhét trăng khỏi rỗng đêm hoang
kín khuya chờ những nồng nàn đắm say
 
mỹ nhân kế cũ anh bày
trong mơ lừa được bàn tay khát tìm
 
trở về với độ lặng thinh
gặp em lại thuở chúng mình mới quen.
 
07.01.12
tn

THẰNG ĐỢI ĐẤY (Chuyện Đời Tỵ Nạn)

thuannghia | 07 January, 2012 15:24

    
   "Tất cả các nhà triết học đều là những kẻ ngây ngô, cứ tin vào những qui luật vớ vẩn, lịch sử nhân loại có phát triển theo cái qui luật đéo nào đâu..." . Hắn nói như vậy và gật gù:
- Cứ đợi đấy mà xem.
    
  " Tất cả những dự báo về tương lai là những trò vớ vẩn, khoa học đích thực có làm ba cái chuyện đồng bóng ấy đâu..." . Hắn nhấp một ngụm trà và gật gù:
- Cứ đợi đấy mà xem
     
 "Tất cả những Nhà Thơ là những tay thảm hại, họ cứ rít tóp má như hãm hiếp điếu thuốc, và lúc nào cũng ngầy ngầy mùi rượu, rồi cứ ngỡ khói thuốc là tóc, ngỡ cái đầu lọc là môi và viết những vần thơ : - Ôi, em ơi!... Thật ra họ làm gì có em nào. Ai mà đi yêu những gã nghèo rớt mồng tơi và  lười tắm ấy..." : . Hắn lại nhấp một ngụm trà và huầy huầy cười :
- Cứ đợi đấy mà xem.
   
 Nghe hắn nói vậy, tôi giả vờ phùng mang trợn má đứng dậy hầm hầm văng tục :
- Ây, cái Thằng Đợi Đấy chết bằm kia, mày đừng có vơ đũa cả nắm nghe, tớ đâu có uống rượu, đâu có hút thuốc mà vẫn làm thơ đó thôi.
     
  Hắn vẫn điềm nhiên ngồi, một chân bẹt xuống nền thảm, một chân co lên, để tỳ cằm vào đầu gối, thong thả rót trà vào một cái tách, đẩy sang phía tôi :
- Uống đi cha, cha muốn nghe chuyện gì thì cứ nói, khỏi mất công khích tướng... thì phải rồi, ông không hút thuốc, không uống rượu, nên thơ ông chả có ma nào nó thèm đọc, và chả có thằng đếch nào gọi ông là Nhà Thơ cả. Nhà thơ mà không uống rượu, không hút thuốc thì lấy đéo đâu ra cảm hứng mà viết thơ tình nhiều đến thế.
  
Tôi hùa theo giọng lưỡi khinh bạc của hắn nói theo:  
- Thì cứ vào mạng, giả vờ nai tơ, lừa một em mắt nai nào đó, nhen một mối tình khô nai nào đó, rồi lai rai nhâm nhi cảm xúc mà viết, cứ thế, thơ phọt ra cả đụn.
- Phứa! phứa...Bởi vậy, thơ cha lãng xẹt, mới đọc thấy nhạt, đọc lại thấy bạc, đọc nữa thấy loạc choạc, đọc thêm thấy nát...
      
 Hắn bằng tuổi tôi, đi lao động ở Tiệp khắc năm 1986. Ngày bức tường Berlin mở cửa, hắn cùng mấy đứa nữa, chạy sang đây xin tỵ nạn. Hắn làm việc gì, hay nói cái gì cũng lừng khừng chậm rãi như rùa. Và lúc nào kết thúc công việc hay nói xong một câu nói cũng đệm một câu "Cứ đợi đấy mà xem", vì thế mà hắn mới mang cái biệt danh là "Thằng Đợi Đấy"
       
   Hắn không chỉ có cái tên, mà đời hắn cũng trải qua những chuỗi ngày "cứ đợi đấy" mà nên thật
      
  Người ta đâm đơn xin tỵ nạn, ai cũng cố nặn ra một vài bằng chứng bất mãn chế độ, và thậm chí còn bịa ra một vài hoàn cảnh bị chế độ cộng sản áp bức, để khai với cơ quan thẩm vấn liên bang. Có thế mới không bị trục xuất sớm về nước, rồi tranh thủ thời gian kiếm cái nhà hàng Tàu nào, xin làm việc chui, kiếm chút tiền phòng thân.   
Hắn thì khác, khi đi phỏng vấn, người ta hỏi lý do xin tỵ nạn, hắn trả lời ngon ơ , chính trị, chính triếc gì đâu, qua đây cho biết mùi tư bản, nhân tiện kiếm ít tiền xây cho Mẹ cái nhà.
   
 Phỏng vấn lý do xin tị nạn chính trị mà hắn nói vậy làm ông phiên dịch cứ há hốc mồm, nhìn hắn trân trân như người từ sao Hỏa rơi xuống
        
Trong thời gian chờ đợi quyết định trục xuất về nguyên quán, người ta lại thuê luật sư bổ sung thêm bằng chứng có hoạt động chống đối chính quyền cộng sản. Để kéo dài thủ tục kiện tụng
 
 Bằng chứng kiếm đâu ra, bố mẹ đều là Đảng Viên, anh chị, em út ở nhà đang phấn đấu trầy vi tróc vảy để vào Đảng. Vậy là các bác nhà ta mới quyền biến, nghĩ ngay ra cái trò biểu tình, học theo kiểu một số tay Việt Kiều bên Pháp và bên Mỹ, bày chuyện đấu tranh dân chủ, để kiếm chác tiền ủng hộ của những người nhẹ dạ, đỡ phải đi làm vất vả, mà vẫn có tiền về Việt nam đi karaoke ôm.
    
 Mấy bác tỵ nạn chính trị giả hiệu nhà ta ở Đức không thèm cái kiểu kiếm tiền vớ vẩn ấy, nhưng cũng căng biểu ngữ đòi đa Đảng, rồi bác nào cũng kiếm vài tấm ảnh, gửi cho luật sư làm bằng chứng trong hồ sơ tỵ nạn. Cứ bác đơn một lần, lại tương thêm cho một tấm ảnh tham gia biểu tình, tốn mấy trăm Euro tiền luật sư, lại được kéo dài thêm một thời gian nữa.
     
   Ai cũng chạy đôn chạy đáo, thậm thà thậm thụt, kiếm ảnh biểu tình. Làm sao mà chớp nhoáng chụp được ảnh, nhưng lại không bị người của Sứ Quán điểm mặt. Còn hắn thì cứ ung dung bình chân như vại, chẳng cần bổ sung bổ siếc gì cả. Hắn nói:
- Đúng là mấy thằng dở hơi, không ở thì về, mắc chi mà phải làm cái trò hề ấy, chụp cho lắm vào rồi, khi nó tống cổ về Việt Nam, lại lo sốt vó, lại chạy cửa này cửa nọ, để khỏi phải đi bóc lịch, ki cóp được mấy đồng bọ rồi cũng để đút lót cho ma nó ăn, tớ đếch thèm chơi vậy, biết đâu các bố lại về trước tớ, cứ đợi đấy mà xem.
      
 Có mấy sô ca nhạc mời ca sĩ từ Việt Nam sang hát. Sắp đến giờ trình diễn thì người ùn ùn kéo đến giăng biểu ngữ biểu tình hô hào chống Cộng.
 
 Mấy ca sĩ từ Việt Nam sang chẳng biết mô tê gì nơm nớp sợ xảy ra bạo loạn. Hắn cười huầy huầy trấn an:
- Các em đừng lo, thằng nào cũng thủ vé sẵn cả rồi, chụp ảnh đấu tranh cách mạng xong là các bố cuốn biểu ngữ, nhét vào đít xe, chui ngay vào xem ấy mà. Anh cam đoan là các bố đó sẽ là người vỗ tay cổ vũ các em mãnh liệt nhất, cứ đợi đấy mà xem.
       
 Hiệp ước hồi hương được hai chính phủ ký kết, để đưa người Việt tỵ nạn đã bị từ chối quyền lưu trú trở về cố hương.
  
 Theo nguyên tắc của luật tỵ nạn, người bị từ chối quyền lưu trú, sẽ bị cưỡng bức hồi hương. Nhưng khốn nỗi hầu như tất cả người Việt tỵ nạn thời "mở cửa" lúc khai hồ sơ đều không khai tên, và quê quán thật, nên khi chính phủ Đức lập danh sánh cưỡng bức hồi hương gửi cho chính phủ ta để kiểm chứng, thì phía ta không thể điều tra được họ là ai.
  
Phía ta trả lời, họ không phải là người Việt nam, chúng tôi không nhận. Tiền thì đã chi, mà ì ạch mấy năm chỉ đưa được vài chục người về. Chính quyền liên bang Đức lại vung tiền ra một lần nữa, để thuê người của Bộ nội vụ sang tận Đức, trực tiếp điều tra từng người tỵ nạn cụ thể.
  
 Một đơn vị đặc nhiệm có biệt hiệu là A18 được cử sang cùng hợp tác với công an bảo vệ biên giới Đức, đến từng tiểu bang một, triệu tập người có trong danh sách hồi hương đến thẩm vấn.
     
 Một số người đã chán ngấy cuộc sống vật vờ không ổn định của kiếp lưu vong, thì về hay ở không thành vấn đề nên bình thản đi thẩm vấn cho A18 xác định mình đúng là người Việt.
 
 Một số đông nữa thì đã lập gia đình có con nên được luật ngoại kiều mới bảo vệ chuyển sang dạng cư trú hợp pháp. Còn một số người độc thân và số mới sang sau này thì lại vất vả thêm lần nữa, lại phải chạy đôn chạy đáo, lo lót để cho A18 từ chối là thiếu dữ kiện xác định Quốc Tịch.
   
 Hắn cũng cứ như thuở nào vậy, chẳng thèm lo gì cho mệt hơi, pha bình trà ngồi nhấm nháp :
- Ối giời ơi, đời nó có số rồi, lo làm gì cho nó bạc tóc, thằng nào về là cứ phải về, thằng nào chưa phải về, có muốn về cũng không được. Như vợ chồng Hương, Lâm đấy, làm đơn xin hồi hương 2 năm nay rồi, mà đâu có được về, tháng nào lên nhận tiền trợ cấp chẳng khóc loạn cả sở ngoại kiều lên, mà hồ sơ vẫn chưa giải quyết được, tớ thì tớ tin ở cái số trời, biết đâu các bố lại phải về trước tớ, cứ đợi đấy mà xem.
      
  Nhiều người thấy hắn, không cần luật sư, không cần bổ sung hồ sơ tỵ nạn, vậy mà cứ nhơn nhơn không ai ngó ngàng gì tới, vẫn đi làm khai giấy tờ hẳn hoi, vẫn tự thuê nhà ở được, không cần ở nhà tỵ nạn, thế mới oai chứ. Họ ngạc nhiên hỏi hắn làm cách nào mà hay vậy? Hắn  huầy huầy nói :
- Tớ chả làm gì cả, mấy năm trước lúc gia hạn giấy phép lưu trú, thằng cha làm ở sở ngoại kiều hỏi tớ, đã đủ tiền xây nhà cho Mẹ chưa, tớ nói đã đủ, nhưng muốn kiếm thêm chút đỉnh về hùn vốn làm ăn, vậy là nó đóng dấu cái rụp gia hạn hộ chiếu, thật vậy đó, ai không tin thì cứ đợi đấy mà xem.
     
   Lần lữa hoài, rồi cái ngày luật ngoại kiều lại bổ sung luật hội nhập, ai ở Đức trên 8 năm, có công ăn việc làm, nhà ở ổn định, thì được quyền lưu trú dài hạn.  Mọi người lại nhốn nháo chạy loạn cả lên. Người xưa nay hưởng trợ cấp xã hội, đi làm chui, giờ mới thấy mình thiệt, hối hả xin đi làm chính thức. Người trước đây khai man tên họ, thì hớt hải chạy vạy ở Sứ Quán lo cái hộ chiếu thật để dán tem định cư. Hắn cái gì cũng có sẵn như chuẩn bị từ trước. Nghiễm nhiên có cái hộ chiếu có đóng dấu đại bàng (quốc hiệu của Đức). Hắn lại huầy huầy :
 - Tớ đã nói rồi mà, cứ đợi đấy mà xem.
      
  Mấy năm trước, có lần hắn tìm tôi nói:
 - Huầy, bác có toa thuốc nào, hay có huyệt nào châm cho nó tịt không, chứ ăn uống thịt cá ứ ự thế này, mùa hè ra đường thấy chúng nó ăn mặc, thật chú ý mới thấy áo quần, người nó cứ hừng hực không chịu nổi bác ạ.
   
Tôi nói với hắn :
- Thì cậu cứ như mấy thằng kia, lâu lâu ra khu đèn đỏ, vứt ra mấy chục làm một chưởng giải phóng thủ đô thế là xong chứ gì, người ta văn minh cấp môn bài hành nghề cho gái điếm, cũng chỉ nhằm mục đích cân bằng xã hội cho mấy thằng như các cậu đó thôi.
  
 Hắn gãi đầu ấm ớ nói :
 - Không phải là tớ tiếc tiền, mà vấn đề là tớ thấy nó làm sao ấy, cứ như chó mèo vậy, ghê lắm, rút ra mấy chục, hự hự một cái, kéo quần ra về, chẳng ra cái thể thống gì cả.
 Tôi nói :
-  Thuốc thì không có, châm cho tịt thì trái với nguyên tắc nghề nghiệp, nhưng tớ có một pho nội công gọi là Cố Tinh Hoán Cốt Hóa Thần, nếu luyện được, thì không những dẹp được lửa dục, mà còn biến tinh khí thành thần lực có thể bồi bổ cho gân cốt, trẻ mãi không già đấy.
 
 Hắn háo hức :
- Bác có thể truyền cái quả bí kíp ấy cho em út luyện tập được không.
  
Tôi nói :
- Đây là phương pháp khí công rất huyền nhiệm đòi hỏi phải có định lực cao, phải biết tịnh tâm và kiên nhẫn thì mới có hiệu quả, làm trái với nguyên tắc nhiếp khí, có khi không dẹp được lửa dục mà còn trở thành cuồng dâm đấy. Hắn chắc chắn :
 - Bác cứ yên tâm đi, cái khoản kiên nhẫn thì tớ có thừa, cứ đợi đấy mà xem.
     
 Mấy tháng sau hắn xách một kg trà Thái loại hảo hạng, cùng với bộ ấm chén bằng đất nung của lò gốm Bát Tràng lên tặng tôi. Tôi hỏi hắn có chuyện gì mà rình rang vậy. Hắn huầy huầy đắc chí nói :
- Cái cú bí kíp của bác vậy mà hay, bữa nay có kg trà ngon, kiếm luôn bộ ấm đất lên tạ ơn bác. Tôi hơ hớ cười :
- Trời ơi, cậu làm như tớ là người ngoài vậy, bạn bè với nhau mà cậu khách sáo thế. Hắn nghiêm mặt :
- Chuyện gì ra chuyện ấy bác ạ, cái khoản khí công này nó linh lắm, nên mình cũng phải có lễ có lạt cho nó phải đạo bác ạ, mình phụ lại gốc cội có khi nó vật mình trắng mắt ra đó bác ạ, cứ đợi đấy mà xem.
      
  Khi chưa có giấy tờ định cư, đi tìm mỏi mắt, cũng không có một em nào. Từ khi có cái hộ chiếu đóng dấu đại bàng, hắn lại đâm ra vào cầu đào hoa mới hay chứ.
  
Thôi thì em thằng bạn này, cháu người quen kia, rồi các em mới theo đường dây du lịch sang ở lại xin tỵ nạn, cứ bu lấy hắn như kiến.
  
 Chẳng phải hắn to con đẹp trai gì, nhưng được cái không rượu chè cờ bạc, làm ăn đàng hoàng, mà cái quan trọng nhất là cái tem định cư vô thời hạn của hắn. Nhiều người mồi chài hắn làm hôn thú giả với cái giá mấy chục ngàn Euro, hắn cũng không chịu. Có mấy cô tỵ nạn mới ưỡn ẹo "cho không" hắn, muốn làm gì thì làm miễn sao được dính bầu với người có giấy tờ là được, hắn cũng chẳng màng. Hắn muốn kiếm một cô vợ cho đàng hoàng, nên từ chối hết.
  
 Cuối cùng cũng vớ được một cô, trẻ hơn gần cả chục tuổi. Rước từ trong trại tỵ nạn bên Đông Đức cũ sang, lên sứ quán đăng ký kết hôn, có cưới xin đàng hoàng.
     
  Khi cô vợ trẻ sinh con, có giấy tờ ăn theo ổn định, thì bắt đầu trở chứng. Trở chứng theo cái kiểu phụ nữ Việt Nam ở nước ngoài, coi chồng con không ra gì cả. Họ cứ ỷ vào luật pháp của nước sở tại bảo vệ phụ nữ và trẻ em rất đàng hoàng để lên mặt.
 
 Văn hóa truyền thống của dân tộc bị khuất lấp, cộng với cái cách sống thực dụng của người phương Tây. Họ không còn là những người vợ dịu dàng của truyền thống Á đông nữa, mà họ đã trở thành kẻ thống trị tàn bạo trong gia đình. Họ ngược đãi cánh đàn ông một cách rất phi lý. Còn cánh đàn ông thì ngoan ngoãn cúi đầu như nô lệ, mọi phản ứng cương mãnh của phái mạnh, sẽ bị luật pháp chế tài ngay.
      
Có lần hắn đến thăm tôi, nét mặt buồn buồn, tôi hỏi vì sao, thì hắn sừng sộ như quát vào mặt tôi :
- Con bà nó, cái gì cũng tiền, tiền, nó làm như mình là cái máy in tiền vậy. Thẻ nhà băng thì nó nắm, tiền lương hàng tháng thì vào trương mục, cuối tuần chạy tắc xi cho mấy cái quán ăn, nó cũng đến xiết, được mấy đồng tiền boa nó cũng nhòm ngó. Vợ chồng mà mỗi lần muốn ngủ với nhau, không có mấy chục lót tay thì cũng khó, vậy thì có khác gì đi chơi điếm, đã thế đi làm cả ngày về mệt, còn bị càm nhàm nhức cả óc. Tôi thấy tồi tội, vuốt vai hắn an ủi :
- Phụ nữ bên này phần đông là thế, chứ phải chỉ có mình vợ cậu đâu, thôi qua sông thì phải lụy đò chứ biết làm thế nào được. Hắn vẫn cứ ưng ức trả lời :
- Cứ đợi đấy mà xem.
   
  Và cái quả "cứ đợi đấy mà xem"của hắn, lần này đã làm chấn động cả cộng đồng người  Việt ở Đức. Nhất là khơi dậy trong lòng các đấng mày râu một ngọn lửa quật cường của truyền thống con Lạc cháu Hồng.
    
 Một hôm hắn tỏ ra ân cần với vợ, rồi tỉ tê nói, anh được cơ quan khen thưởng, tặng cho cái vé đi du lịch cả gia đình về Việt nam, tuần sau chúng mình về em nhể.
  
Cô vợ trẻ thấy không phải chi ra đồng nào, mà được về phép cả gia đình, mừng còn hơn cha chết sống lại.
   
 Hôm về đến sân bay Tân Sơn Nhất, vừa ra khỏi sân bay, hắn đàng hoàng, bình thản đến bên vợ, giáng cho mấy bạt tai nẩy lửa, mặt nghiêm lại nói :
- Bố bảo cho mà biết nhé, đừng thấy bố im lặng mà tưởng bố mày sợ, bố mày không muốn dính líu đến pháp luật ở bên đó thôi, chứ không phải bố mày khiếp nhược mà không dám tẩn mày đâu, chớ có hỗn dai con ạ. Về nhà suy nghĩ kỹ đi rồi hẵng sang, không biết thì về hỏi Mẹ cô lại nhé, cái đạo làm vợ là phải như thế nào.
    
 Oánh vợ mấy bạt tai, chửi cho vợ mấy câu xong, hắn đàng hoàng quay lại sân bay, để bay trở lại Đức, vì cái vé của hắn là vé khứ hồi trong ngày.
      
   Sự kiện đưa vợ về sân bay Việt Nam để trút nỗi uất ức của hắn, trở thành một hiện tượng đặc biệt. Nó không những có tính trào lộng tức cười, mà có ý nghĩa giáo dục rất cao.
   
 Vợ hắn quay trở lại Đức, lại đâm ra dịu dàng và biết điều hơn trước rất nhiều. Mấy bà vợ đành hanh nỏ mồm khác cũng nhụt đi khí thế  ngược đãi chồng. Cái quan trọng là thức dậy trong lòng cánh đàn ông râu quặp ở bên này một chân lý không thể nào thay đổi được, là đàn ông luôn nằm trên.
     
    Hắn không những trở thành một anh hùng trong mắt của cánh đàn ông, mà còn làm giàu thêm ngôn ngữ tiếng Việt ở hải ngoại. Cái câu nói: "Mua cho nó một cái vé về Việt Nam" được thay cho câu tục ngữ: "Dạy con từ thủa còn thơ, dạy vợ từ thuở bơ vơ mới về".
  
 Mà câu tục ngữ ấy đích thực là như thế nào nhỉ, là "dạy vợ.." hay là "dạy chồng từ thủa bơ vơ mới về", xa xứ lâu quá rồi, tôi không còn nhớ chính xác nữa. Ai biết thì chỉ dùm, xin đa tạ.

  

Tháng 1 năm 2009

TN

 

BÍ ẨN CỦA PHỤ NỮ VIỆT QUA VIỆC KHÁM PHÁ "MẬT MÃ DA VINCI"

thuannghia | 06 January, 2012 08:15

Một nghệ sĩ người Mỹ vừa giải mã bí ẩn của bức tranh 500 năm tuổi Mona Lisa, sau khi phát hiện hình ảnh của những con vật ẩn trong tranh.

Anh Ron Piccirillo (37 tuổi) đã phát hiện ra đầu của một con sư tử, một con khỉ và một con trâu nằm lơ lửng trong không khí, sau khi quay ngang bức tranh để xem. Bằng cách nghiên cứu những hướng dẫn nằm trong các tài liệu của danh hoạ Leonardo da Vinci, anh cũng phát hiện một con cá sấu hoặc một con rắn xuất hiện ở tay trái của nàng Mona Lisa.

Phát hiện mới trong tranh nàng Mona Lisa, Bí ẩn lịch sử, Phi thường - kỳ quặc, bi an,bi an lich su the gioi,bi an khoa hoc,mona lisa,tin tuc

 

 

Ron Piccirillo phát hiện ra bí ẩn mới trong bức tranh Mona Lisa

Piccirillo tuyên bố phát hiện của mình đã giải mã thông điệp của bức tranh, khi cho rằng Mona Lisa thực sự là đại diện cho sự "đố kỵ". Anh nói rằng mình phát hiện ra điều này, sau khi áp dụng thủ thuật của một nghệ sĩ bằng việc đặt ngang bức tranh để có góc nhìn mới.

Đó là thời điểm anh phát hiện ra đầu của con sư tử nằm lơ lửng trong không khí, phía trên đầu nàng Mona Lisa. Theo Piccirillo, con sư tử này đồng thời đại diện cho sự "đố kỵ và dối trá".

“Sau đó tôi để ý thấy con trâu và không tin điều mình vừa nhìn thấy. Tôi nghĩ rằng đó là thứ mình đang tìm kiếm", Piccirillo nói. "Tôi mất 2 tháng tiếp theo để nghiên cứu các tài liệu của da Vinci và tình cờ phát hiện ý nghĩa đố kỵ ẩn trong bức tranh”.

“Bức tranh Mona Lisa là đại diện cho sự đố kỵ, dối trá cũng như sự ghen tuông hằn học man dại và điên loạn một cách bảo thủ, tàn độc của Phụ Nữ. Thật đáng kinh ngạc vì mọi người nghĩ rằng da Vinci không bao giờ viết về Mona Lisa nhưng giờ mọi chuyện đã sáng tỏ”, Piccirillo nói thêm.

Phát hiện mới trong tranh nàng Mona Lisa, Bí ẩn lịch sử, Phi thường - kỳ quặc, bi an,bi an lich su the gioi,bi an khoa hoc,mona lisa,tin tuc

Mặt sư tử trong tranh Mona Lisa

    

Phát hiện mới trong tranh nàng Mona Lisa, Bí ẩn lịch sử, Phi thường - kỳ quặc, bi an,bi an lich su the gioi,bi an khoa hoc,mona lisa,tin tuc

Trán khỉ

   

Phát hiện mới trong tranh nàng Mona Lisa, Bí ẩn lịch sử, Phi thường - kỳ quặc, bi an,bi an lich su the gioi,bi an khoa hoc,mona lisa,tin tuc

 

 

Đầu trâu

Một nhà nghiên cứu hội họa khác của Việt Nam, đồng thời cũng là một nhà phân tâm học, lại có ý kiến cho rằng Leonardo da Vinci đã có một thời gian sinh sống ở Việt Nam.

Nhà nghiên cứu người Việt này cho rằng những giả thuyết về người mẫu để de Vinci vẽ nên bức họa Mona Lisa mà người ta đưa ra trước đây đều  là "bố láo“ hết.

Người mẫu cho bức họa nổi tiếng về  "Dung Nhan" của Phụ Nữ này chính là một Phụ Nữ Việt Nam.

Đồng thời mật mã trong bức hoạ  mà ngày nay giới khoa học khảo cổ cho là một bí ẩn "khủng khiếp". Còn gọi là "Mật Mã De Vinci" chính là khắc họa những Câu Tục Ngữ Ca Dao Việt Nam mô tả về tính cách Phụ Nữ có nguồn gốc sinh ra từ 100 quả trứng.

Câu tục ngữ nổi tiếng của dân gian Việt Nam nhằm mô tả tính cách những nhân vật bảo thủ, ương gàn, ù lì, chai sạn, ngang bướng và "hết thuốc chữa" . Đó là câu: "Đầu trâu, trán khỉ". Mà dị bản của nó còn có những câu tương tự khác như: "Đầu cua tai nheo", "Đầu trâu mặt ngựa", "Đầu trơ trán bóng"...

Câu tục ngữ Việt Nam này đã được nhà danh họa thiên tài khắc họa một cách thật tài tình vào bức Mona Lisa. Đó là những hình ảnh "Trán khỉ" và "Đầu trâu" được vẽ một cách kín đáo và bí ẩn, qua những vệt màu bồng bềnh trong không gian quanh đầu của nàng Mona Lisa.

Mặt khác người Việt có một câu ngạn ngữ nổi tiếng để mô tả những Phụ Nữ hay ghen tuông, đố kỵ. Những "bà vợ" đành hanh nỏ mỏ, dữ như chằn tinh, luôn ức hiếp và ngược đãi chồng là hình ảnh trong câu: "Sư Tử Hà Đông".

Bởi rất am hiểu về Văn Hóa Việt, nên danh hoạ da Vinci đã khác họa hình ảnh cái mặt Sư Tử ẩn hiện bên cạnh khuôn mặt kiều diễm cùng nụ cười bất hủ của nàng Mona Lisa.

Khuôn mặt Sư Tử mờ ảo đó chính là linh hồn thực sự của sự kiều mị, đoan trang, và dịu dàng được thể thiện rõ ràng qua phần chính của bức họa.

Người ta đánh giá Leonardo de Vinci là một nhà khoa học, một triết gia, một nhà thần học, một nghệ nhân, một danh họa, một nhà điêu khác thiên tài...Ông xứng đáng là người đại diện cho một trào lưu văn hóa của Nhân Loại: Văn Hóa Phục Hưng. Nhưng rất ít ai biết rằng ông còn là Tổ sư gia của nghề "Nghiên cứu Văn hóa dân gian Việt" ...he he he...

06.01.12

thuận nghĩa

 

 

LINH HỒN BIỂN CẢ và TRÁI TIM SAN HÔ (Tư Liệu Y Khoa)

thuannghia | 03 January, 2012 05:44

Sau khi thực hiện ý tưởng "Hàng Độc" làm quà tặng cho dịp noel và năm mới. Tôi nhận được nhiều phản hồi tốt từ bạn bè, bệnh nhân và "người tiêu dùng". Tiếc rằng thời gian thực hiện những "mặt hàng" thực nghiệm quá ngắn, vì vậy không thể đáp ứng hết được "đơn đạt hàng", đặc biệt những đơn đặt hàng ở xa.

Xuất phát từ những phản hồi tốt, cũng như nhu cầu của "người tiêu dùng". Nay tôi lại tiếp tục thiết kế và chế tạo một loạt hàng trang sức "Y Tế", chất lượng cao, giá thành rẻ, đẹp, trang nhã, có ý nghĩa và dễ sử dụng, nhằm phục vụ cho loạt quà tặng nhân ngày Lễ Tình Nhân....

alt

 

____________________________

 

alt

   "TRÁI TIM SAN HÔ":

Theo nghiên cứu của các nhà khoa học về phóng xạ. San Hô đỏ dưới đáy sâu của Thái Bình Dương là loại dược, vật  liệu tự nhiên có khả năng phòng chống được phóng xạ. Tôi sử dụng một cành San Hô đỏ, tậu từ cửa hàng Trang Sức Cao Cấp, và gọt nó thành hình trái tim....

alt

..Phí sau "Trái Tim Rực Lửa" làm bằng san hô đỏ dưới đáy Đại Dương này, tôi khoan một lỗ nhỏ và gắn vào đó một hạt Nam Châm Y Tế mạ vàng 18 cara. "Trái Tim San Hô" không những giúp cho người đeo nó có khả năng chống nhiễm phóng xạ mà còn giúp họ chống được các sóng ác xạ có hại cho sức khoẻ, nhờ tần số điện từ của hạt nam châm ý tế cực mạnh và vĩnh cửu gắn đằng sau mặt san hô..."Trái Tim San Hô" rực lửa này dành cho phụ nữ, và đặc biệt thích hợp với những người có áp suất máu thấp, hoặc có bệnh về tim mạch và tinh thần suy nhược...

 

alt

"LINH HỒN BIỂN CẢ"

"Linh Hồn Biển Cả" là tên tôi đặt cho mặt đá Ngọc Bích màu Đại Dương này

alt

Mặt đá Ngọc Bích này, vẫn giữ nguyên hình dạng tự nhiên khi khai thác được, không hề phải gọt dũa hay đục đẽo gì khác. Mặt đá lồi lõm, gợn sóng như mặt của biển cả bao la. Phía sau mặt đá, có gắn 4 hạt Nam Châm Y Tế mạ vàng...

Linh Hồn Biển Cả dành cho Nam Giới, phù hợp cho những người hoạt động về trí não, công việc có áp lực thần kinh cao, đặc biệt thích hợp cho những người có tính khí nóng nảy, áp suất máu cao. Linh Hồn Biển Cả có tác dụng "hạ hỏa" và cân bằng tâm lý, xoa dịu thần kinh cho những người đeo nó.

(Miếng ngọc bích này tậu từ cửa hàng đá quí)

 

alt

Màu sắc và hình dáng bề mặt original của "Linh Hồn Biển Cả"..

alt

TRÁI TIM SAN HÔ "rực lửa" và LINH HỒN BIỂN CẢ "bao la" sẽ trở thành một "cặp bài trùng" rất có ý nghĩa, nên thơ, và diệu dụng. Hy vọng nó sẽ trở thành một thứ quà tặng "vô giá" cho những đôi tình nhân, vừa chớm, đã chớm, và kể cả sắp tàn... he he he he...

  alt

  Đây là những viên đá quí thuộc dòng "Cuội Sỏi", có đủ màu sắc và hình dạng khác nhau, thích hợp với tất cả mọi lứa tuổi, mọi thể trạng.

Tôi đã khoan và gắn chốt đeo dây bằng vàng 18 hoặc bằng bạc, (chỉ cần có người yêu cầu) , muốn viên đá nào, màu gì, và muốn gắn bao nhiêu hạt nam châm là khoan lỗ và gắn vào và gửi đi...he he he...

Loạt mặt đá dây đeo cổ này được thiết kế theo ý tưởng "Ngày Sau Sỏi Đá Cũng Cần Có Nhau"

___

Lưu ý:

- Người thiết kế và chế tạo ra những "hàng độc" này là một chuyên viên y khoa đã có nhiều năm hoạt động trong lĩnh vực y tế và bảo vệ sức khoẻ. Và cũng đã có bằng Kỹ Thuật Thiết Bị Y Tế (Medizin Technik) tốt nghiệp ở Châu Âu. Và đặc biệt là có bằng chuyên khoa, thiết kế chế tạo, hướng dẫn sử dụng những thiết bị điện từ (Nam Châm) dùng trong Y tế và Bảo vệ sức khoẻ.

alt

Viên Nam Châm Y Tế dùng trong thuật Từ Châm, được đặt chế tạo đặc biệt theo mẫu mã thiết kế của Dr.Le. Loại này đặc biệt không có thành phần Nickel (phòng cho những người có cơ địa dị ứng với loại kim lại này). Viên nam châm được mạ vàng trang sức và có khối lượng cũng như tần số điện từ mạnh hơn nhiều lần viên Nam châm châm cứu.

 

alt

 

 

Bằng tốt nghiệp chuyên khoa: Thiết kế, chế tạo và hướng dẫn vận hành, sử dụng các thiết bị kích thích điện từ (nam châm) trong trị liệu y khoa...

 

- Đây là những món quà tặng "không giống ai"  được thiết kế và chế tạo ra bằng lòng đam mê nghề nghiệp y khoa và sự khát khao sáng tạo nghệ thuật. Vì vậy nó chỉ mang tính "thỏa mãn sự đam mê", chứ không mang tính chất kinh doanh. Vì vậy ai có nhu cầu đều được gửi "bán", chỉ hi vọng được hoàn vốn, để được tiếp tục "sáng tạo" tiếp. (Nên nhớ của một đồng, công một nén. Hoàn thành những món quà này, tốn công nhiều hơn là tốn của, nhưng tôi chỉ mong người nhận chỉ cần hoàn lại vốn vật liệu mà thôi)


03.01.12

tn

 

TRƯỜNG CA VỀ EM

thuannghia | 01 January, 2012 14:18

Em:

Sẽ quen

Sẽ điên

Rồi sẽ quên.

  

01.01.12

TN

VIết Cho Người Mà Cũng Để Ngẫm Cho Ta (Khai Bút)

thuannghia | 01 January, 2012 02:45

   

Cười một phát trước đã:
    
Cứ năm hết tết đến, là cái máu Hán- Nôm trong người Đồ Gàn ta nó lại cứ rạo rực, ưng ức và hừng hực. Không làm Câu Đối chọc phá thiên hạ chơi thì viết Biền Ngẫu quậy chữ tưng bừng.

 Trong đó cái thú Chiết Tự tên bạn bè hoặc luận thời vận năm mới bằng Bát Tự Lữ Tài luôn luôn là cái thú đầy tao nhã và lý thú.
   
Năm nay cũng như mọi năm. Đồ Gàn lại muốn quậy bạn bè thân hữu thêm lần nữa.

Hồi theo sư phụ học nghệ, lúc chiết tự, thầy thường khen Đồ ta: "Mi chiết tự nỏ giống ai, dưng rứa mà hay". Hay mô nỏ biết, có nhiều phen chiết bậy chiết bạ, luận hươu luận vượn, xém mấy lần bị đục phù mỏ.
    
 Rút kinh nghiệm, năm ni dẫu có ngứa nghề cũng chỉ dám chiết tự tên người thân quen, là lại là người biết đùa, thích đùa và chân ngộ được giá trị của sự trào lộng...chỉ có loại người này mới thênh thanh cười ngạo với mình qua sự "dày vò" chữ nghĩa mà chơi cho tới bến.
   
 Đầu tiên là chọn anh Tấn Định, một người bạn đồng hương vong niên, Anh cũng là người Lệ Thủy, một tướng lĩnh quân đội, và cũng có thể nói là một nhân chứng sống cho lịch sử cận đại Việt, ngoài ra an còn là một bậc túc nho bác thông kim cổ, nhất là tiếng Nga...he he he...
   
 Khi chiết tự chữ Tấn có bộ Ngôn đứng trước, muốn tìm vài câu trong cổ thư để minh họa. Lật Tỳ Bà Hành (琵琶行) của Bạch Cư Dị (白居易) ra đọc thấy có câu:自言本是京城女, 家在盧 陵下住, phiên âm ra là: Tự ngôn bổn thị kinh thành nữ, Gia tại Hà Lô lăng hạ trụ, tạm dịch ra là: Kể rằng tôi vốn là con gái ở kinh thành, nhà ở dưới cồn Hà Lô
 
Hơ hơ đọc đến mấy chữ cuối, Lão Hũ ta cười phá lên vỗ đùi đôm đốp mà rằng: "Tiên sư cái lão Bạch Cư Dị ni, tục chi mà tục ra rứa hè, thiên hạ lâu nay cứ trầm trồ khen Tỳ Bà Hành là tuyệt tác kim cổ, mà nỏ ai biết rằng cha ni là vua nói lái, tục vô hậu: Kể rằng tôi vốn là con gái kinh thành, nhà ở dưới "cồn hà lô" ....cồn hà lô là cái chộ mô rứa hè....he he he he....
 
 Cười xong rồi chừ mần chuyện nghiêm túc. Chiết tự cái tục danh của Tấn Định coi vận hạn cái năm Thìn sắp tới của bác í ra răng
      
 Chiết Tự gồm có 4 phần. Phần Lý , phần Thuyết, phần Thực và phần Hành. Tức là Lý-Thuyết- Thực- Hành
 
Phần Lý là phần phân tích kết cấu chữ
Phần Thuyết là phần luận về ý nghĩa các sắp đặt các bộ chữ trong tên gọi
Phần Thực là phần nói về phần thực chứng của tính cách, vận hạn của người được xướng danh chiết tự
Phần Hành là phần định hướng cách xử thế cho hợp thời danh

  

Xướng Danh chiết tự: Tấn Định
Hán Tự: 訊 定
   
Phần 1: Chiết Lý chữ "Tấn":
  
CHỮ TẤN: 訊
  
Nghĩa:
Có rất nhiều nghĩa, như nghĩa về lời vấn hỏi, chỉ người trên hạch hỏi kẻ dưới, có nghĩa là tấn xuống Tấn. Thơ từ hỏi thăm, như: âm tấn  音訊  -tăm hơi. Tiêu tức, như: hoa tấn  花訊 -tin hoa nở. Tra tấn, như: tấn cúc  訊鞠 -tra xét lấy khẩu cung. Mưu lược, mách bảo v..v...
 
Tấn cũng còn có nghĩa đè ép, chèn xuống, hạ xuống: Xuống tấn, Trung bình tấn..
 
Tấn còn có nghĩa là Tiến, chuyển dịch tới phía trước: tấn công, tiến công, tinh tấn, tấn tới......
   
Chữ Tấn bao gồm hai bộ hợp lại, tức là gồm tiền Ngôn hậu Lực, bộ Ngôn đứng trước, bộ Lực đứng sau:
   
Bộ Ngôn: 言 
Phiên âm Hán Nôm: ngôn, ngân
Phiên âm Hán: yán, yàn, yín
 
Thể dụng động từ:
- Nói, tự mình nói ra gọi là ngôn 言. Đáp hay thuật ra gọi là ngữ 語. Ví dụ như: ngôn bất tận ý (言不盡意)= nói không hết ý.

- Bàn bạc, đàm luận. Sách Luận Ngữ (論語 )viết: Tấn Định dã, thủy khả dữ ngôn thi dĩ hĩ 賜 訊 定, 始可與言詩已矣 (Thuật nhi 述而) = Như anh Tấn Định vậy, mới có thể cùng đàm luận về kinh Thi (.... khẹc..khẹc...khẹc)
  
- Lời kể, trần thuật: Bạch Cư Dị (白居易): Tự ngôn bổn thị kinh thành nữ, Gia tại Hà Lô lăng hạ trụ 自言本是京城女, 家在盧 陵下住 (Tì bà hành 琵琶行) = Kể rằng tôi vốn là con gái ở kinh thành, nhà ở dưới cồn Hà Lô ( he he he..cha Bạch Cư Dị này cực tục và là vua nói lái kiểu miền Trung mà không ai biết, chỉ có Lão Hủ ta mới đọc vị ra được ...ạk...ặk...)
  
- Báo cho biết. Sử Kí 史記: Lịch Sanh sân mục án kiếm sất sứ giả viết: Tẩu! Phục nhập ngôn Bái Công 酈生瞋目案劍叱使者曰: 走!復入言沛公 (Lịch Sanh Lục Giả truyện 酈生陸賈傳) Lịch Sinh trợn mắt, cầm chặt gươm mắng sứ giả: Cút đi! Rồi trở vào báo cho Bái Công biết.
   
Thể dụng Danh Từ:
 
- Câu văn, lời nói: nhất ngôn 一言 một câu. Sách Luận Ngữ 論語 viết: Thi tam bách, nhất ngôn dĩ tế chi, viết "tư vô tà" 詩三百, 一言以蔽之, 曰思無邪 (Vi chánh 為政) Kinh Thi có ba trăm thiên, một lời đủ bao quát tất cả, là "tư tưởng thuần chính".
  
- Chữ: Ví dụ:  ngũ ngôn thi 五言詩 thơ năm chữ, thất ngôn thi 七言詩 thơ bảy chữ. SáchLuận Ngữ 論語 viết: Tử Cống vấn viết: Hữu nhất ngôn nhi khả dĩ chung thân hành chi giả hồ? Tử viết: Kì thứ hồ! Kỉ sở bất dục, vật thi ư nhân 子貢問曰: 有一言而可以終身行之者乎? 子曰: 其恕乎! 己所不欲, 勿施於人 (Vệ Linh Công 衛靈公)=  Ông Tử Cống hỏi rằng: Có một chữ nào mà có thể trọn đời mình làm theo chăng? Đức Khổng Tử đáp: Có lẽ là chữ thứ chăng? Cái gì mà mình không muốn thì đừng làm cho người khác.
 
-  Học thuyết. Mạnh Tử 孟子: Dương Chu, Mặc Địch chi ngôn doanh thiên hạ 楊朱, 墨翟之言盈天下 (Đằng Văn Công hạ 滕文公下) Học thuyết của Dương Chu, Mặc Địch tràn khắp thiên hạ.
 
Thể dụng Trợ Động Từ:
 
- Tôi, dùng làm tiếng phát lời của chính thể, ví dụ: ngôn cáo sư thị 言告師氏 (tôi) bảo với thầy. (Chú ý: Chữ ngôn 言 đặt ở đầu câu trong Thi Kinh rất nhiều, sách Nhĩ Nhã giải thích với nghĩa ngã 我 "tôi", nhưng Vương Dẫn Chi cho rằng ý nghĩa nhiều chỗ không ổn, nên không theo.
    
Ngoài ra bộ này còn có một chữ hay dùng nữa là chữ Ngân, thuộc về tính từ:
Ví dụ: Ngân ngân 言言 cung kính hòa nhã. Sách Lễ Kí (禮記): Quân tử chi ẩm tửu dã, thụ nhất tước nhi sắc tiển như dã, nhị tước nhi ngôn ngôn tư! 君子之飲酒也, 受一爵而色洒如也, 二爵而言言斯 (Ngọc tảo 玉藻). Dịch:  Bậc quân tử uống rượu, nhận một chén mà nghiêm trang như thế, hai chén mà hòa nhã, cung kính thay! (Các Bọ Quê Choa coi đó mà uống hỉ...khekhekhekhe)
       
Một vài ví dụ khi dụng chữ Ngôn:
 
1.博言學= bác ngôn học (
2. 寓言 ngụ ngôn  
3. [弁言] biện ngôn
4. [引言] dẫn ngôn
5. [惡言] ác ngôn
6. 格言] cách ngôn
7. [正言] chính ngôn
8. [狂言] cuồng ngôn
9. [甘言] cam ngôn
10. [發言人] phát ngôn nhân
11. [真言] chân ngôn
12. [真言宗] chân ngôn tông
13. [禽言] cầm ngôn
14. [箴言] châm ngôn
15. [至言] chí ngôn
16. [苟言] cẩu ngôn
17. [薄唇輕言] bạc thần khinh ngôn
18. [質言] chất ngôn
19. [贅言] chuế ngôn
20. [鄙言] bỉ ngôn
21. [亂言] loạn ngôn
22. [五言] ngũ ngôn
23. [一言] nhất ngôn
24. [七言] thất ngôn
25. [浮言] phù ngôn
26. [偽言] ngụy ngôn
27. [儳言] sàm ngôn
28. [讒言] sàm ngôn
29. [名言] danh ngôn
30. [多言] đa ngôn
31. [大言] đại ngôn
      
   
Bộ Lực: 力
Phiên âm Việt- Nôm: lực
Phiên âm Hán: lì
   
Thể dụng Danh từ: 
Trong vật lí học, hiệu năng làm thay đổi trạng thái vận động của vật thể gọi là lực, đơn vị quốc tế của lực là Newton. Ví dụ nhhư:
-  Li tâm lực 離心力 lực tác động theo chiều từ trung tâm ra ngoài.
- Địa tâm dẫn lực 地心引力 sức hút của trung tâm trái đất.
 
Sức của vật thể. Ví dụ như:
- Tí lực 臂力 sức của cánh tay, thể lực 體力 sức của cơ thể.
 
Chỉ chung tác dụng hoặc hiệu năng của sự vật: Như: hỏa lực 火力, phong lực 風力, thủy lực 水力.
 
Chì về Tài năng, khả năng: Như: trí lực 智力 tài trí, thật lực 實力 khả năng sức mạnh có thật, lí giải lực 理解力 khả năng giải thích, phân giải, lượng lực nhi vi 量力而為 liệu theo khả năng mà làm.
 
Quyền thế: Như quyền lực 權力.
(Danh) Người làm đầy tớ cho người khác.

Danh từ riêng:  Họ Lực, tên là Lực.....

Trợ động từ:  Hết sức, hết mình:
- Lực cầu tiết kiệm (力求節儉) hết sức tiết kiệm.
- Lực tranh thượng du (力爭上游 ) hết mình cầu tiến, cố gắng vươn lên.
 
Một số ví dụ khác của thể dụng chữ Lực:
 
1. [不力] bất lực (Cái này hỏi lão Hồng Chương ..he he he...)
2. [主力] chủ lực (Cái này nói về vai trò của Bọ Lập ở Quê Choa)
3. [兵力] binh lực (Hỏi lão Sao Hồng í..)
4. [力量] lực lượng (Thuộc về Cún Nguyên Con)
5. [功力] công lực  (Đích thị Đồ Gàn hơ hơ hơ)
6. [努力] nỗ lực  (Sự cần thiết cho thi pháp của Cỏ May, Mạc Mạc, Lệ Hằng...)
7. [壓力] áp lực (Là chuyện thường xảy ra cho phái Thiền Chuối)
8. [年富力强] niên phú lực cường (Trần Thành Nho)
9. [引力] dẫn lực (Dân Choa)
10. [愛力] ái lực (Em Xinh)
11. [暗力] ám lực (Hổng dám nói là ai)
12. [暴力] bạo lực (Ts Sơn Trường)
13. [極力] cực lực (Nụ Cười)
14. [畢力] tất lực (Mùa Đông Hà Nội)
15. [筆力] bút lực (Nguyễn Quang Lập)
16. [筋力] cân lực (Cá Gỗ)
17. [能力] năng lực (Mai Vũ)
18. [薄力] bạc lực
19. [隱力] ẩn lực (Đồ Trọc)
20. [動力] động lực (Thuận Bài)
21. [內力] nội lực  (Mục Đồng)
22. [出力] xuất lực (Tấn Lộc)
23. [同心協力] đồng tâm hiệp lực (Quê Choa FC)
24. [勇力] dũng lực (Mèo Hen he he he)
25. [吸力] hấp lực (Thành Chung)
26. [協力] hiệp lực (Quê Choa FC)
27. [合力] hợp lực
28. [勍力] kình lực (Lẫu cá he he he)
29. [勞力] lao lực (Phạm Hồng Trường...làm việc nhiều quá..)
30. [力田] lực điền (....)
31. [力行] lực hành
32. [力士] lực sĩ
33. [原動力] nguyên động lực
34. [勢力] thế lực
35. [助力] trợ lực
36. [學力] học lực
37. [不可抗力] bất khả kháng lực
38. [握力] ác lực 

    Phần chiết Lý chữ Định
  
Chữ Định : 定
   
Nghĩa:
- định, xếp đặt yên ổn, không bị lay động nữa gọi là định.
- dẹp cho yên, như: an bang định quốc  安邦定國 -yên định nhà nước, hôn định thần tỉnh  昏定晨省 -tối xếp đặt cho yên chỗ, sớm thăm hỏi yên không, nghĩa là tối thì dọn dẹp màn giường chăn chiếu cho cha mẹ được yên giấc, sáng thì thăm hỏi xem có được mạnh không.
- định liệu, như: thẩm định  審定 -xét rõ mọi lẽ rồi định liệu sự làm.
-  định hẳn, như: định nghĩa  定義 -định nghĩa cứ thế là đúng.
- hợp định, hai bên hiệp ước với nhau gọi là định, như: thương định  商定 -bàn định, trai gái làm lễ kết hôn cũng gọi là văn định  文定 , hạ định  下定 .v.v.
- tĩnh, nhà Phật có phép tu khiến cho tâm thần yên định không vọng động được, gọi là định, tức phép ta quen gọi là nhập định  入定 vậy.
 
Chữ Định gồm có 3 bộ ghép lại mà thành đó là chữ Nhân (人), chữ Miên (宀) và chữ Hạ (下)
 
1) Chữ Nhân: 人
Phiên âm Hán: rén
Ý nghĩa của thể dụng chính : Người, là giống khôn nhất trong loài động vật. Như nam nhân 男人: người nam, nữ nhân 女人: người nữ, nhân loại 人類 loài người.
 
Chỉ người khác, đối lại với mình. Như "tha nhân" 他人= người khác. "Vô nhân ngã chi kiến" (無人我之見)= không có phân biệt mình với người.
(Thấu được nghĩa này, trong đạo Phật cho là bực tu được "nhân không" 人空. Sách Luận Ngữ 論語 viết: "Kỉ sở bất dục, vật thi ư nhân" 己所不欲, 勿施於人 (Nhan Uyên 顏淵) = Cái gì mà mình không muốn thì đừng làm cho người khác.
  
Chỉ về cá nhân của mỗi người. Ví dụ:" nhân tận giai tri" 人盡皆知 = ai nấy đều biết cả, "Nhân thủ nhất sách" 人手一冊 = mỗi người một cuốn sách.
 
Chỉ về loại người, hạng người (theo một phương diện nào đó: nghề nghiệp, nguồn gốc, hoàn cảnh, thân phận, v.v.).Ví dụ: "quân nhân" 軍人 = người lính. "Chủ trì nhân" 主持人=  người chủ trì. "Giới thiệu nhân" 介紹人 người giới thiệu. "Bắc Kinh nhân" 北京人=  người Bắc Kinh
 
Chỉ tính tình, phẩm cách con người. Vương An Thạch (王安石): "Nhi độc kì văn, tắc kì nhân khả tri" 而讀其文, 則其人可知 (Tế Âu Dương Văn Trung Công văn 祭歐陽文忠公文) = Mà đọc văn của người đó thì biết được tính cách của con người đó.
 
Chỉ về nhân danh là  Họ Nhân hay tên Nhân chẳng hạn...


2) Chữ Miên: 宀
Âm Hán: mián miên
Ý nghĩa là sự bao trùm, che đậy, thăm thẳm kín mít mịt mù. Ví dụ như miên man, miên dại...
 
3) Chữ Hạ:下
 
Ý nghĩa là dưới, đối lại với chữ thượng là trên, cái gì ở dưới đều gọi là hạ.
 Bề dưới, phía dưới, lời nói nhún nhường với người trên, như "hạ tình" 下情  = tình kẻ dưới. "Hạ hoài"  下懷 = tấm lòng kẻ dưới.
 
 
Phần 2:  Chiết Thuyết
 
Cụ Mèo Hen xưng Danh là:  thượng Tấn(訊) , hạ Định (定)  = Tấn Định (訊 定)
Thượng Danh gồm hai chữ ghép lại là chữ Ngôn(言 ) và chữ Lực (力) . Hạ Danh gồm ba chữ ghép lại là chữ Nhân (人) , chữ Miên (宀)  và chữ Hạ (下 )
 
Nếu chiết (chẻ, tách ra) tự (chữ) ra mà đọc theo thứ tự sẽ có câu:
Ngôn lực nhân miên hạ (言 力 人 宀 下) đọc đảo theo Hán Tự là : Hạ Miên Nhân Lực Ngôn.
 
Trong 5 bộ thủ cấu thành nên chữ Tấn Định thì 4 bộ thủ, Ngôn Lực Nhân Hạ (言 力 人 下 ) có thể sử đụng thành một từ độc lập và khá thường dùng. Riêng bộ Miên thì rất ít khi được sử dụng độc lập, mà thường được ghép với các bộ thủ khác để cấu thành những từ có ý nghĩa khác nhau. Ví dụ:  [宂] nhũng . [宄] quỹ . [它] tha, đà . [宁] trữ, ninh . [安] an, yên . [守] thủ, thú . [宅] trạch . [宇] vũ. [宕] đãng . [定] định . [宝] bảo . [宓] mật, phục . [宜] nghi . [官] quan . [宠] sủng . [宗] tông . [审] thẩm . [实] thật, thực 11. [宙] trụ 12. [宛] uyển, uyên .....Và dù để kiến tạo nên bất kỳ chữ nào, bộ thủ Miên luôn luôn đóng vai trò như một cái nắp đậy từ trên xuống.  Tuân Uất có nói: Miên dị thiên tự. Tức là chữ Miên thuộc về chữ trời
 
Vì vậy trong câu chiết tự cho chữ Tấn Định là "Ngôn Lực Nhân Miên Hạ" còn có thể đọc là : "ngôn lực tấn, nhân định thiên hạ". Hiểu là: "buông sức mạnh của lời nói xuống là có thể định được thiên hạ". Khiếp chưa! đó chẳng phải là cái trí, cái chí, cái khí, cái lực.. của bậc trí huệ, người thuyết khách, của danh nhân, của đấng minh triết đó ư!
 
Phần 3 Chiết Thực
 
Tiếc thay, Quí thay...! miên miên mạt thời, hưu hưu giả thế, kiến tùy tri mệnh, tấn bất tiên tấn, tấn ư hạ tấn, ngôn lực bất tòng tâm giả, tấn hạ qui hồi định ngã, tri kỷ định ngã, vô nhân ngã chi kiến, kỷ sở bất dục chi kiến, vật thi ư nhân chi kiến định ngã, vãn ngã chi hồi định tấn, tấn ngã vãn hồi chi định, niên niên hà lạc, thế thế hải an chi tự, qui tự,  nhất tự miên.
 
Phần 4 Chiết Hành:
Ngôn lực tấn nhất tự: Miên
Tri nhân định nhất tự: Miên
Kiến thời định nhất tự: Miên
Bình gia định nhất tự: Miên
Thế thái nhân tình tấn Tịnh
Niên niên nguyệt nguyệt ư Nhiên
 
Cứ hạ bút viết hai chữ Tịnh Nhiên (靜 然 ) mà treo lên diện tiền, ngẫm ngẫm cho ngộ được chữ miên miên (宀 宀 ) ắt sẽ đắc đạo .....ha ha ha ha ha...
 
Ví dụ: Nên nhớ chữ "nhiên" () ngoài nghĩa như nhiên, tự nhiên ra còn có nghĩa là đốt (cháy). Đốt cháy đi cái yên tĩnh mà vẫn cứ như nhiên chả phải là Tiếu Ngạo đó ư.
 
Hoặc giả, "tịnh mạc ư Đoài" mà "nhiên" tất qui Hỏa. Bởi vậy cứ "tấn" về hướng Tây, hướng Nam ắt "định" được đại cuộc....
 
Ví dụ vậy....
   
31.12.11
Đồ gàn TN khai bút

TÂY TIÊU KÝ (Văn Thành Nhân Hý Truyện)

thuannghia | 31 December, 2011 06:07

Sau khi bị thách dịch một thơ chữ Hán. Mình dịch ra và mần cái entry dưới đây:  

TRÁCH OAN MỸ NHÂN

Có người gửi cho ngu hạ một bài thơ chữ Hán, và cố ý thách bình dịch bài này:

alt
 
Quả thật ngu hạ chưa được đọc bài này bao giờ. Nhưng có một điều, ngu hạ dám chắc chắn đây không phải là bút tích của một bậc quái kiệt của Thi Đàn cổ.
 
Bởi vì bài thơ không có gì lạ, chỉ dùng điển tích nổi tiếng trong lịch sử. Là điển tích Việt Vương Câu Tiễn của nước Việt cổ, dùng Mỹ Nhân Kế của Phạm Lãi, Văn Chủng, đưa Thi Di Quang có hiệu là Tây Thi, được người đời ca tụng là Trầm Ngư (trầm ngư, lạc nhạn: sắc đẹp làm chim sa cá lặn) và 2000 mỹ nhân sang biên giới làm lũng đoạn vua Phù Sai để tiêu diệt nước Ngô
  
 Dùng điển tích này để diễn tả cái cơ trời thịnh suy là lẽ thường tình. Và qua đó làm sáng ý một châm ngôn "Đắc Nhân Tâm" của người xưa: "Tiên trách kỷ, hậu trách nhân". (Trước tiên hãy trách mình, sau đó hẵng trách người khác). Với một văn phong chẳng có gì là tuệ bác.

 Đó là chưa nói trong một bài tứ tuyệt mà ý và chữ trùng lặp quá nhiều (Chữ Quốc trùng đến 3 lần: Quốc Gia, Ngô Quốc và Việt Quốc, tên Tây Thi nhắc đến hai lần)
 
Thực ra cả bài thơ chỉ có một ý với một câu nói thật đơn giản đã có thể lột tả hết rồi, cần gì phải có hẳn một bài tứ tuyệt cho tốn giấy mực: "Gia đạo sang- hèn, Quốc Gia hưng- vong cũng tùy theo thời thế thịnh suy của thế cuộc. Đừng nên đổ lỗi cho ai hết"
   
Phiên âm
:
Gia Quốc hưng vong tự hữu thì
Ngô nhân hà khổ oán Tây Thi
Tây Thi nhược tán khuynh Ngô Quốc
Việt Quốc vong lai hựu thị thùy
  
Dịch nghĩa:
Đất nước thịnh suy tùy thuộc vào thời thế
Cớ sao người nước Ngô lại cứ trách oán Tây Thi mãi vậy
Nếu Tây Thi làm khuynh bại nước Ngô
Vậy thì khi nước Việt mất thì hỏi đổ tội cho ai đây
 
Dịch thơ:
Nước nhà tùy thời tự thịnh suy
Dân Ngô sao oán mãi Tây Thi
Đổ tại Di Quang Ngô thất thế
Việt phải lưu vong hỏi đâu vì
 
Thời thế của một Quốc Gia, một dòng họ, một đời người, một mối bang giao....đều có lúc thịnh lúc suy. Đó là qui luật của sự hiện hữu. Có sinh ắt có diệt, có thành ắt có bại. Sinh, Thành, Trưởng, Hoại, Không- Vượng, Tướng, Hưu, Tù, Tuyệt...những qui luật nghiệt ngã ấy, vạn vật hữu hình làm sao mà tránh khỏi được. Cớ sao trách cứ người, trách cứ đời không mãi mãi viên thành và toại ý cho mình chứ
  
 "Tiên trách kỷ, hậu trách nhân", chao ôi cái lẽ đơn giản để đạt được sự quân bình trong đời sống ấy, thử hỏi trên đời nay mấy ai thấu ngộ được chăng
 
Nếu cái lẽ ấy, người đời vượt qua được bản ngả của mình mà làm theo thì làm gì có chuyện vợ đốt chồng, chồng chém vợ, mẹ giết con, con thù cha...làm gì có chuyện bạn bè đâm thọc lưng nhau, đồng hội đồng thuyền hủy hoại nhau, gia đình ly tán, hôn nhân tan vỡ, tình yêu bẽ bàng.... Làm gì có chuyện quốc gia này thôn tính quốc gia kia.....
 
...Và thế nhân cũng chẳng nảy nòi ra cái thứ cho mình là kẽ sĩ, để ngoác mồm ra phỉ nhổ thế thời.

 Chao ôi! đã thử hỏi mình làm gì được cho Quốc Gia hay chưa mà đòi hỏi Quốc Gia phải vì mình....
 
Xin cứ hãy tự trách mình trước, sau hãy trách đến thế nhân.

_______ 

  

Khi đăng bài này lên Quê Choa FC, liền bị một anh bạn tên là Văn Thành Nhân, hiện cư ngụ ở Hà Nội viết comment "hạch hỏi": Sao hai chữ " Tây" lại viết khác nhau thế lão Đồ. Giải thích hộ cái nhé.
     

   Anh Văn Thành Nhân là một thành viên cộm cán của Quê Choa FC. Người này tính rất trào lộng. Có một thời đăng ảnh một người con gái ngồi thiền khỏa thân làm Avata của mình. Anh này hay cùng mấy người bạn đồng niên thường ra bãi giữa Sông Hồng tắm FKK (tắm truồng), và thư giãn. Vì vậy bạn bè thường gọi đùa anh ta là Lão Chuối, hoặc là lão Thiền Chuối 

 Nhân chuyện anh Văn Thành Nhân hạch hỏi tại sao chữ Tây trong bài thơ trên lại có cách viết khác nhau, mình nổi hứng viết nên thiên Tây Tiêu Ký này. Vừa để trả lời cho họ Văn, vừa cười nhạo đời chơi...he he he he....

  

TÂY TIÊU KÝ ( hay còn gọi là Văn Thành Nhân Hý Truyện)
   
Chuyện kể rằng, năm ấy có người họ Văn (文), húy là Nhân (人) tự là Thành (成). Sử củ chép là Văn Thành Nhân (文 成 人). Nhà họ Văn ở phố Tây (粞 ) trong thành Thăng Long (昇龍). Phố Tây (粞 ) tọa lạc bên cạnh hồ TÂY (西). Tây Hồ (西湖) là một hồ rộng có phong cảnh tuyệt vời nằm về hướng TÂY (兌) thành Thăng Long.
  
 Tục truyền Tây Hồ, ngày xưa là một nhánh sông Nhị Hà chảy qua Hà Nội nối với dòng Tô Lịch, sau này do đất đai dịch chuyển, phố xá mọc lên san sát, dân cư về tụ hội, phường hội đua nhau xây nhà lập ấp mà lấn lấp mất một nhánh của Nhị Hà. Dòng Nhị Hà chảy qua cửa TÂY (粞) thành Thăng Long bị cắt đoạn mà cô lập thành một cái đầm nước sâu rộng mênh mông đầy bí hiểm, tục gọi là Tây Đàm(茜 潭).
 
 Một thời gian sau, quanh Tây Đàm (茜 潭) dân cư cũng dần dần khai hóa trở thành một khu cư ngụ sầm uất. Vì vậy mà Tây Đàm trở thành một cảnh đẹp như tiên động Bồng Lai ở chốn Hạ Giới. Vì cảnh đẹp Tây Hồ như chốn bồng lai, nên các vị tiên nữ trên Thượng giới thường hạ phàm xuống đó vãn cảnh và thăm thú nhân gian.
 
Truyền thuyết kể lại rằng, có một tiên nữ thân cận với Bà Trời TÂY Vương Mẫu (  王 母), thường hay hạ phàm xuống Tây Hồ du ngoạn hạ giới. Tiên nữ này thường hiện hình làm một cô chủ quán nước, và thường hay đưa ra câu đối và thơ họa trêu chọc kẻ sĩ thập phương đến du ngoạn Tây Hồ.
 
 Dân gian mến mộ sắc danh gọi tiên nữ này là Tây Tử ( 子). Người đời sau lập đền miếu thờ phụng tục gọi là Bà Chúa Mẫu. Đền miếu thờ Tây Tử ( 子) được xây ở phía Tây (兌) của Tây Hồ (西湖) tọa lạc hướng cửa Tây (硒) thuộc Tây Thành (粞 城) Thăng Long. Đền thờ này còn thường gọi là TÂY Hồ Phủ ( 湖 俯 ). Đền này nay thuộc làng Yên Phụ quận Tây Hồ.
 
Lại nói đến người họ Văn tự là Thành Nhân (文 成 人), trước là tín đồ của phái Ngân Hồ Đạo ( 銀 壶 道) (Kịch nghệ Điện Ảnh). Sau này gặp được cao tăng Thiền Tông truyền cho mấy chiêu phá công án mà giác ngộ, rồi từ đó đúc kết tinh hoa mà mình đắc đạo được, tự lập ra một tông phái Thiền lừng danh kim cổ. Phái thiền do họ Văn lập ra gọi là phái Tiêu Thiền (  禪) có nghĩa là Thiền Chuối.
  
Từ ngày họ Văn lập nên phái Thiền Chuối, và trở thành vị Sơ Tổ của phái Thiền này. Người đời quên luôn tên họ của ông ta, mà quen gọi ông là Tiêu Tử ( 子).
 
Tổ đường của phái Thiền Chuối tác hạ ở bãi giữa Sông Hồng, nên vì vậy ngài Tiêu Tử còn được thiên hạ vinh danh là Tiêu Trung Ngạn (中 岸 ) tức là Chuối Bãi Giữa.
   
Giang hồ đồng đạo thân hữu của Tiêu Trung Ngạn cũng tức là Tiêu Tử họ Văn lúc bang giao đàm đạo gọi ông một cách thân mật là Tiêu Lão Gia ( 老 茄 ) có nghĩa là Lão Già Chuối hoặc là "Bác Chuối".
  
Anh hùng hảo hán khắp các lộ anh hùng từ Nam ra Bắc, từ Hải Phòng lên Cao Bằng, từ Điện Biên xuống Thái Bình...nhiều người nghe danh xưng không biết nguồn cội cứ tưởng Tiêu Tử ( 子) là họ Tiêu (销) nên lúc tao ngộ lại gọi là Tiêu Đại Hiệp.
 
 Có nhiều người tưởng ông mở tiêu cục hộ tống hàng hóa nên lại gọi ông là người Bảo Tiêu (保標 )
  
Lại có kẻ không biết đến danh phận lẫy lừng của Tiêu Tử vang chấn khắp hắc bạch lưỡng đạo, cứ tưởng Tiêu Trung Ngạn là một tiêu bản (标本= góc ngọn) của một giống thực vật lạ nào đó ở bãi giữa Sông Hồng. Lại có người tưởng ông là một trọc phú Tiêu Tiền (花费) như nước, hoặc là một người đỉnh đỉnh có Tiêu Chí (高標 ) khác người. Và đôi khi có người lại ngộ nhận ông là một ngọn cờ đầu Tiêu Xí (標幟 ) chỉ dẫn về một cái gì đó. Và thậm chí có người lại đinh ninh rằng ông là đại biểu Quốc Hội phụ trách về việc Đầu Tiêu (投標 = bỏ phiếu bầu).
 
Có một vài tay giang hồ lại cứ ngỡ ông là một cao thủ phóng phi Tiêu (鏢) nên mỗi khi tao ngộ đều rất dè dặt sợ ông còn hơn sợ Tiểu Lý Phi Đao nữa
  
Nói tóm lại dân lục lâm thảo khấu, anh hùng các lộ cứ một chữ Tiêu mà luận ra thiên thung bang nai danh tiếng của ông. Ví dụ như: tiêu bản, tiêu cực, tiêu diệt, tiêu điểm, tiêu điều, tiêu hủy, tiêu khiển, tiêu sầu, tiêu tan, tiêu thụ, tiêu thủy, tiêu vong, tiêu giá, tiêu đề, tiêu tiền, phi tiêu, tiêu sọ, tiêu tùng, tiêu dao, tiêu sáo, mục tiêu... vân..và vân. Và đương nhiên là họ cứ mấy chục chữ TIÊU sau đây mà gán ghép vào cái tên Tiêu Lão Gia của ông mà luận anh hùng:  標   膘   标   銷   销   宵  杓   消   逍   椒   簫   箫  焦   硝   礁   霄   蕉   蕭  萧   蛸   摽   瀟   潇   鑣  镳   髟   綃   绡   搜   捎  僬   屑   梢   潚   熛   麃 
肖   鏢   瘭   魈   镖   臕  縿   鐎   柝   蠨   鞘   票  鷦   鹪   哨   俏   飆   譙  翛   鯊   嘯   啸   憔   飙  谯   瞧   僄   猋   峭   噍  醮   溧   歗   瀞   䁃   飇  箾   穮   萷   蟏   蟭   䔥  嘨   䶰   儦   㴅   㴋   㶾  㲵   㸈   捜   嶕   帩   焲  瀌   烋   燋   爂   焇   潐 
(Tất cả gần 100 các chữ Hán trên đều có cách phát âm tiếng Việt giống nhau là Tiêu, nhưng nghĩa thì khá nhau)
 
Gần một trăm chữ Tiêu ấy làm cho anh hùng hảo hán hắc bạch lưỡng đạo không biết Tiêu Trung Ngạn ( 中 岸 = Chuối Bãi Giữa) là nhân vật bí hiểm như thế nào. Bởi rất ít người biết rằng chữ Tiêu trong tên hiệu Tiêu Tử chính là chữ chuối (荎). Là cây chuối, quả chuối, và cũng là ý chỉ Thiền của một tông phái Thiền đặc biệt do họ Văn sáng lập ra ở bãi giữa sông Hồng.
   
Lại nói, có một mạt sĩ họ Lê, tự là Đồ Gàn, danh chấn giới đứng phố ngồi hè, là chưởng môn của phái "Nhạt Lá Đá Ống Bơ", được hảo hán bốn phương tấn phong là Đồ Nổ vì có biệt tài nổ long trời lở đất, nổ banh thiên địa.
 
 Đồ Gan hay Đồ Nổ tự vỗ ngực xưng danh mình là người:  "trên thì thông địa phủ, dưới thì thông thiên đường, giữa thì thông kính thưa các loại lỗ....". Ngạo thị giang hồ đồng đạo, coi trời bằng đuôi lông mày người đẹp, xem đất như núm vú nạ dòng. Ngao du tứ hải đó đây thấy bóng không thấy hình, thấy gái như mèo thấy mỡ ..he he he...
  
Đồ Gàn tự xưng mình là tay C...ờ Thủ bất khả chiến bại, khắp chốn lục lâm đến phố thị không tìm ra địch thủ.
  
 Ngày nọ, Đồ Gàn nghe tin ở bãi giữa Sông Hồng có Tiêu Trung Ngạn hiệu là Tiêu Tử cũng là một tay Cờ Thủ lừng danh, đang mai danh ẩn tích trong động Thiền Chuối. Đồ Gàn cơn đùm gạo bới đến thành Tràng An. Lang thang ở Tây Hồ một thời gian thăm dò tin tức của Cờ Thủ họ Văn.
 
 Sau nhiều lần bắn tin khiêu chiến mở trận "cờ ơ cơ huyền cờ" để tranh cao thấp, bá chủ thiên hạ. Nhưng Tiêu Tử vẫn án binh bất động. Đồ Gàn tức mình đến gần Phủ Tây Hồ trên đường Thanh Niên, cắm một cái phướn đề chữ khiêu chiến là: "chấp cả thành Trường An một con pháo".
  
 Anh hùng hào kiệt thành Trường An tức mình đua nhau đến tỉ thí. Nhưng không ai là đối thủ có thể cầm cự với Đồ Gàn được một vài chiêu.
  
 Tin báo khẩn cấp dồn dập đổ về thiền đường của bãi giữa Sông Hồng. Rất nhiều đồ đệ của Tiêu Trung Ngạn hối thúc sư phụ ra ứng chiến. Tiêu Tử bình thản hất chuối đung đưa mỉm cười nói, giết gà cần gì dao mổ trâu, để ta cử một con hầu, chuyên quét dọn lau chùi dưới bếp ra đánh cho lão Đồ Nổ một trận cho lão này biết thế nào là lễ độ của dân Tràng An.
 
 Nói là làm, Tiêu Trung Ngạn gọi con hầu đang rửa bát dưới bếp lên, ghé vào tai thì thầm "cứ thế...cứ thế..."
  
 Con Osin của Tiêu Tử nghe lời dặn, diện một cái váy lửng rất thời trang đến đường Thanh Niên. Rồi ngang nhiên cầm cây phướn tuyên chiến của Đồ Gàn vứt xuống đất, tay quệt mũi, xí lên một tiếng, sau đó ngồi bệt xuống bên bàn cờ thách đấu của Đồ Gàn, tay cầm con tượng ghểnh lên một nước
  
 Đồ Gàn biết là gặp được tay kỳ phùng địch thủ, nên háo hức ra quân.

 Nhưng khốn nổi, Đồ ta chưa kịp đưa con tốt nào qua hà, mà tay thì vươn mẹ nó tuốt qua cả bàn cờ đúng ngay sau chỗ chiếu tướng rồi.
 
Trận này lớ quớ bị "chiếu bí"  Đồ Gàn bại trận một cách thảm hại.

Mang danh là cao thủ, mà thua một con Osin. Đồ Gàn muối mặt nhục nhã, cúp đuôi lủi thủi chuồn khỏi thành Tràng An.
 
 Ra khỏi thành Trường An, Đồ Gàn ngửa mặt lên trời than "Còn bà nó, ta chưa từng thua ai, chưa thua cái gì trên thế gian này, đời ta chỉ thua mỗi cái chỗ dưới váy thôi".
 
 Kể từ dạo đó, Đồ Gàn đéo dám bén mảng đến thành Tràng An nữa. Tội lỗi..tội lỗi....!

29.12.11

TN

NGÀY LỄ THỨ 2 MÙA GIÁNG SINH (chuyện đời)

thuannghia | 29 December, 2011 21:02

Tôi biết anh ta đang ở vùng nào, và đang làm gì. Chỉ là tôi không liên lạc với anh ta mà thôi. Hay nói đúng hơn là anh ta không muốn liên lạc với tôi.
      
Năm xưa, anh đến kể cho tôi nghe chuyện động trời ấy, và từ giả tôi. Tôi hỏi, làm sao liên lạc được với anh. Anh ta nói, liên lạc làm gì, ông thuộc thế giới khác, tớ thuộc thế giới khác, quen biết, liên lạc chỉ tổ làm phiền ông thôi. Nói xong là đi, hun hút như mất tích.
        
 Nói là biết anh ta ở đâu, là chỉ biết mang máng là anh ta đang ở vùng nào trên nước Đức này thôi. Có nghĩa là anh ta không ở Hung, không ở Tiệp, không ở Hà Lan và cũng chưa về Việt Nam.
      
 Cũng như biết anh ta làm gì, có nghĩa là biết anh ta không còn dính dáng gì đến thế giới ngầm nữa. Anh ta thực sự là người làm ăn lương thiện. Vậy thôi.
     
Cũng coi như đã tròn 6 năm rồi. 6 năm đó tôi hoàn toàn bặt tin anh, chỉ duy nhất gặp lại anh có một lần. Mà lần đó anh chủ động gặp tôi. Xuất hiện, rồi lại biến mất không tăm hơi.
    
 Hồi đó tôi đang phụ trách Viện Châm Cứu Trung Y (Institut für Traditionelle Chinesische Akupunktur). Viện bị đụng chuyện liên quan đến chức năng nghề nghiệp và bị sở Tài Chính mò đến. Vụ kiện tụng kéo dài, Viện bị cái án treo phạt tiền "lậu thuế" đến gần mấy trăm ngàn Euro. Viện không phải của tôi, theo nguyên tắc tôi chỉ là người làm công, là người chịu trách nhiệm về chuyên môn. Nhưng khi Viện bị đụng chuyện, tổn thất của tôi không nhỏ, và còn bị cuốn vào dòng xoáy của pháp đình cực kỳ rắc rối và khó chịu. Có những lúc, còn bị tạm thời cấm hành nghề, hoặc cấm xuất ngoại để chờ điều tra.
     
 Trong giai đoạn khốn khó đó, vì với phương châm sống: "Chỉ có thiên hạ phải nhờ cậy ta, chứ ta không cần phải nhờ cậy thiên hạ". Cho nên dù gặp tình cảnh điêu đứng, tôi vẫn kín tiếng không muốn thổ lộ và chả cần ai để chia sẻ. Đúng lúc đó thì anh ta tìm đến hỏi, ông có cần tớ giúp gì không?. Tôi hỏi lại, anh thì giúp tôi được cái gì, chả nhẽ anh trả nợ mấy trăm ngàn cho tôi chắc. Anh nói, nếu vì thế mà ông thoát tai kiếp này thì tớ cũng có thể giúp được chứ sao. Tôi biết anh nói thật lòng và biết anh có bản lĩnh đó, nên cũng nói thật. Chuyện này chả liên quan đến tôi, chẳng qua là một trò chơi khăm nhau mà thôi. Một viện châm cứu cổ truyền Trung Hoa, mà do một thằng người Việt cầm đầu, cùng một bọn mắt xanh mũi lõ làm việc. Không bị bọn maphia Khựa nó chơi chết là phước rồi. Ông chủ tôi cũng chẳng phải tay vừa, cứ để ông lo.
    
Anh nghe tôi nói vậy, gật đầu và lặn một mạch từ dạo ấy đến giờ không sủi tăm.
   
Thực ra tôi cũng chẳng quan tâm đến anh ta lắm. Anh chỉ là một người đồng hương. Quen biết từ hồi năm 1997, khi tôi sang Cottbut làm chủ hôn cho đứa học trò người Huế ở bên ấy.
     
 Trong đám cưới của thằng học trò có dính dáng đến bang đảng thuốc lá lậu này, khách mời có rất nhiều bang phái khác nhau. Đám cưới mà khách mời toàn bận áo da, đeo kính đen và tay người nào cũng luôn luôn thọc vào nách. Tôi nhát chết nói với lão Ba Đen Phan Ngọc Gia Kiệm, lúc đó cũng theo tôi sang giúp thằng học trò của tôi quay phim nhiếp ảnh đám cưới rằng: "Đù má! liệu có sống sót ra khỏi đám cưới này không mày". Thằng học trò nghe lỏm được cười khì khì, Thầy cứ yên tâm, để em nhờ một người theo bảo vệ Thầy. Người đó là chính là anh ta.
    
 Mãi đến năm 2004, khi tôi về Hamburg, tình cờ gặp anh. Anh nói đang đi tìm việc làm. Tôi tin ngay, vì biết rằng cái thời băng đảng thuốc lá "đẫm máu" đã trôi về dĩ vãng. Những anh tài của thời ấy bây giờ đã rút khỏi giang hồ và lui về làm ăn lương thiện.
   
 Hỏi anh muốn làm gì, anh nói làm gì cũng được. Tôi giới thiệu anh cho một quán ăn đang thiếu người phụ bếp.
    
 Cho đến đêm 26 rạng ngày 27 tháng 12 năm 2005. Anh bất chợt đến gõ cửa nhà tôi, lấy chiếc valy mà anh đang gửi ở nhà tôi trước đó và từ biệt tôi ra đi.
  
Hỏi anh. Anh mới kể sơ chuyện xảy ra trong đêm ngày lễ thứ hai mùa Giáng Sinh.
   
Đêm đó, quán vừa hết khách, đang sắp sửa đóng cửa, thì có một nhóm 3 người Việt Nam bước vào. Họ nhanh chống khống chế toàn bộ người làm trong quán bằng dao và súng ngắn. Tất cả đều bị trói giật khuỷu và bắt dồn vào một góc quán. Gã cầm đầu nhóm cướp ngắn gọn, "oan có đầu nợ có chủ", tất cả mọi người không liên quan, ai   ngồi đâu, ngồi yên đó, loạng quạng kêu la là mất mạng đấy.
    
 Chủ quán bị dí súng vào đầu và hỏi số tiền nợ 11 ngàn Euro,  mặt đờ đẫn mất cả hồn vía, đái són ra cả quần, lắp bắp nói không ra tiếng hầu như đã cấm khẩu. Gã cầm súng gằn lên, có nợ thì phải trả, chúng tôi cũng là người đi đòi thuê thôi, bây giờ tiền hay là mạng sống. Chủ quán mềm rủn, xuội người xuống gần như chết ngất.
   
Một gã khác quay sang người vợ chủ quán, là một thiếu phụ đang còn tuổi xuân sắc, nham nhở nói bằng một giọng Bắc ngọng: "Lói nàm đéo gì cho ló mệt, pằng một cái là xong, nhưng để tớ hưởng thụ cái của rời ơi lày trước đã". Nói xong gã thọc tay vào lưng quần người thiếu phụ đang rui rẩy tái xanh tái xám...
    
...Cạch..cạch...rầm rầm..ứ hự...chỉ trong một thoáng chốc chỉ mấy giây đồng hồ. Tất cả mọi người đang hiện diện trong quán đều ngỡ ngàng, không biết tại sao, anh đang bị trói giật cánh khuỷu ngồi thu lu úp mặt vào góc tường, tự nhiên lại trở thành người khống chế lại cả 3 người của nhóm cướp.
   
 Gã chủ quán tưởng như được hồi sinh chạy đến định nhấc điện thoại. Bốp! anh giáng cho lão một bạt tai nói, ông dính dáng đến nợ nần giang hồ, phải thanh toán bằng luật giang hồ, chứ luật pháp chả giúp gì được đâu.
  
 Anh bình tỉnh, tước hết vũ khí và trói gô cả 3 gã cướp lại, rồi hất hàm hỏi, thằng này nợ của ai, tao thay mặt nó giải quyết được không. Gã cướp trưởng nhóm lắc đầu nói, chắc không được đâu, bọn em chỉ là người được thuê thanh toán vụ chạy làng này thôi chứ không biết nhiều.
   
 Anh quay lại hỏi chủ quán, mày nợ hay cướp hàng của ai vậy. Gã chủ quán ấp úng nói một tên người và thanh minh là số thuốc lá ấy bị bắt, chứ không cố tình cướp hàng.
   
 Anh nhấc điện thoại, bấm máy gọi. Thì thầm một lúc rồi anh đưa máy cho gã trưởng nhóm cướp nghe. Trong lúc gã cướp đang nghe điện thoại, anh bảo vợ gã chủ quán xuống tầng hầm, móc cái gói tiền của anh giấu dưới gầm tủ đá lên.
 
Vợ chủ quán răm rắp làm theo. Anh bảo vợ chủ quán đếm tiền đủ 12 ngàn Euro đưa cho gã cướp kia, còn bao nhiêu đưa lại cho anh. Anh nói với mấy gã cướp. Mọi chuyện coi như giải quyết, anh tặng mấy chú 1 ngàn, coi như tiền nước, nể anh mà bỏ qua vụ này, khẩu súng và mấy con dao, mấy chú nhận lại sau hỉ.
  
 Khi mấy gã giang hồ đâm thuê chém mướn đi khỏi, anh quay lại nói với vợ chồng chủ quán: "Có nợ thì phải trả, lúc mất hàng chú mày bỏ trốn, chúng không nói gì, nhưng lúc chú mày ăn ra làm nên, thì tìm cách mà trả nợ cho người ta, chúng đã nhắc, chú mày không những không thèm trả mà còn có vẻ thách thức, hôm nay, mục đích của chúng là lấy lại tiền và lấy luôn mạng chú mày đấy. Đó là luật giang hồ. Bây giờ mọi chuyện đã giải quyết, sẽ không còn chuyện gì xảy ra, nhưng số tiền cứu mạng gia đình chú mày, anh sẽ quay lại lấy, cứ chuẩn bị cho đủ số, và anh sẽ quay lại lấy vào đúng ngày lễ thứ hai mùa Giáng Sinh, nhưng chưa biết khi nào.."
   
 Anh kể sơ cho tôi nghe tình tiết câu chuyện như vậy, rồi bảo sẽ rời gấp Hamburg, đi chỗ khác mai danh ẩn tích làm ăn. Tôi hỏi vậy lúc nào thì quay lại lấy tiền. Anh nói, chưa biết, nhưng cứ để cái án treo đó lên đầu thằng kia, nó phát tấu lắm, lúc nào cũng ra vẻ ta đây, nó nói đã từng là cựu chiến binh bộ đội đặc biệt tinh nhuệ đã kinh qua hai chiến trường Tây Nam và phía Bắc, đã từng là anh chị của giới Giang Hồ trên Berlin, và suốt ngày chỉ thích dạy dỗ người khác về chữ tín và luôn luôn muốn thể hiện phong cách của người hùng từng trải.
    
 Thực ra kể cũng tội nghiệp cho gia đình lão chủ quán kia thật. Mùa Giáng Sinh trong mấy ngày lễ, vốn là mùa gặt hái của nhà hàng. Người ta thường đóng cửa vào ngày 24, vì ngày đó rất ít người đi ăn quán, bởi đó là ngày của gia đình. Còn ngày 25 và ngày 26 là ngày mà hầu như các quán đều đã được đặt bàn kín mít. Riêng quán của lão này lại mở cửa vào ngày 24, để ngồi ngáp ruồi. Còn ngày 26 thì đóng cửa im ỉm, chỉ có mấy người thân trong gia đình tụ tập lại nấu món cổ truyền ăn. Họ đóng cửa quán, nhưng năm nào cũng tụ tập ở đó để chờ người đến đòi nợ.
  
 Vì tôi là người giới thiệu anh ta, đến làm việc cho quán này. Ban đầu họ tưởng tôi quen thân anh, biết anh ở đâu nên năm nào đến tối 26 cũng khẩn khoản mời tôi đến ăn uống ở nhà họ. Nhưng sau nghe tôi nói, chỉ tình cờ gặp anh đi tìm việc rồi giới thiệu đến chứ không biết rõ về anh. Họ không hỏi tôi về anh nữa.
    
Tuy vậy, theo thói quen, cứ đến ngày lễ thứ hai mùa Giáng Sinh họ vẫn mời tôi đến.
    
Đã nhiều lần tôi định nói với họ về tính khí của anh, để cho họ yên tâm, đừng bị "treo án" vào ngày lễ thứ hai mùa Giáng Sinh nữa.
 
 Tội nghiệp nhất là vợ tay chủ quán, năm nào cũng vậy, vào ngày này là cứ đeo cái túi xách tay kè kè bên vai, và suốt ngày cứ thấp thỏm nhìn ra ngoài của quán. Tôi định nói nhưng rồi lại thôi, vì trong những dịp này, lão chủ quán lại thao thao bất tuyệt bằng giọng Hà Nội nhà quê, về sự tích kỳ tài của một tay võ nghệ nhà nghề là chính lão. Thậm chí cái câu chuyện xảy ra trong quán lão năm xưa, lão lại biến tấu thành chuyện anh hùng của chính lão, để bảo vệ luật chơi và chữ tín nghĩa trong cuộc sống giang hồ. Thấy ghét, nên tôi cũng không thèm nói nữa.
     
 Nhưng có nói cũng chẳng biết nói sao đây. Vì dạo đó anh đến tìm tôi, tôi có hỏi về chuyện nợ tiền này. Anh cười nói: " Thật ra tớ chẳng có ý định đòi lại số tiền ấy đâu, coi như quà tặng, đền ân đáp nghĩa cho chị ấy vậy". Tôi hỏi là chuyện gì nữa đây. Anh nói: "Ngày mới đến quán làm việc, gã chồng nói tớ có giấy tờ không sạch sẻ, nên chỉ để tớ phụ việc quét dọn, cắt rau cỏ ngoài giờ, còn trong giờ làm việc, tớ không được bén mảng đến quán, mà phải đi rãi tờ quảng cáo, hôm tớ bị cảm lạnh nặng, lão chồng vẫn bắt tớ đi rãi tờ menü, chị vợ can ngăn mãi, lão mới cho phép tớ ở nhà, hơn thế, tối ấy chị ta còn mua thuốc cảm và nấu cháo giải nhiệt cho tớ ăn nữa, tớ rất cảm kích sự chu đáo và hiền dịu của chị ta, thì cứ coi số tiền ấy là số tiền đã mua lấy một cảm giác dịu dàng đi vậy."
     
Chả nhẽ tôi lại nói điều đó với vợ chồng gã chủ quán này. Chúng nhất định sẽ chẳng hiểu gì cả, thậm chí sẽ nói anh ta điên và tôi cũng điên nốt. Chả ai có thể tin nổi chuyện này đâu, trừ phi là những người luôn thèm khát và biết được cái giá của sự dịu dàng đôn hậu nó đáng quí ra sao như tôi.
      
Thôi thì kệ vậy, cứ để cho cái án "đòi nợ" treo lơ lửng trong ngày lễ thứ hai mùa Giáng Sinh trên đầu gia đình ấy vậy. Rồi một khi nào đó, họ tự ngộ ra thế nào là ân tình đúng nghĩa, thì cái "dây thòng lộng" ấy tự động hóa giải mà thôi.
     
29.12.11
tn

1 2 3 ... 66 67 68  Sau»
Powered by vnWeblogs - Accessible and Valid XHTML 1.0 Strict and CSS